So sánh 3 bản Tuyên ngôn độc lập, Bình Ngô Đại Cáo, Nam quốc sơn hà (hay nhất)

Bạn đang gặp khó lúc làm bài văn So sánh 3 bản Tuyên ngôn độc lập, Bình ngô đại cáo, Nam quốc sơn hà? Đừng lo! Hãy tham khảo những bài văn mẫu đã được tuyển chọn và biên soạn của giainhat.vn dưới đây để nắm được cách làm cũng như bổ sung thêm vốn từ ngữ nhé. Chúc các bạn có một tài liệu hữu ích!

So sánh tổng quát 3 bản Tuyên ngôn độc lập, Bình Ngô Đại Cáo, Nam quốc sơn hà

Giám định chung: Cả 3 đều khẳng định chủ quyền quốc gia, là kim nam châm chỉ phương cho nhân dân ta dựng và giữ nước.

Cùng đi tìm hiểu các điểm giống và không giống nhau giữa 3 bản Tuyên ngôn độc lập này nhé:

Điểm giống nhau giữa 3 bản Tuyên ngôn Độc lập

– Khẳng định chủ quyền, quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, quốc gia Việt Nam.


– Trình bày tình yêu quê hương, quốc gia, đồng bào.

– Tố cáo tội ác của giặc, vạch trần khuôn mặt gian xảo của chúng đồng thời ca tụng, tôn vinh con người Việt Nam.

So sánh cụ thể 3 bản Tuyên ngôn độc lập, Bình Ngô Đại Cáo, Nam quốc sơn hà

– Mở đầu Nam quốc sơn hà, Lý Thường Kiệt đã tức tốc khẳng định chủ quyền quốc gia, phân định rõ ràng về lãnh thổ. “Nam quốc” ý chỉ nước Nam, với mục tiêu xác định rõ ràng ranh giới quốc gia. Việc xưng “Nam quốc” đã trình bày rõ ràng kiên định lập trường về quốc gia.

– Mở đầu Bình Ngô đại cáoviết : ” Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt chỉ vì khử bạo. Như nước Việt ta từ trước, vốn xưng văn hiến đã lâu. Sơn hà cương vực đã chia, phong tục bắc nam cũng khác. Từ Đinh, Lê, Lý, Trần gây nền độc lập, cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương. Dẫu cường nhược có lúc không giống nhau song hào kiệt đời nào cũng có…”. Phần giữa bản tuyên ngôn phản ánh tình hình chống giặc giữ nước của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trong quá trình kháng chiến mười năm khó khăn nhưng luôn thắng lợi và liệt kê sự hao binh tổn tướng của quân giặc. Cuối cùng, bài văn kết luận: ” Giang sơn từ đây mở mặt, xã tắc từ đây vững chắc. Nền vạn thế xây nên kiên cố, thẹn nghìn thu rửa sạch làu làu” . 

– Mở lời tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn bản tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ để dẫn chứng về sự độc lập, tự do dân chủ của dân tộc: ”Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền đồng đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền ko người nào có thể xâm phạm được; trong những quyền đó, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc “. Có điều kỳ lạ và lạ mắt nhất là bản tuyên ngôn độc lập 1776 của Hoa Kỳ do Tổng thống Thomas Jefferson (1743-1826) nhiệm kỳ 1801-1809, vị tổng thống thứ ba của nước Mỹ, sau Benjamin Franklin và George Washington soạn thảo và được Quốc hội thông qua, lại được một nhà tình báo của Mỹ tiền thân của CIA hỗ trợ cho Hồ Chí Minh bằng cách thả dù xuống chiến khu Việt Bắc trước ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, do chính Hồ Chí Minh yêu cầu trước đó lúc hai người gặp nhau ở một thị trấn miền Nam Trung Quốc. Và chính nhà tình báo thân thiết này đã được đọc bản thảo Tuyên ngôn tại Hà Nội trước lúc thông báo ngày 2/9/1945.

=> Tương tự, ở ba thời kỳ không giống nhau, ba bản tuyên ngôn độc lập tuy lời lẽ có không giống nhau nhưng đều có cùng một nội dung là dân tộc ta tự khẳng định quyền tự do dân chủ và kết đoàn thống nhất ý chí đánhđuổi ngoại xâm giải phóng quốc gia để giành lại nền độc lập vững bền. Bản tuyên ngôn độc lập thứ ba là tuyên ngôn của một chính phủ dân chủ cộng hòa thời kỳ mới, thời kỳ hội nhập vào số đông toàn cầu, thời kỳ cáo chung của cơ chế phong kiến, chủ nghĩa thực dân và đế quốc tiến tới xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa theo đường lối Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

>> Trị giá lịch sử và chất chính luận trong Tuyên Ngôn Độc Lập

Điểm không giống nhau giữa 3 bản Tuyên ngôn Độc lập, Bình Ngô Đại Cáo, Nam quốc sơn hà

1. Hoàn cảnh sáng tác, nhân vật

So sánh 3 bản Tuyên ngôn độc lập về hoàn cảnh sáng tác: Ba bản tuyên ngôn ra đời trong ba hoàn cảnh không giống nhau, hướng tới những nhân vật cụ thể không giống nhau.

– Nam quốc sơn hà:Mở màn thời nhà Lý, dưới triều vua Lý Nhân Tông (1072-1127), tháng chạp năm Bính Thìn (1076), sau lúc hội quân với Chiêm Thành và Chân Lạp nhà Tống (Trung Quốc) đưa quân sang xâm chiếm nước ta vào tới sông Như Nguyệt (nay là sông Cầu thuộc làng Như Nguyệt, Bắc Ninh). Vua Lý Nhân Tông sai tướng Lý Thường Kiệt đem quân chặn đánh nhưng quân giặc dùng súng bắn đá gây tổn thất cho ta rất nhiều. Lý Thường Kiệt hết sức điều động dân quân chống giữ ko cho giặc sang sông, nhưng lại lo quân mình ngã lòng, bèn ngâm lớn bài thơ có bốn câu bằng chữ Hán nói là của thần linh méc bảo để động viên, cổ cũ quan quân dốc lòng đánh giặc.

– Bản tuyên ngôn độc lập thứ hai là bài Bình Ngô đại cáo do Nguyễn Trãi soạn để bố cáo (thông báo) cho người đời biết sau lúc Bình Định Vương Lê Lợi tổ chức thành công cuộc kháng chiến mười năm chống giặc ngoại xâm nhà Minh (1418-1427).

– Bản Tuyên ngôn độc lập thứ ba do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và tuyên đọc ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình – thủ đô Hà Nội khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Văn kiện lịch sử này ko phải chỉ được đọc trước quốc dân đồng bào nhưng còn trước toàn cầu, đặc trưng là trước bọn đế quốc thực dân đang sẵn sàng tái chiếm nước ta.

Mặt khác, tại thời khắc này thực dân Pháp tuyên bố: Đông Dương là đất bảo hộ của người Pháp bị Nhật xâm chiếm, nay Nhật đã đầu hàng, vậy Đông Dương đương nhiên phải trở lại với người Pháp. Bản tuyên ngôn đã dứt khoát không chấp nhận những luận điểm đó. Vì vậy nhân vật hướng tới của văn bản này, ko chỉ là hai mươi triệu đồng bào Việt Nam để khẳng định quyền độc lập dân tộc, nhân dân tiến bộ toàn cầu để tranh thủ sự ủng hộ nhưng còn hướng tới bọn đế quốc: Anh, Pháp, Mỹ nhằm ngăn chặn mọi âm mưuxâm lược của chúng.

2. Cách khẳng định chủ quyền

So sánh 3 bản Tuyên ngôn độc lập về cách khẳng định chủ quyền

– Nam quốc sơn hà: chủ quyền được khẳng định trên 2 phương diện: cương vực, vua được ghi trong sách trời – lực lượng siêu tự nhiên thần bí.

– Bình Ngô đại cáo: chủ quyền được khẳng định trên nhiều phương diện hơn: tên nước, nền văn hiến, cương vực, phong tục, triều đại, người hùng, hào kiệt – các phương diện sánh ngang với Trung Quốc.

– Tuyên ngôn độc lập: Đưa ra lập luận để khẳng định chủ quyền trên 2 phương diện: VN có quyền được lợi tự do độc lập. Sự thực đã thành một nước tự do độc lập. Từ đó mới tuyên bố độc lập. Đây là cách lập luận khoa học, chặt chẽ, thuyết phục.

3. Lòng yêu nước, thương dân

– Nam quốc sơn hà: nhắc đến tới theo quan niệm Nho giáo, trung quân ái quốc. Yêu nước là yêu vua, yêu vua là yêu nước. Chủ quyền của nước chính là chủ quyền của vua.

– Bình Ngô đại cáo: Quan niệm lấy dân làm gốc, yêu nước là yêu nhân dân: thường dân, con đỏ

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”

“Nướng thường dân trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”

Nhân dân là từng lớp đáng thương nhất trong chiến tranh. Họ là nhân dân Đại Việt.

→ Đây là quan niệm có tiến bộ nhưng chưa rộng mở.

– Tuyên ngôn độc lập: Yêu nước là yêu nhân dân quốc gia, là đem lại độc lập cho dân tộc và dân chủ cho nhân dân “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ …”. Tình yêu con người được nhắc đến tới rộng rãi hơn, con người trên toàn toàn cầu. Quan niệm tư tưởng tiến bộ của con người trong thời đại mới.

4. Cách mở đầu

Nam quốc sơn hà, Lý Thường Kiệt vào đầu bằng một lời tuyên ngôn sắt đá: Nam quốc sơn hà Nam đế cư (núi sông nước Nam vua Nam ở); trong Bình ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã khẳng định một chân lý lịch sử: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân -Quân điếu phạt trước lo trừ bạo thì Tuyên ngôn độc lập mở đầu bằng cách trích dẫn hai câu nói nổi tiếng trong hai bản tuyên ngôn của toàn cầu. Câu thứ nhất được trích từ Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776: Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền đồng đẳng. Tạo hóa đã cho họ những quyền ko người nào có thể xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Câu thứ hai được rút ra từ bản Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền Cách mệnh Pháp năm 1791: Người ta sinh ra tự do và đồng đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do và đồng đẳng về quyền lợi. Đây là một dụng ý chiến lược và chiến thuật của Bác. Người muốn dùng lời của ông cha người Pháp và người Mỹ để đập vào lưng của con cháu họ, dùng cây gậy độc lập tự do đánh vào lưng những quân địch của độc lập tự do.

Nếu câu mở đầu của Nam quốc sơn hà là lời khẳng định chủ quyền dân tộc, mở đầu của Bình Ngô đại cáo là một triết lí nhân nghĩa gắn với an dân thì mở đầu của Tuyên ngôn độc lập là một lời tranh luận ngầm nhằm lật tẩy những mưu mô thủ đoạn của bọn thực dân. Cách trích dẫn đó vừa tạo được cơ sở vững chắc cho Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam, vừa sảng khoái niềm tự hào dân tộc. Như ngày xưa Nguyễn Trãi đã từng viết: Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập – Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương nhằm đặt ngang hàng các triều đại nước Việt với các triều đại Trung Hoa cổ.

5. Cách tố cáo tội ác của giặc

So sánh 3 bản Tuyên ngôn độc lập trong cách tố cáo tội ác của giặc:

– Nam quốc sơn hà: lời vạch trần tội ác của quân xâm lược, là lời dự đoán cho số phận của bọn cướp nước tội xâm phạm quốc gia khác.

– Bình Ngô đại cáo: Ức Trai tiên sinh đã từng vạch tội giặc Minh mượn gió bẻ măng, lợi dung thời cơ phù Trần diệt Hồ để thôn tính nước ta: Nhân họ Hồ chính sự phiền nhiễu – Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa. Năm xưa, Nguyễn Trãi đã nói chung lại tội ác tày trời và chủ trương thống trị phản nhân đạo của giặc Ngô qua hai câu thơ: Nướng thường dân trên ngọn lửa hung tàn- Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.

– Trong tác phẩm của mình, Bác đã dùng lập luận không chấp nhận để vạch trần năm tội ác về chính trị, bốn tội ác về kinh tế của thực dân Pháp. Nếu nước mẹ Pháp đưa ra chiêu bài bảo hộ thì Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ: Trong năm năm, chúng bán nước ta cho Nhật… Ở Tuyên ngôn độc lập, với văn phong đĩnh đạc, giàu tính luận chiến, Bác đã viết: Chúng bóc lột dân ta tới xương tủy, làm cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp ko ruộng đất, hầm mỏ, vật liệu. Với cách lặp kết cấu cú pháp, điệp ngữ “chúng”, kết cấu song hành, tăng tiến, Tuyên ngôn độc lập là bản tuyên cáo cụ thể những hành động tham tàn bạo ngược của giặc Tây trên quốc gia Việt Nam.

Đặc trưng, ở Tuyên ngôn độc lập, với những dẫn chứng, số liệu cụ thể, bằng ngòi bút giàu sức tranh đấu, Nguyễn Ái Quốc còn vạch rõ thủ đoạn thâm độc của chính sách ngu dân, thống trị dân tộc Việt Nam bình rượu và thuốc phiện, lập nhà tù nhiều hơn trường học. Nước Pháp ở thời khắc này đang rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế; thay vì đổ xuống biển hàng tấn rượu thì bọn thực dân đã mở rộng khai thác thuộc địa sang các nước Đông Dương và biến các nước này trở thành nơi tiêu thụ hàng hóa ế thừa của chúng.

Vì vậy chúng cấm người dân Việt Nam ko được nấu rượu bằng các sản vật địa phương như gạo, mía, sắn nhưng phải dùng rượu Pháp. Trở lại những năm ba mươi của thế kỷ hai mươi, ta mới thấy hết được ko khí ngột ngạt, khổ đau của thôn xóm Việt Nam. Khắp nơi , bọn tay sai phong kiến và thực dân Pháp truy tìm, bắt bớ bỏ tù hàng nghìn người dân vì tội nấu “rượu lậu”. Không những thế, bọn chúng cho phép các tiệm hút được mở công khai ở Hà Nội, Hải Phòng nhằm làm suy nhược sức khỏe và băng hoại ý chí đấu tranh của từng lớp thanh niên ta. Lên án mưu mô thâm độc này, trong Tuyên ngôn độc lập, Bác viết: Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

6. Tính chất chính nghĩa, thái độ khoan hồng và nhân đạo

Nam quốc sơn hà: sách trời đã định, ko thể thay đổi.

Trong Tuyên ngôn độc lập, Bác đã ngợi ca thái độ khoan hồng và nhân đạo của người dân đất Việt: Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã tạo điều kiện cho người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mệnh, tài sản cho họ. Ý thức nhân nghĩa đó vốn xuất hiện từ lâu trong đạo lý dân tộc: Đánh kẻ chạy đi ko người nào đánh người chạy lại.

Nguyễn Trãi: Đem đại nghĩa để thắng hung tàn – Lấy chí nhân nhưng thay hung bạo. Tư tưởng nhân tức là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong Bình Ngô đại cáo và cuộc đấu tranh chống quân Minh của quân dân Đại Việt.

7. Tuyên bố độc lập

Lời kết thúc Bình Ngô đại cáo với sự hòa quyện giữa cảm hứng độc lập và cảm hứng vũ trụ, Ức Trai tiên sinh trịnh trọng tuyên bố nền độc lập tự do: Xã tắc từ nay vững chắc – Giang sơn từ đây đổi mới – Càn khôn bĩ nhưng lại thái – Nhật nguyệt hối nhưng lại minh – Muôn thuở nền thái hoà vững chắc – Nghìn năm, vết nhục nhã sạch làu.

Ở Tuyên ngôn độc lập, trước lúc thông báo quyền được lợi tự do độc lập một cách xứng đáng của dân tộc ta, Hồ Chí Minh đã tuyên bố thoát lí mọi quan hệ với thực dân, xóa bỏ mọi hiệp ước, mọi quyền lợi của Pháp trên quốc gia Việt Nam. Đây là một việc làm vô cùng có ý nghĩa. Để thiết lập một quốc gia Việt Nam mới và mở ra một kỉ nguyên độc lập tự do của quốc gia, ta phải xóa bỏ mọi ràng buộc, mọi mối quan hệ với thực dân Pháp, phải đập tan mọi luận điệu của Đờ Gôn (tướng Pháp) và bọn thực dân phản động Pháp đang mưu mô tái chiếm Đông Dương: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thực đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả ý thức và lực lượng, tính mệnh và tài sản để giữ vững quyền tự do, độc lập đó. Đoạn văn gồm ba ý, xây dựng theo lối tăng cấp: quyền hưởng tự do độc lập của dân tộc, hưởng tự do độc lập là sự thực, quyết tâm giữ vững độc lập tự do bằng mọi giá của con người Việt Nam. Đây là lời tuyên bố hào hùng, là kết quả của bao nhiêu kỳ vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu dân(Trần Dân Tiên).

8. Về nghệ thuật

– Về tổng thể, Tuyên ngôn độc lập có điểm tương đồng giữa các phần như Bình Ngô đại cáo song bố cục ngắn gọn và chặt chẽ hơn.

– Nếu hai tác phẩm trên sáng tác theo các thể thơ văn cổ Trung đại thì Tuyên ngôn độc lập viết theo phong cách văn chính luận hiện đại với lập luận sắc sảo, chứng cớ rõ ràng, hình ảnh gợi cảm, ngôn từ xác thực, liên kết thâm thúy giữa văn học và chính trị, kế thừa và tăng trưởng.

– Ngôn từ, hành văn, cách diễn tả của Tuyên ngôn độc lập ngắn gọn, dễ hiểu, lập luận khoa học, sắc sảo. Nam quốc sơn hà ngắn gọn, xúc tích chưa thật đầy đủ. Bình Ngô đại cáo dài hơn.

– Thể loại chữ viết hai bài trên: Tuyên ngôn độc lập là chữ quốc ngữ thể văn chính luận, Bình Ngô đại cáo chữ Hán thể phú, Nam quốc sơn hà là chữ Hán thể thơ tứ tuyệt Đường luật.

Tham khảo: Phân tích cơ sở thực tiễn của bản Tuyên ngôn độc lập

…/…

Trên đây là các bài văn mẫu So sánh 3 bản Tuyên ngôn độc lập do giainhat.vn sưu tầm và tổng hợp, mong rằng với nội dung tham khảo này thì các em sẽ có thể hoàn thiện bài văn của mình tốt nhất!

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

Hình Ảnh về: So sánh 3 bản Tuyên ngôn độc lập, Bình Ngô Đại Cáo, Nam quốc sơn hà

(hay nhất)

Video về: So sánh 3 bản Tuyên ngôn độc lập, Bình Ngô Đại Cáo, Nam quốc sơn hà

(hay nhất)

Wiki về So sánh 3 bản Tuyên ngôn độc lập, Bình Ngô Đại Cáo, Nam quốc sơn hà

(hay nhất)

So sánh 3 bản Tuyên ngôn độc lập, Bình Ngô Đại Cáo, Nam quốc sơn hà

(hay nhất) -

Bạn đang gặp khó lúc làm bài văn So sánh 3 bản Tuyên ngôn độc lập, Bình ngô đại cáo, Nam quốc sơn hà? Đừng lo! Hãy tham khảo những bài văn mẫu đã được tuyển chọn và biên soạn của giainhat.vn dưới đây để nắm được cách làm cũng như bổ sung thêm vốn từ ngữ nhé. Chúc các bạn có một tài liệu hữu ích!

So sánh tổng quát 3 bản Tuyên ngôn độc lập, Bình Ngô Đại Cáo, Nam quốc sơn hà

Giám định chung: Cả 3 đều khẳng định chủ quyền quốc gia, là kim nam châm chỉ phương cho nhân dân ta dựng và giữ nước.

Cùng đi tìm hiểu các điểm giống và không giống nhau giữa 3 bản Tuyên ngôn độc lập này nhé:

Điểm giống nhau giữa 3 bản Tuyên ngôn Độc lập

– Khẳng định chủ quyền, quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, quốc gia Việt Nam.


– Trình bày tình yêu quê hương, quốc gia, đồng bào.

– Tố cáo tội ác của giặc, vạch trần khuôn mặt gian xảo của chúng đồng thời ca tụng, tôn vinh con người Việt Nam.

So sánh cụ thể 3 bản Tuyên ngôn độc lập, Bình Ngô Đại Cáo, Nam quốc sơn hà

– Mở đầu Nam quốc sơn hà, Lý Thường Kiệt đã tức tốc khẳng định chủ quyền quốc gia, phân định rõ ràng về lãnh thổ. “Nam quốc” ý chỉ nước Nam, với mục tiêu xác định rõ ràng ranh giới quốc gia. Việc xưng “Nam quốc” đã trình bày rõ ràng kiên định lập trường về quốc gia.

– Mở đầu Bình Ngô đại cáoviết : ” Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt chỉ vì khử bạo. Như nước Việt ta từ trước, vốn xưng văn hiến đã lâu. Sơn hà cương vực đã chia, phong tục bắc nam cũng khác. Từ Đinh, Lê, Lý, Trần gây nền độc lập, cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương. Dẫu cường nhược có lúc không giống nhau song hào kiệt đời nào cũng có…”. Phần giữa bản tuyên ngôn phản ánh tình hình chống giặc giữ nước của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trong quá trình kháng chiến mười năm khó khăn nhưng luôn thắng lợi và liệt kê sự hao binh tổn tướng của quân giặc. Cuối cùng, bài văn kết luận: ” Giang sơn từ đây mở mặt, xã tắc từ đây vững chắc. Nền vạn thế xây nên kiên cố, thẹn nghìn thu rửa sạch làu làu” . 

– Mở lời tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn bản tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ để dẫn chứng về sự độc lập, tự do dân chủ của dân tộc: ”Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền đồng đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền ko người nào có thể xâm phạm được; trong những quyền đó, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc “. Có điều kỳ lạ và lạ mắt nhất là bản tuyên ngôn độc lập 1776 của Hoa Kỳ do Tổng thống Thomas Jefferson (1743-1826) nhiệm kỳ 1801-1809, vị tổng thống thứ ba của nước Mỹ, sau Benjamin Franklin và George Washington soạn thảo và được Quốc hội thông qua, lại được một nhà tình báo của Mỹ tiền thân của CIA hỗ trợ cho Hồ Chí Minh bằng cách thả dù xuống chiến khu Việt Bắc trước ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, do chính Hồ Chí Minh yêu cầu trước đó lúc hai người gặp nhau ở một thị trấn miền Nam Trung Quốc. Và chính nhà tình báo thân thiết này đã được đọc bản thảo Tuyên ngôn tại Hà Nội trước lúc thông báo ngày 2/9/1945.

=> Tương tự, ở ba thời kỳ không giống nhau, ba bản tuyên ngôn độc lập tuy lời lẽ có không giống nhau nhưng đều có cùng một nội dung là dân tộc ta tự khẳng định quyền tự do dân chủ và kết đoàn thống nhất ý chí đánhđuổi ngoại xâm giải phóng quốc gia để giành lại nền độc lập vững bền. Bản tuyên ngôn độc lập thứ ba là tuyên ngôn của một chính phủ dân chủ cộng hòa thời kỳ mới, thời kỳ hội nhập vào số đông toàn cầu, thời kỳ cáo chung của cơ chế phong kiến, chủ nghĩa thực dân và đế quốc tiến tới xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa theo đường lối Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

>> Trị giá lịch sử và chất chính luận trong Tuyên Ngôn Độc Lập

Điểm không giống nhau giữa 3 bản Tuyên ngôn Độc lập, Bình Ngô Đại Cáo, Nam quốc sơn hà

1. Hoàn cảnh sáng tác, nhân vật

So sánh 3 bản Tuyên ngôn độc lập về hoàn cảnh sáng tác: Ba bản tuyên ngôn ra đời trong ba hoàn cảnh không giống nhau, hướng tới những nhân vật cụ thể không giống nhau.

– Nam quốc sơn hà:Mở màn thời nhà Lý, dưới triều vua Lý Nhân Tông (1072-1127), tháng chạp năm Bính Thìn (1076), sau lúc hội quân với Chiêm Thành và Chân Lạp nhà Tống (Trung Quốc) đưa quân sang xâm chiếm nước ta vào tới sông Như Nguyệt (nay là sông Cầu thuộc làng Như Nguyệt, Bắc Ninh). Vua Lý Nhân Tông sai tướng Lý Thường Kiệt đem quân chặn đánh nhưng quân giặc dùng súng bắn đá gây tổn thất cho ta rất nhiều. Lý Thường Kiệt hết sức điều động dân quân chống giữ ko cho giặc sang sông, nhưng lại lo quân mình ngã lòng, bèn ngâm lớn bài thơ có bốn câu bằng chữ Hán nói là của thần linh méc bảo để động viên, cổ cũ quan quân dốc lòng đánh giặc.

– Bản tuyên ngôn độc lập thứ hai là bài Bình Ngô đại cáo do Nguyễn Trãi soạn để bố cáo (thông báo) cho người đời biết sau lúc Bình Định Vương Lê Lợi tổ chức thành công cuộc kháng chiến mười năm chống giặc ngoại xâm nhà Minh (1418-1427).

– Bản Tuyên ngôn độc lập thứ ba do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và tuyên đọc ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình – thủ đô Hà Nội khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Văn kiện lịch sử này ko phải chỉ được đọc trước quốc dân đồng bào nhưng còn trước toàn cầu, đặc trưng là trước bọn đế quốc thực dân đang sẵn sàng tái chiếm nước ta.

Mặt khác, tại thời khắc này thực dân Pháp tuyên bố: Đông Dương là đất bảo hộ của người Pháp bị Nhật xâm chiếm, nay Nhật đã đầu hàng, vậy Đông Dương đương nhiên phải trở lại với người Pháp. Bản tuyên ngôn đã dứt khoát không chấp nhận những luận điểm đó. Vì vậy nhân vật hướng tới của văn bản này, ko chỉ là hai mươi triệu đồng bào Việt Nam để khẳng định quyền độc lập dân tộc, nhân dân tiến bộ toàn cầu để tranh thủ sự ủng hộ nhưng còn hướng tới bọn đế quốc: Anh, Pháp, Mỹ nhằm ngăn chặn mọi âm mưuxâm lược của chúng.

2. Cách khẳng định chủ quyền

So sánh 3 bản Tuyên ngôn độc lập về cách khẳng định chủ quyền

– Nam quốc sơn hà: chủ quyền được khẳng định trên 2 phương diện: cương vực, vua được ghi trong sách trời – lực lượng siêu tự nhiên thần bí.

– Bình Ngô đại cáo: chủ quyền được khẳng định trên nhiều phương diện hơn: tên nước, nền văn hiến, cương vực, phong tục, triều đại, người hùng, hào kiệt – các phương diện sánh ngang với Trung Quốc.

– Tuyên ngôn độc lập: Đưa ra lập luận để khẳng định chủ quyền trên 2 phương diện: VN có quyền được lợi tự do độc lập. Sự thực đã thành một nước tự do độc lập. Từ đó mới tuyên bố độc lập. Đây là cách lập luận khoa học, chặt chẽ, thuyết phục.

3. Lòng yêu nước, thương dân

– Nam quốc sơn hà: nhắc đến tới theo quan niệm Nho giáo, trung quân ái quốc. Yêu nước là yêu vua, yêu vua là yêu nước. Chủ quyền của nước chính là chủ quyền của vua.

– Bình Ngô đại cáo: Quan niệm lấy dân làm gốc, yêu nước là yêu nhân dân: thường dân, con đỏ

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”

“Nướng thường dân trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”

Nhân dân là từng lớp đáng thương nhất trong chiến tranh. Họ là nhân dân Đại Việt.

→ Đây là quan niệm có tiến bộ nhưng chưa rộng mở.

– Tuyên ngôn độc lập: Yêu nước là yêu nhân dân quốc gia, là đem lại độc lập cho dân tộc và dân chủ cho nhân dân “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ …”. Tình yêu con người được nhắc đến tới rộng rãi hơn, con người trên toàn toàn cầu. Quan niệm tư tưởng tiến bộ của con người trong thời đại mới.

4. Cách mở đầu

Nam quốc sơn hà, Lý Thường Kiệt vào đầu bằng một lời tuyên ngôn sắt đá: Nam quốc sơn hà Nam đế cư (núi sông nước Nam vua Nam ở); trong Bình ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã khẳng định một chân lý lịch sử: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân -Quân điếu phạt trước lo trừ bạo thì Tuyên ngôn độc lập mở đầu bằng cách trích dẫn hai câu nói nổi tiếng trong hai bản tuyên ngôn của toàn cầu. Câu thứ nhất được trích từ Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776: Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền đồng đẳng. Tạo hóa đã cho họ những quyền ko người nào có thể xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Câu thứ hai được rút ra từ bản Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền Cách mệnh Pháp năm 1791: Người ta sinh ra tự do và đồng đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do và đồng đẳng về quyền lợi. Đây là một dụng ý chiến lược và chiến thuật của Bác. Người muốn dùng lời của ông cha người Pháp và người Mỹ để đập vào lưng của con cháu họ, dùng cây gậy độc lập tự do đánh vào lưng những quân địch của độc lập tự do.

Nếu câu mở đầu của Nam quốc sơn hà là lời khẳng định chủ quyền dân tộc, mở đầu của Bình Ngô đại cáo là một triết lí nhân nghĩa gắn với an dân thì mở đầu của Tuyên ngôn độc lập là một lời tranh luận ngầm nhằm lật tẩy những mưu mô thủ đoạn của bọn thực dân. Cách trích dẫn đó vừa tạo được cơ sở vững chắc cho Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam, vừa sảng khoái niềm tự hào dân tộc. Như ngày xưa Nguyễn Trãi đã từng viết: Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập – Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương nhằm đặt ngang hàng các triều đại nước Việt với các triều đại Trung Hoa cổ.

5. Cách tố cáo tội ác của giặc

So sánh 3 bản Tuyên ngôn độc lập trong cách tố cáo tội ác của giặc:

– Nam quốc sơn hà: lời vạch trần tội ác của quân xâm lược, là lời dự đoán cho số phận của bọn cướp nước tội xâm phạm quốc gia khác.

– Bình Ngô đại cáo: Ức Trai tiên sinh đã từng vạch tội giặc Minh mượn gió bẻ măng, lợi dung thời cơ phù Trần diệt Hồ để thôn tính nước ta: Nhân họ Hồ chính sự phiền nhiễu – Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa. Năm xưa, Nguyễn Trãi đã nói chung lại tội ác tày trời và chủ trương thống trị phản nhân đạo của giặc Ngô qua hai câu thơ: Nướng thường dân trên ngọn lửa hung tàn- Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.

– Trong tác phẩm của mình, Bác đã dùng lập luận không chấp nhận để vạch trần năm tội ác về chính trị, bốn tội ác về kinh tế của thực dân Pháp. Nếu nước mẹ Pháp đưa ra chiêu bài bảo hộ thì Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ: Trong năm năm, chúng bán nước ta cho Nhật… Ở Tuyên ngôn độc lập, với văn phong đĩnh đạc, giàu tính luận chiến, Bác đã viết: Chúng bóc lột dân ta tới xương tủy, làm cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp ko ruộng đất, hầm mỏ, vật liệu. Với cách lặp kết cấu cú pháp, điệp ngữ “chúng”, kết cấu song hành, tăng tiến, Tuyên ngôn độc lập là bản tuyên cáo cụ thể những hành động tham tàn bạo ngược của giặc Tây trên quốc gia Việt Nam.

Đặc trưng, ở Tuyên ngôn độc lập, với những dẫn chứng, số liệu cụ thể, bằng ngòi bút giàu sức tranh đấu, Nguyễn Ái Quốc còn vạch rõ thủ đoạn thâm độc của chính sách ngu dân, thống trị dân tộc Việt Nam bình rượu và thuốc phiện, lập nhà tù nhiều hơn trường học. Nước Pháp ở thời khắc này đang rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế; thay vì đổ xuống biển hàng tấn rượu thì bọn thực dân đã mở rộng khai thác thuộc địa sang các nước Đông Dương và biến các nước này trở thành nơi tiêu thụ hàng hóa ế thừa của chúng.

Vì vậy chúng cấm người dân Việt Nam ko được nấu rượu bằng các sản vật địa phương như gạo, mía, sắn nhưng phải dùng rượu Pháp. Trở lại những năm ba mươi của thế kỷ hai mươi, ta mới thấy hết được ko khí ngột ngạt, khổ đau của thôn xóm Việt Nam. Khắp nơi , bọn tay sai phong kiến và thực dân Pháp truy tìm, bắt bớ bỏ tù hàng nghìn người dân vì tội nấu “rượu lậu”. Không những thế, bọn chúng cho phép các tiệm hút được mở công khai ở Hà Nội, Hải Phòng nhằm làm suy nhược sức khỏe và băng hoại ý chí đấu tranh của từng lớp thanh niên ta. Lên án mưu mô thâm độc này, trong Tuyên ngôn độc lập, Bác viết: Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

6. Tính chất chính nghĩa, thái độ khoan hồng và nhân đạo

Nam quốc sơn hà: sách trời đã định, ko thể thay đổi.

Trong Tuyên ngôn độc lập, Bác đã ngợi ca thái độ khoan hồng và nhân đạo của người dân đất Việt: Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã tạo điều kiện cho người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mệnh, tài sản cho họ. Ý thức nhân nghĩa đó vốn xuất hiện từ lâu trong đạo lý dân tộc: Đánh kẻ chạy đi ko người nào đánh người chạy lại.

Nguyễn Trãi: Đem đại nghĩa để thắng hung tàn – Lấy chí nhân nhưng thay hung bạo. Tư tưởng nhân tức là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong Bình Ngô đại cáo và cuộc đấu tranh chống quân Minh của quân dân Đại Việt.

7. Tuyên bố độc lập

Lời kết thúc Bình Ngô đại cáo với sự hòa quyện giữa cảm hứng độc lập và cảm hứng vũ trụ, Ức Trai tiên sinh trịnh trọng tuyên bố nền độc lập tự do: Xã tắc từ nay vững chắc – Giang sơn từ đây đổi mới – Càn khôn bĩ nhưng lại thái – Nhật nguyệt hối nhưng lại minh – Muôn thuở nền thái hoà vững chắc – Nghìn năm, vết nhục nhã sạch làu.

Ở Tuyên ngôn độc lập, trước lúc thông báo quyền được lợi tự do độc lập một cách xứng đáng của dân tộc ta, Hồ Chí Minh đã tuyên bố thoát lí mọi quan hệ với thực dân, xóa bỏ mọi hiệp ước, mọi quyền lợi của Pháp trên quốc gia Việt Nam. Đây là một việc làm vô cùng có ý nghĩa. Để thiết lập một quốc gia Việt Nam mới và mở ra một kỉ nguyên độc lập tự do của quốc gia, ta phải xóa bỏ mọi ràng buộc, mọi mối quan hệ với thực dân Pháp, phải đập tan mọi luận điệu của Đờ Gôn (tướng Pháp) và bọn thực dân phản động Pháp đang mưu mô tái chiếm Đông Dương: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thực đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả ý thức và lực lượng, tính mệnh và tài sản để giữ vững quyền tự do, độc lập đó. Đoạn văn gồm ba ý, xây dựng theo lối tăng cấp: quyền hưởng tự do độc lập của dân tộc, hưởng tự do độc lập là sự thực, quyết tâm giữ vững độc lập tự do bằng mọi giá của con người Việt Nam. Đây là lời tuyên bố hào hùng, là kết quả của bao nhiêu kỳ vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu dân(Trần Dân Tiên).

8. Về nghệ thuật

– Về tổng thể, Tuyên ngôn độc lập có điểm tương đồng giữa các phần như Bình Ngô đại cáo song bố cục ngắn gọn và chặt chẽ hơn.

– Nếu hai tác phẩm trên sáng tác theo các thể thơ văn cổ Trung đại thì Tuyên ngôn độc lập viết theo phong cách văn chính luận hiện đại với lập luận sắc sảo, chứng cớ rõ ràng, hình ảnh gợi cảm, ngôn từ xác thực, liên kết thâm thúy giữa văn học và chính trị, kế thừa và tăng trưởng.

– Ngôn từ, hành văn, cách diễn tả của Tuyên ngôn độc lập ngắn gọn, dễ hiểu, lập luận khoa học, sắc sảo. Nam quốc sơn hà ngắn gọn, xúc tích chưa thật đầy đủ. Bình Ngô đại cáo dài hơn.

– Thể loại chữ viết hai bài trên: Tuyên ngôn độc lập là chữ quốc ngữ thể văn chính luận, Bình Ngô đại cáo chữ Hán thể phú, Nam quốc sơn hà là chữ Hán thể thơ tứ tuyệt Đường luật.

Tham khảo: Phân tích cơ sở thực tiễn của bản Tuyên ngôn độc lập

…/…

Trên đây là các bài văn mẫu So sánh 3 bản Tuyên ngôn độc lập do giainhat.vn sưu tầm và tổng hợp, mong rằng với nội dung tham khảo này thì các em sẽ có thể hoàn thiện bài văn của mình tốt nhất!

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

[rule_{ruleNumber}]

Source: giainhat.vn
Categories: Giáo dục

Xem thêm bài viết hay:   Bài 1 trang 132 sgk Vật Lý 11 nâng cao

Viết một bình luận