Tính chất, công thức hóa học của Vàng

Câu trả lời cụ thể cho câu hỏi “Tính chất và công thức hóa học của vàng” với những kiến ​​thức tham khảo về vàng. Là tài liệu Hóa học 12 hay và hữu ích.

1. Vàng là gì?

– Vàng là một nguyên tố hóa học có ký hiệu Au (lấy từ hai chữ cái đầu của từ la tinh aurum, có tức là vàng) và số nguyên tử 79, một trong những nguyên tố quý nên nó trở thành nguyên tố quý. một trong những nguyên tố có số nguyên tử cao tồn tại trong tự nhiên. Ở dạng tinh khiết, nó là một kim loại sáng, màu vàng đỏ, đặc, mềm, dễ uốn và dễ uốn. Về mặt hóa học, vàng là kim loại chuyển tiếp và là nguyên tố nhóm 11. Nó là một trong những nguyên tố hóa học ít phản ứng nhất và là chất rắn ở điều kiện tiêu chuẩn. Vàng thường xuất hiện như một nguyên tố tự nhiên (bản địa), như cốm hoặc ngũ cốc, trong đá, trong mạch đất và trầm tích phù sa. Nó tồn tại trong một loạt các dung dịch rắn với nguyên tố là bạc thuần chất (như electrum) và cũng tạo thành hợp kim tự nhiên với đồng và paladi. Ít phổ quát hơn, nó xuất hiện trong các khoáng vật như hợp chất vàng, thường là với Tellu (vàng Tellide).

Vàng có khả năng chống lại hồ hết các axit, mặc dù nó được hòa tan trong nước cường toan, một hỗn hợp của axit nitric và hydrochloric, để tạo thành anion tetrachloroaurate hòa tan. Vàng ko hòa tan trong axit nitric, nhưng có khả năng hòa tan bạc và kim loại cơ bản, một đặc tính từ lâu đã được sử dụng để tinh luyện vàng và xác nhận sự hiện diện của nó trong các vật kim loại. vào thuật ngữ thử nghiệm axit. Vàng cũng hòa tan trong dung dịch kiềm của xyanua, được sử dụng trong khai thác mỏ và mạ điện. Vàng tan trong thủy ngân, tạo thành hỗn hống, nhưng đây ko phải là một phản ứng hóa học.

– Một nguyên tố tương đối hiếm, vàng là một kim loại quý đã được sử dụng làm chất phản xạ neutron trong vũ khí hạt nhân (w71), và để đúc tiền xu, đồ trang sức và các tác phẩm nghệ thuật khác trong suốt lịch sử được ghi lại. lại. Trước đây, bản vị vàng thường được thực hiện như một chính sách tiền tệ, nhưng tiền vàng ko còn được coi là tiền tệ lưu hành vào những năm 1930, và bản vị vàng toàn cầu được thay thế bằng hệ thống tiền fiat sau năm 1971.

2. Tính chất vật lý và nhận mặt vàng

* Tính chất vật lý:

Vàng là một kim loại mềm, màu vàng, dễ uốn. Vàng có khả năng dẫn điện và dẫn nhiệt tốt, chỉ thua kém bạc và đồng.


Vàng có khối lượng riêng là 19,3g / cm3tan chảy lúc 1063C.

* Biết:

– Dùng hỗn hợp nước cường toan, màu vàng tan dần

Au + HNO3 (đặc) + 4HCl (đặc) → H[AuCl4] + KHÔNG + 2H2O

3. Tính chất hóa học của vàng

Vàng là kim loại quý có tính khử rất yếu (E0Au3+ / Au = + 1,50V). Nó tạo thành nhiều hợp chất. Số oxi hóa của vàng trong các hợp chất của nó thay đổi từ −1 tới +5, nhưng Au (I) và Au (III) là phổ quát nhất.

Vàng ko bị oxi hóa trong ko khí ở mọi nhiệt độ và ko tan trong axit. Ngay cả HNO3 nhưng vàng bị hòa tan trong một số trường hợp sau:

+ Nước cường toan (hỗn hợp 1 thể tích HNO.)3 và 3 thể tích HCl đặc).

Au + HNO3 (đặc) + 4HCl (đặc) → H[AuCl4] + KHÔNG + 2H2O

+ Dung dịch muối xianua của các kim loại kiềm như NaCN tạo thành các ion phức [Au(CN)2].

4Au + 8NaCN (đậm đặc) + O2 + BẠN BÈ2O → 4Na[Au(CN)2] + 4NaOH

+ Thủy ngân, vì nó tạo thành hỗn hợp với Au (chất rắn, màu trắng). Đun nóng hỗn hống, thủy ngân bay hơi để lại màu vàng.

4. Trạng thái tự nhiên của vàng

Vàng được tìm thấy trong quặng được tạo ra từ đá với các phần rất nhỏ hoặc rất nhỏ của vàng. Quặng vàng này thường được tìm thấy cùng với các khoáng vật thạch anh hoặc sunfua như Fool’s Gold, là một loại pyrit. Chúng được gọi là “tàu” trầm tích. Vàng tự nhiên cũng tồn tại ở dạng các mảnh, hạt hoặc quặng vàng lớn tự do đã bị xói mòn khỏi đá và kết thúc trong các trầm tích phù sa (được gọi là trầm tích cát vàng). Những chất vàng tự do đó luôn có nhiều hơn ở bề mặt của các đường vân có vàng do quá trình oxy hóa của các khoáng vật kèm theo quá trình phong hóa, và sự rửa trôi của bụi vào sông suối, nơi tích tụ lại và có thể bị tác động của nước liên kết với nhau tạo thành vàng. thợ mỏ.

5. Sẵn sàng vàng

– Để điều chế vàng ta dùng phương pháp thuỷ luyện để điều chế vàng thuần chất có Zn:

+ Để luyện vàng có lẫn trong đá ta có thể hòa tan các khoáng vật có chứa vàng vào dung dịch NaCN sẽ được dung dịch muối phức của vàng.

+ 4Au + 8NaCN + O2 + 2 NHÀ Ở2O → 4Na[Au(CN)2] + 4NaOH.

+ Tiếp theo ta dùng kim loại Zn để khử ion Au+.

+ Zn + 2Na[Au(CN)2] → Na2[Zn(CN)4]+ 2Au.

+ Qua cách này ta có thể thu được vàng thuần chất có lẫn trong đá.

6. Các ứng dụng của vàng

Vàng được ứng dụng rộng rãi trong việc sử dụng và trao đổi tiền tệ, đầu tư, chế tạo đồ trang sức, thiết bị y tế, thực phẩm, đồ uống, ứng dụng trong ngành công nghiệp điện tử, v.v.

Tính chất, công thức hóa học của vàng (ảnh 2)

Vàng được sử dụng trong buillon và trong đồ trang sức, thủy tinh và điện tử. Đồ trang sức tiêu thụ khoảng 75% tổng số vàng được sản xuất. Vàng làm đồ trang sức có thể được hỗ trợ với nhiều màu sắc không giống nhau tùy thuộc vào kim loại được hợp kim (trắng, đỏ, xanh lam, xanh lá cây, v.v.). Kim loại này xuất hiện tự nhiên dưới dạng quặng hoặc hạt vàng trong đá và trong trầm tích phù sa tự nhiên và cũng là một trong những kim loại thuộc nhóm bạc hà. Vàng keo được thêm vào thủy tinh để tạo màu đỏ hoặc tím, và vàng kim loại được sử dụng như một lớp màng mỏng trên cửa sổ của các tòa nhà lớn để phản xạ sức nóng của tia nắng mặt trời. Mạ vàng được sử dụng trong ngành công nghiệp điện tử để bảo vệ các thành phần đồng của chúng và cải thiện khả năng hàn của chúng.

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 12, Hóa 12

Hình Ảnh về: Tính chất, công thức hóa học của Vàng

Video về: Tính chất, công thức hóa học của Vàng

Wiki về Tính chất, công thức hóa học của Vàng

Tính chất, công thức hóa học của Vàng -

Câu trả lời cụ thể cho câu hỏi "Tính chất và công thức hóa học của vàng" với những kiến ​​thức tham khảo về vàng. Là tài liệu Hóa học 12 hay và hữu ích.

1. Vàng là gì?

- Vàng là một nguyên tố hóa học có ký hiệu Au (lấy từ hai chữ cái đầu của từ la tinh aurum, có tức là vàng) và số nguyên tử 79, một trong những nguyên tố quý nên nó trở thành nguyên tố quý. một trong những nguyên tố có số nguyên tử cao tồn tại trong tự nhiên. Ở dạng tinh khiết, nó là một kim loại sáng, màu vàng đỏ, đặc, mềm, dễ uốn và dễ uốn. Về mặt hóa học, vàng là kim loại chuyển tiếp và là nguyên tố nhóm 11. Nó là một trong những nguyên tố hóa học ít phản ứng nhất và là chất rắn ở điều kiện tiêu chuẩn. Vàng thường xuất hiện như một nguyên tố tự nhiên (bản địa), như cốm hoặc ngũ cốc, trong đá, trong mạch đất và trầm tích phù sa. Nó tồn tại trong một loạt các dung dịch rắn với nguyên tố là bạc thuần chất (như electrum) và cũng tạo thành hợp kim tự nhiên với đồng và paladi. Ít phổ quát hơn, nó xuất hiện trong các khoáng vật như hợp chất vàng, thường là với Tellu (vàng Tellide).

Vàng có khả năng chống lại hồ hết các axit, mặc dù nó được hòa tan trong nước cường toan, một hỗn hợp của axit nitric và hydrochloric, để tạo thành anion tetrachloroaurate hòa tan. Vàng ko hòa tan trong axit nitric, nhưng có khả năng hòa tan bạc và kim loại cơ bản, một đặc tính từ lâu đã được sử dụng để tinh luyện vàng và xác nhận sự hiện diện của nó trong các vật kim loại. vào thuật ngữ thử nghiệm axit. Vàng cũng hòa tan trong dung dịch kiềm của xyanua, được sử dụng trong khai thác mỏ và mạ điện. Vàng tan trong thủy ngân, tạo thành hỗn hống, nhưng đây ko phải là một phản ứng hóa học.

- Một nguyên tố tương đối hiếm, vàng là một kim loại quý đã được sử dụng làm chất phản xạ neutron trong vũ khí hạt nhân (w71), và để đúc tiền xu, đồ trang sức và các tác phẩm nghệ thuật khác trong suốt lịch sử được ghi lại. lại. Trước đây, bản vị vàng thường được thực hiện như một chính sách tiền tệ, nhưng tiền vàng ko còn được coi là tiền tệ lưu hành vào những năm 1930, và bản vị vàng toàn cầu được thay thế bằng hệ thống tiền fiat sau năm 1971.

2. Tính chất vật lý và nhận mặt vàng

* Tính chất vật lý:

Vàng là một kim loại mềm, màu vàng, dễ uốn. Vàng có khả năng dẫn điện và dẫn nhiệt tốt, chỉ thua kém bạc và đồng.


Vàng có khối lượng riêng là 19,3g / cm3tan chảy lúc 1063C.

* Biết:

- Dùng hỗn hợp nước cường toan, màu vàng tan dần

Au + HNO3 (đặc) + 4HCl (đặc) → H[AuCl4] + KHÔNG + 2H2O

3. Tính chất hóa học của vàng

Vàng là kim loại quý có tính khử rất yếu (E0Au3+ / Au = + 1,50V). Nó tạo thành nhiều hợp chất. Số oxi hóa của vàng trong các hợp chất của nó thay đổi từ −1 tới +5, nhưng Au (I) và Au (III) là phổ quát nhất.

Vàng ko bị oxi hóa trong ko khí ở mọi nhiệt độ và ko tan trong axit. Ngay cả HNO3 nhưng vàng bị hòa tan trong một số trường hợp sau:

+ Nước cường toan (hỗn hợp 1 thể tích HNO.)3 và 3 thể tích HCl đặc).

Au + HNO3 (đặc) + 4HCl (đặc) → H[AuCl4] + KHÔNG + 2H2O

+ Dung dịch muối xianua của các kim loại kiềm như NaCN tạo thành các ion phức [Au(CN)2]-.

4Au + 8NaCN (đậm đặc) + O2 + BẠN BÈ2O → 4Na[Au(CN)2] + 4NaOH

+ Thủy ngân, vì nó tạo thành hỗn hợp với Au (chất rắn, màu trắng). Đun nóng hỗn hống, thủy ngân bay hơi để lại màu vàng.

4. Trạng thái tự nhiên của vàng

Vàng được tìm thấy trong quặng được tạo ra từ đá với các phần rất nhỏ hoặc rất nhỏ của vàng. Quặng vàng này thường được tìm thấy cùng với các khoáng vật thạch anh hoặc sunfua như Fool's Gold, là một loại pyrit. Chúng được gọi là “tàu” trầm tích. Vàng tự nhiên cũng tồn tại ở dạng các mảnh, hạt hoặc quặng vàng lớn tự do đã bị xói mòn khỏi đá và kết thúc trong các trầm tích phù sa (được gọi là trầm tích cát vàng). Những chất vàng tự do đó luôn có nhiều hơn ở bề mặt của các đường vân có vàng do quá trình oxy hóa của các khoáng vật kèm theo quá trình phong hóa, và sự rửa trôi của bụi vào sông suối, nơi tích tụ lại và có thể bị tác động của nước liên kết với nhau tạo thành vàng. thợ mỏ.

5. Sẵn sàng vàng

- Để điều chế vàng ta dùng phương pháp thuỷ luyện để điều chế vàng thuần chất có Zn:

+ Để luyện vàng có lẫn trong đá ta có thể hòa tan các khoáng vật có chứa vàng vào dung dịch NaCN sẽ được dung dịch muối phức của vàng.

+ 4Au + 8NaCN + O2 + 2 NHÀ Ở2O → 4Na[Au(CN)2] + 4NaOH.

+ Tiếp theo ta dùng kim loại Zn để khử ion Au+.

+ Zn + 2Na[Au(CN)2] → Na2[Zn(CN)4]+ 2Au.

+ Qua cách này ta có thể thu được vàng thuần chất có lẫn trong đá.

6. Các ứng dụng của vàng

Vàng được ứng dụng rộng rãi trong việc sử dụng và trao đổi tiền tệ, đầu tư, chế tạo đồ trang sức, thiết bị y tế, thực phẩm, đồ uống, ứng dụng trong ngành công nghiệp điện tử, v.v.

Tính chất, công thức hóa học của vàng (ảnh 2)

Vàng được sử dụng trong buillon và trong đồ trang sức, thủy tinh và điện tử. Đồ trang sức tiêu thụ khoảng 75% tổng số vàng được sản xuất. Vàng làm đồ trang sức có thể được hỗ trợ với nhiều màu sắc không giống nhau tùy thuộc vào kim loại được hợp kim (trắng, đỏ, xanh lam, xanh lá cây, v.v.). Kim loại này xuất hiện tự nhiên dưới dạng quặng hoặc hạt vàng trong đá và trong trầm tích phù sa tự nhiên và cũng là một trong những kim loại thuộc nhóm bạc hà. Vàng keo được thêm vào thủy tinh để tạo màu đỏ hoặc tím, và vàng kim loại được sử dụng như một lớp màng mỏng trên cửa sổ của các tòa nhà lớn để phản xạ sức nóng của tia nắng mặt trời. Mạ vàng được sử dụng trong ngành công nghiệp điện tử để bảo vệ các thành phần đồng của chúng và cải thiện khả năng hàn của chúng.

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 12, Hóa 12

[rule_{ruleNumber}]

Source: giainhat.vn
Categories: Giáo dục

Viết một bình luận