Phân tích khổ cuối bài thơ Tây Tiến (hay nhất)

Tuyển chọn những bài văn hay Phân tích khổ cuối bài thơ Tây Tiến.Với những bài văn mẫu hay nhất dưới đây, các em sẽ có thêm nhiều tài liệu hữu ích phục vụ cho việc học môn văn. Cùng tham khảo nhé! 

Phân tích khổ cuối bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 1

    Mọi thứ có thể bị quên lãng nhưng những người con đã hi sinh vì tổ quốc, vì dân tộc thì mãi mãi được khắc ghi, sống mãi với thời kì. Những người lính lớn lao của dân tộc được khắc họa trong những áng văn thơ cũng sẽ là những bức tượng đài uy nghiêm trường tồn mãi mãi với thời kì. Những người lính Tây Tiến trong bài thơ Tây Tiến cũng là những người tương tự. Khổ cuối bài thơ một lần nữa khắc họa lên những đặc điểm đáng quý của những người lính đó.

    Quang Dũng viết Tây Tiến lúc ông hồi ức lại những kỉ niệm về đồng chí, những người đã từng sống, từng tranh đấu nhưng cũng có người đã hy sinh, những người đã trở về với đất mẹ mến thương, nhưng dẫu sao đó cũng là những người mãi mãi nằm lại nơi biên thuỳ hay miền viễn xứ. Quang Dũng đã cho người đọc tưởng tượng ra những trở ngại khó khăn nhưng mà những người lính đã trải qua, tình cảm quân dân gắn bó tha thiết.

    Quang Dũng đã tạc dựng lên bức tượng đài người lính Tây Tiến trong tác phẩm của mình. Với hệ thống tiếng nói giàu hình ảnh, hàng loạt những thủ pháp như tương phản, nhân hoá, tăng cấp ý nghĩa để tạo ấn tượng mạnh để khắc tạc một cách thâm thúy vào tâm trí người đọc hình ảnh những người con người hùng của tổ quốc, của dân tộc. Bức tượng đài sừng sững theo thời kì, hiên ngang giữa núi rừng, giữa bom đạn của quân thù.

    Qua từng lời thơ, tác giả đã tô đậm cuộc sống khó khăn của những người lính Tây Tiến. Giữa rừng thiêng nước độc, bom đạn của quân thù bắn phá, đoàn quân cũng có lúc đã thấy mỏi mệt:


“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi ”

    Nhưng với ý thức sáng sủa, ko sợ khó khăn, quyết tranh đấu cho tổ quốc, những người lính đó lại cảm thấy yêu đời, lại hòa mình vào trong quang cảnh hết sức lãng mạn trong đêm liên hoan, đêm lửa trại thắm tình cá nước thì ở đây là hình ảnh đoàn binh ko mọc tóc da xanh như lá rừng. Khắc họa lên người lính người hùng nhưng Quang Dũng ko tránh né mô tả những trở ngại nhưng mà người lính Tây Tiến vượt qua. Những cơn sốt rét rừng làm tóc họ ko thể mọc được (chứ ko phải họ cố tình cạo trọc để đánh giáp lá cà cho dễ như nhiều người từng nói). Cũng vì sốt rét rừng nhưng mà da họ xanh như lá cây (chứ ko phải họ xanh màu lá ngụy trang), vẻ ngoài dường như rất tiều tụy. Khó khăn khó khăn là thế nhưng họ vẫn vui, vẫn hi vọng niềm tin thắng lợi của dân tộc.

    Bên trong những thân hình mỏi mệt, bệnh tật đó họ còn chứa đựng cả một sức mạnh áp đảo quân thù, họ hùng dũng như hổ báo, hùm beo. Bằng lời thơ hết sức chân thực của mình, Quang Dũng đã mô tả người lính với những nét khắc khổ tiều tụy nhưng vẫn gợi ra âm hưởng rất hào hùng bên trong những con người đó. Quang Dũng đã sử dụng thủ pháp tương phản ở câu thơ “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” ko chỉ làm nổi trội lên sức mạnh ý thức của người lính nhưng mà còn thấm sâu màu sắc văn hoá của dân tộc. Mỗi câu thơ của tác giả đã khiến người đọc nhận thấy những người lính Tây Tiến như chúa sơn lâm. Ko phải thi sĩ muốn “động vật hoá” người lính Tây Tiến nhưng mà muốn nói tới sức mạnh bách chiến bách thắng bằng một hình ảnh thân thuộc trong thơ văn xưa, khiến chúng ta nhớ tới câu thơ của Phạm Ngũ Lão.

“Hoành sóc nước nhà cáp kỷ thu

Tam quan kỳ hổ khí thôn ngưu”

Và ngay cả Hồ Chí Minh trong “Đăng sơn” cũng viết:

“Nghĩa quân tráng khí thôn ngưu đẩu

Thể diện sài long xâm lược quân”

    Tác giả đã vận dụng những ý thơ của những người đi trước để xây dựng hình ảnh những người lính lớn lao tiếp nối truyền thống quý báu của dân tộc. Đọc câu thơ: “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” ta như nghe thấy âm hưởng oai hùng của cả một dân tộc vang khắp núi rừng.

    Tuy họ phải trải qua những trở ngại khó khăn, cái chết có thể tới bất kỳ lúc nào nhưng những người lính vẫn luôn yêu đời, vẫn lãng mạn.

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

    Họ vẫn mơ về Hà Nội, với những người con gái đẹp, nơi có cuộc sống yên bình, độc lập. Người lính Tây Tiến dẫu “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” nhưng mà niềm thương nỗi nhớ vẫn hướng về một “dáng kiều thơm”. Chính nhờ vẻ đẹp đó của tâm hồn nhưng mà người lính có sức mạnh vượt qua mọi khó khăn, người lính trở thành một biểu tượng cho vẻ đẹp của con người Việt Nam. Quang Dũng đã có cái nhìn hết sức chân thực lúc phát xuất hiện bên trong những con người tranh đấu kiên cường với ý chí sắt thép cũng chính là con người có một đời sống tâm hồn phong phú. Người lính Tây Tiến ko chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông nhưng mà còn rất hào hoa, giữa bao nhiêu khó khăn, thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động trong một nỗi nhớ về một dáng kiều thơm, nhớ về vẻ đẹp của Hà Nội – Thăng Long xưa.

    Quang Dũng đã tạc lên những bức tượng đài người lính Tây Tiến bằng những nguồn ánh sáng tương phản lẫn nhau, vừa hiện thực vừa lãng mạn.

    Với câu thơ: “Tản mạn biên thuỳ mồ viễn xứ” nếu tách riêng ra người đọc sẽ cảm nhận thấy cái chết, về nấm mồ của người lính Tây Tiến ở nơi “viễn xứ”, nó sẽ tạo cảm giác như một nốt nhạc buồn của khúc hát hồn tử sĩ.

    Nhưng câu thơ thứ hai đã làm cho âm hưởng bài thơ thêm hào hùng:

“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

    Câu thơ này đã làm cho những nấm mồ tản mạn kia được nâng lên những tầng cao của đài tưởng vọng, nấm mộ của những người lính đã hiến dâng tuổi xanh của mình cho tổ quốc. Trong thơ Quang Dũng luôn là một sự nâng đỡ nhau của nhiều hình ảnh tương tự.

    Sự hi sinh đó còn đáng trân trọng hơn lúc Quang Dũng mô tả:

“Áo bào thay chiếu anh về đất”

    Những người lính đó lúc sống tranh đấu đã phải chịu những trở ngại khó khăn lúc hi sinh họ cũng vẫn phải chịu thiếu thốn, cảnh tiễn đưa họ ra đi với bao thiếu thốn, khó khăn, cái thuở những người lính Tây Tiến chết vì sốt rét nhiều hơn chết vì chiến trường. Lại trong cảnh kháng chiến còn rất khó khăn nên tiễn đưa người chết ko có cả một chiếc quan tài, chỉ với chiếc áo bào thay chiếu nhưng mà thôi. Câu thơ tả thực của Quang Dũng đã đẩy thành cảm hứng tráng lệ, coi chiếu là áo bào để cuộc tiễn đưa trở thành nghiêm trang, cổ truyền. Cũng có người hiểu tới chiếc chiếu cũng ko có, chỉ có chính tấm áo của người lính. Có nhiều cách hiểu về hình ảnh này, nhưng dù vậy nào thì người đọc cũng nhìn thấy cái bi tráng trong câu thơ, tạo nên một hình tượng đẹp về người lính Tây Tiến.

“Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

    Các anh về với đất, có đồng chí tống biệt, có núi sông đồng hành, cứng cáp sự hi sinh cao cả của các anh sẽ được đời đời kiếp kiếp ghi nhớ, sẽ là tấm gương cho thế hệ sau. Đó là những lời nhắn nhủ nhưng mà Quang Dũng muốn gửi gắm tới đồng chí của mình.

    Qua mỗi lời thơ Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mệnh vừa chân thực vừa lãng mạn. Đó là tình yêu của Quang Dũng đối với những người đồng chí, đối với tổ quốc của mình, là sự ca tụng vẻ đẹp của những con người đã tranh đấu hi sinh cho chúng ta có cuộc sống hôm nay.

Phân tích khổ cuối bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 2

    Một bản nhạc hay là một bản nhạc ko chỉ đoạn điệp khúc hay đoạn mở đầu hay nhưng mà đoạn cuối cũng phải hay, một tác phẩm văn học hay là một tác phẩm ko chỉ hay phần mở đầu, phần nội dung và phần kết thúc cũng mang tính gợi mở hay hướng người đọc tưởng tượng tới một viễn cảnh nọ. Bài thơ Tây Tiến của thi sĩ Quang Dũng có những đoạn nói về những cuộc hành quân khó khăn, những đêm liên hoan văn nghệ hay bức tượng đài người lính Tây Tiến rất ý nghĩa, rất hay. Thế nhưng lại có rất ít người biết rằng bốn câu thơ cuối bài thơ cũng rất đáng được chú ý. Bởi đây là một đoạn thơ trình bày được tấm lòng của thi sĩ dành cho Tây Tiến.

    Hai câu thơ đầu trình bày nỗi lòng của thi sĩ đối với đồng chí, những người còn sống và những người đã ngã xuống:

Tây tiến người đi ko hứa ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

    Những người lính cùng là những người tri thức nhưng trước lúc gia nhập đoàn binh Tây Tiến họ ko hề biết nhau. Họ đều là những người xa lạ, họ ko hứa nhau tòng quân đi giết mổ giặc, cũng chẳng hứa nhau đi lính là sẽ có ngày trở về. Đoàn quân Tây Tiến chính là nơi gắn kết họ lại thành một gia đình, thành những anh em gắn bó mật thiết. Quay trở về thực tại, Quang Dũng một mình đương đầu với nỗi thương nhớ đồng đối, đương đầu với những sự hi sinh của đồng chí mình nơi biên thuỳ cửa cửa ải. Thi sĩ càng cảm thấy nhớ, càng cảm thấy yêu quý đơn vị cũ của mình. Những người lính trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu cũng có một nỗi niềm như người lính Tây Tiến, từ những người xa lạ người lính Việt Nam gắn kết với nhau như anh em:

Tôi với anh đôi người xa lạ

Từ phương trời chẳng hứa quen nhau”

    Đường đi của Tây Tiến càng đi là càng chia phôi, giữa cái thảm khốc của chiến tranh, giữa sự gian ác của lũ giặc khốn nạn họ ko xác định sự chia phôi vừa lớn, vừa thăm thẳm như nghìn thước của núi cao kia. Những người đồng chí của Quang Dũng đã đi và ko hứa ngày trở lại.

    Trước thực tiễn ngày nay, xuất phát từ tình đồng chí đồng chí, từ tình quân dân keo sơn, từ những kỉ niệm và nỗi nhớ thi sĩ Quang Dũng khẳng định tâm hồn của mình luôn gắn bó với Sầm Nứa:

Người nào lên Tây tiến mùa xuân đó

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

    “người nào” là đại từ chỉ thi sĩ hay chỉ người lính Tây Tiến, nó ko được xác định. Có nhẽ thi sĩ cố tình nói như thế để thay mặt cho tất cả những người lính trong đoàn quân Tây Tiến dù còn sống hay đã chết đều trở về Sầm Nưa. Họ ko sinh ra ở mảnh đất biên thuỳ hẻo lánh, gian nan đó nhưng họ lại nguyện gắn bó tâm hồn mình với nó. Bởi nơi này chất chứa biết bao nhiêu kỉ niệm của Tây Tiến, cũng ở nơi đó biết bao nhiêu nấm mồ của những người người hùng Tây Tiến “dãi dầu” cuộc đời nhưng mà nằm lại.

    Đúng như thi sĩ Chế Lan Viên đã viết: “Lúc ta ở chỉ là nơi đất ở/ Lúc ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Thi sĩ Quang Dũng và những người lính Tây Tiến ko sinh ra ở mảnh đất biên thuỳ Sầm Nứa nhưng những kỉ niệm họ có ở đó, thời kì hoạt động ở dẫu là gian nan vất vả nhưng lúc qua rồi nó in dấu trong lòng họ sâu đậm. Đoạn thơ trình bày rõ được tâm tình của thi sĩ dành cho mảnh đất và con người nơi biên thuỳ cửa cửa ải.


Phân tích khổ cuối bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 3

    Khổ cuối bài thơ, âm điệu trở thành tha thiết sâu lắng, bổi hổi. Vẫn là tiếng lòng rung lên theo hoài niệm. Biết bao thương nhớ khôn nguôi:

“Tây Tiến người đi ko hứa ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Người nào lên Tây Tiến mùa xuân đó

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”.

    Mùa xuân đó, lúc “Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông” (Hồ Chí Minh), đoàn binh Tây Tiến xuất quân. Họ đã tiến ra sa trường với lời hứa ước: “Nhất khứ bất phục hoàn”. Đó là lời thề, là quyết tâm của cả một thế hệ “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Các anh đã giã từ quê hương. Những người nào còn người nào mất sau những tháng ngày đầy máu lửa? Bè bạn, đồng chí thân yêu, những người nào đó “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”. Nhưng quê hương vẫn đời đời kiếp kiếp ôm ấp bóng hình anh, người chiến sĩ trong binh đoàn Tây Tiến. Bài thơ đã khép lại nhưng mà âm điệu của nó vẫn bổi hổi vang vọng trong tâm hồn ta.

    Có những bài thơ một thời nhưng cũng có một số bài thơ mãi mãi. Thơ hay ko có tuổi cũng như mùa xuân ko tháng ngày. Đó là “Đèo cả” của Hữu Loan, là “Nhớ” của Hồng Nguyên, “Đồng Chí” của Chính Hữu. “Tây Tiến”của Quang Dũng

    “Tây Tiến” là một trong những bài thơ hay nhất viết về người chiến sĩ cầm súng bảo vệ Tổ quốc, tiêu biểu cho thơ ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp. Với văn pháp lãng mạn, với cốt cách tài hoa, phong thái hào hùng của thi sĩ – chiến sĩ, Quang Dũng đã khắc chạm vào thời kì, vào thơ ca và lòng người hình ảnh người chiến sĩ vô danh Thăng Long – Hà Nội, của dân tộc Việt Nam người hùng. Trước vong hồn người liệt sĩ, ta thắp lên nén tâm nhang, nghiêng mình với tình cảm hàm ơn và kính phục thi sĩ và những chiến sĩ vinh quang trong đoàn binh Tây Tiến.

Phân tích khổ cuối bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 4

    Bài thơ “Tây Tiến” là một trong những bài thơ rực rỡ nhất của Quang Dũng nhưng mà người đọc ấn tượng nhất. Bài thơ viết năm 1948. Xúc cảm bao trùm toàn thể bài thơ là một nỗi nhớ. Qua nỗi nhớ đó, hình ảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ hiểm trở và dữ dội hiện lên như một bức tranh hoành tráng. Và trong bài thơ, ông cũng ko quên lột tả trần truồng những khó khăn hi sinh của người lính Tây Tiến. Chỉ có điều nó trình bày bằng một ngòi bút lãng mạn. Qua cái nhìn của thi sĩ, cái bi bỗng trở thành cái hùng tráng. Khổ cuối bài thơ cũng rất rực rỡ, gói gọn tình cảm của thi sĩ vào những câu chữ:

“Tây Tiến người đi ko hứa ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Người nào lên Tây Tiến mùa xuân đó

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

    Thật vậy, đoàn binh Tây Tiến mang trên mình sứ mệnh bảo vệ quê hương tổ quốc. Họ luôn dốc toàn thể sức lực của mình. Họ hàng ngày vẫn phải tranh đấu thảm khốc với quân thù nguy hiểm, họ còn phải quật cường trước tự nhiên hiểm trở với những căn bệnh sốt rét, đói nhưng họ vẫn uy nghiêm kiêu hùng vượt lên trên tất cả. Họ là bức tượng cho ý thức yêu nước lớn lao, quyết đấu quyết thắng. Trước lúc lên đường tham gia tranh đấu, họ chỉ là những cô cậu sinh viên Hà thành với tuổi đời còn rất trẻ, họ có hoài bão ước mơ. Lúc tổ quốc gọi, họ sẵn sàng bỏ lại sau lưng tất cả lên đường cầm súng tranh đấu với ý thức quả cảm. Họ biết ranh giới giữa sự sống và cái chết mỏng manh như sợi chỉ có thể mất tích bất kỳ lúc nào. Họ lên đường tranh đấu, ra đi ko hứa ngày trở về. Họ trao mạng sống của mình cho Tổ quốc – nơi đã sinh ra họ.

    Ở nơi rừng thiêng nước độc, mỗi bước chân hành quân của họ đều rất khó khăn, nhiều gian truân. Họ vẫn đi, họ vượt qua dốc đèo hiểm trở, họ bỏ lại những bản làng khuất dần sau rặng tre: “Đường lên thăm thẳm một chia phôi”. Do hoàn cảnh tranh đấu khắc nghiệt có bao nhiêu khó khăn thiếu thốn cả về vật chất lẫn ý thức nên hành trình tranh đấu của họ dằng dai ko có hồi kết. Vì vậy một tia hi vọng trở về là rất mỏng manh, ngày càng xa xôi khó nắm bắt được trong vô vọng. Trong bối cảnh lịch sử là trận đánh tranh kháng chiến chống Pháp, với sự đơn sơ về vũ khí của ta, sự nghèo nàn về vật chất khác nào lấy trứng chọi với đá. Vì vậy sự hi sinh là ko thể tránh khỏi. Họ phải vì nước quên thân vì dân phục vụ, hi sinh tính mệnh mình để đổi lấy độc lập tự do cho dân tộc. Bao nhiêu thế hệ trẻ cầm súng lên đường tranh đấu chỉ với khẩu hiệu giản dị “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

    Họ góp sức, họ hi sinh thầm lặng cho Tổ quốc ko một lời kêu ca hay phàn nàn nhưng mà đó là trách nhiệm, là trách nhiệm nghĩa vụ của một người công dân yêu nước nồng nàn, có ý chí tranh đấu ý thức thép cao cả. Hai câu thơ đã lột tả ý chí tranh đấu quật cường đó, làm nổi trội lên phẩm chất yêu nước người hùng của họ.Với nghệ thuật dùng từ “ko hứa ước”, “chia phôi” liên kết với giọng điệu chậm rãi nhẹ nhõm, Quang Dũng như lần nữa khắc họa sự hi sinh thầm lặng nhưng mà cao cả của đoàn quân Tây Tiến. Nỗi nhớ trào dâng trong lòng thi sĩ để ông tiếp tục chắp bút tô vẽ nên:

“Người nào lên Tây Tiến mùa xuân đó

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

    Có thể thấy “mùa xuân” có nhiều nghĩa. Đó là mùa đẹp nhất trong năm. Đây cũng là thời khắc thành lập đoàn quân Tây Tiến. Mùa xuân còn là mùa của tổ quốc. Nó cũng ẩn dụ cho tuổi xanh của người chiến sĩ đã một đi ko trở lại. Họ mang theo sức trẻ tâm huyết cháy bỏng của mình lên đường hành quân tranh đấu. Tuy nhiên, họ đã hi sinh nhưng hồn của họ ko về quê hương vội nhưng mà vẫn còn lượn lờ sang nước bạn hợp lực tác chiến với quân dân Lào chống Pháp. Họ quyết tâm thực hiện lí tưởng tới cùng nên kể cả lúc họ đã ngã xuống nhưng hồn của họ vẫn tranh đấu tới cùng, vẫn đồng hành đồng chí, sống trong lòng họ mãi mãi. Đó cũng mang tính sử thi cao. Cả tuổi xanh của họ chỉ với mục tiêu tranh đấu bảo vệ tổ quốc. Họ vẫn rong ruổi tranh đấu trên suốt cuộc hành trình khó khăn đó của mình. Phải chăng tình yêu quê hương tổ quốc của họ sâu đậm thấm nhuần vào máu thịt tới nhường nào mới có thể bất tử tương tự?

    Tóm lại, với giọng điệu trữ tình thắm thiết da diết, bốn câu thơ cuối được viết như những dòng chữ tạc trên bia mộ của những người chiến sĩ gan góc Tây Tiến. Đó là hình ảnh những người chiến sĩ dũng cảm, tâm huyết, tới lúc ngã xuống vẫn giữ trọn lời thề với quê hương tổ quốc. Họ là những con người đau thương nhưng ko bi quan, tràn đầy niềm tin và ý thức sục sôi tâm huyết căng tràn sức sống của tuổi xanh. Tây Tiến xứng đáng là bài thơ tuyệt vời của Quang Dũng góp nhặt để lại cho thế hệ sau.

Phân tích khổ cuối bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 5

    Tây Tiến là một trong những bài thơ được xem là hay nhất của Quang Dũng. Bài thơ được viết năm 1984, ở làng Phù Lưu Chanh lúc ông tạm xa đơn vị một thời kì. Đoàn quân Tây Tiến được thành lập mùa xuân năm 1947, chiến sĩ của đơn vị phần đông là người Hà Nội. Nội dung chủ yếu của bài thơ khắc họa người lính hào hoa và vẻ đẹp bi tráng. Đoạn cuối bài thơ Tây Tiến trình bày cảm tưởng của tác giả về đoàn quân và tình cảm đồng chí trong những tháng ngày tranh đấu đầy kỉ niệm.

Tây Tiến người đi ko hứa ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Người nào lên Tây Tiến mùa xuân đó,

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

    Ý thức của đoàn quân Tây Tiến trình bày trong khổ thơ này đó là “Người đi ko hứa ước” ra đi tranh đấu ko ước hứa ngày về, ý thức hi sinh vì nước, xả thân vì nước. Bởi lẽ, đường lên thăm thẳm một chia phôi: Mỗi bước chân hành quân đi lên, dốc đèo và những bản làng mờ sương lùi lại phía sau. Hoàn cảnh tranh đấu rất khắc nghiệt, có bao nhiêu khó khăn, thiếu thốn nên hành trình tranh đấu là những hi sinh tiếp nối, càng khó có hi vọng trở về. Do hoàn cảnh lịch sử quá ngặt nghèo, cuộc kháng chiến chống Pháp thời đoạn đầu chẳng khác nào lấy trứng chọi đá, yêu cầu phải lấy tính mệnh để đổi độc lập tự do. Bao thế hệ thanh niên cầm súng ra chiến trường với ý thức “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

    Ý thơ lột tả lí tưởng tranh đấu cao cả của anh quân nhân cụ Hồ, làm nổi trội phẩm chất yêu nước người hùng của họ. Do ý thức bi tráng đó nhưng mà mùa xuân thành lập đoàn quân trở thành một mốc lịch sử ghi nhận công lao to lớn của những con người người hùng bỏ mình vì nước. Những trái tim và vong hồn đó còn ở lại với Sầm Nứa, tan vào với núi sông nên sẽ bất tử với thời kì. Cách nói chẳng về xuôi trình bày thái độ bất cần, khinh bạc, trình bày chất lãng tử kiêu hùng nên ý thức hi sinh mang vẻ đẹp lãng mạn. Nghệ thuật dùng từ rất dứt khoát “ko hứa ước, chia phôi, hồn về” liên kết với giọng thơ nhẹ nhõm mềm mại nên đoạn thơ nói về sự hi sinh lại thấm đượm chất lãng mạn của các chiến sĩ Tây Tiến.

    Đoạn thơ cũng như bài thơ nói về cái chết nhưng ko gieo vào lòng người đọc sự bi người nào nhưng mà gợi ý thức bi tráng. Đoạn thơ còn bộc lộ tâm tư của thi sĩ: “Tây Tiến người đi ko hứa ước”. Người đi ở đây là tác giả. Tác giả đã ra đi ko hứa ngày về lại đơn vị cũ. Trong lúc đoàn binh hành quân càng về phía Tây càng xa cách, hi vọng ngày gặp lại càng mỏng manh. Trong vòng cách ko gian dịu vợi, nỗi nhớ đồng chí của thi sĩ càng tỏa ra mênh mông: “Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”. Nỗi nhớ trào lên trong lòng da diết bởi lẽ có bao nhiêu kỉ niệm tranh đấu với đoàn quân kể từ mùa xuân đó, do đó người đi xa nhưng mà tâm hồn vẫn thân thiện. Thi sĩ ở nơi này nhưng mà tâm hồn đã gợi lại nơi Sầm Nứa trên kia, vẫn gắn bó với đoàn quân. Sự phân thân đó cho thấy tình đồng chí, đồng chí thắm thiết của thi sĩ. Giọng điệu trữ tình góp phần làm nổi rõ tiếng nói tình cảm của thi sĩ. Đoạn thơ có hai giọng, giọng của đoàn binh được tác giả nói hộ và giọng của tác giả nên nội dung đa nghĩa, tạo ra vẻ đẹp ngôn từ.

    Đoạn thơ cuối này sử dụng văn pháp lãng mạn để nhấn mạnh vẻ đẹp ý thức hi sinh vì lí tưởng mang màu sắc lãng mạn của đoàn quân Tây Tiến. Vẻ đẹp chân dung của một tập thể người hùng tiêu biểu cho một thời kì lịch sử bi tráng được khắc họa bởi văn pháp tài hoa sẽ còn sống mãi trong lòng người đọc. Đoạn thơ cũng bộc lộ tình đồng chí, đồng chí thắm thiết của Quang Dũng. Từ sự liên kết một cách hài hòa giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mệnh vừa chân thực vừa có sức nói chung, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp.

    Đó là bức tượng đài được kết tinh từ âm hưởng bi tráng của cuộc kháng chiến đó. Đó là bức tượng đài được khắc tạc bằng cả tình yêu của Quang Dũng đối với những người đồng chí, đối với tổ quốc của mình. Vì thế từ bức tượng đài đã vút lên khúc hát ngợi ca của thi sĩ cũng như của cả tổ quốc về những người con người hùng đó.

Tương tự giainhat.vn đã trình diễn xong bài văn mẫu Phân tích khổ cuối bài thơ Tây Tiến. Kỳ vọng sẽ giúp ích các em trong quá trình làm bài và ôn luyện cùng tác phẩm. Chúc các em học tốt môn Văn!

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

Hình Ảnh về: Phân tích khổ cuối bài thơ Tây Tiến

(hay nhất)

Video về: Phân tích khổ cuối bài thơ Tây Tiến

(hay nhất)

Wiki về Phân tích khổ cuối bài thơ Tây Tiến

(hay nhất)

Phân tích khổ cuối bài thơ Tây Tiến

(hay nhất) -

Tuyển chọn những bài văn hay Phân tích khổ cuối bài thơ Tây Tiến.Với những bài văn mẫu hay nhất dưới đây, các em sẽ có thêm nhiều tài liệu hữu ích phục vụ cho việc học môn văn. Cùng tham khảo nhé! 

Phân tích khổ cuối bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 1

    Mọi thứ có thể bị quên lãng nhưng những người con đã hi sinh vì tổ quốc, vì dân tộc thì mãi mãi được khắc ghi, sống mãi với thời kì. Những người lính lớn lao của dân tộc được khắc họa trong những áng văn thơ cũng sẽ là những bức tượng đài uy nghiêm trường tồn mãi mãi với thời kì. Những người lính Tây Tiến trong bài thơ Tây Tiến cũng là những người tương tự. Khổ cuối bài thơ một lần nữa khắc họa lên những đặc điểm đáng quý của những người lính đó.

    Quang Dũng viết Tây Tiến lúc ông hồi ức lại những kỉ niệm về đồng chí, những người đã từng sống, từng tranh đấu nhưng cũng có người đã hy sinh, những người đã trở về với đất mẹ mến thương, nhưng dẫu sao đó cũng là những người mãi mãi nằm lại nơi biên thuỳ hay miền viễn xứ. Quang Dũng đã cho người đọc tưởng tượng ra những trở ngại khó khăn nhưng mà những người lính đã trải qua, tình cảm quân dân gắn bó tha thiết.

    Quang Dũng đã tạc dựng lên bức tượng đài người lính Tây Tiến trong tác phẩm của mình. Với hệ thống tiếng nói giàu hình ảnh, hàng loạt những thủ pháp như tương phản, nhân hoá, tăng cấp ý nghĩa để tạo ấn tượng mạnh để khắc tạc một cách thâm thúy vào tâm trí người đọc hình ảnh những người con người hùng của tổ quốc, của dân tộc. Bức tượng đài sừng sững theo thời kì, hiên ngang giữa núi rừng, giữa bom đạn của quân thù.

    Qua từng lời thơ, tác giả đã tô đậm cuộc sống khó khăn của những người lính Tây Tiến. Giữa rừng thiêng nước độc, bom đạn của quân thù bắn phá, đoàn quân cũng có lúc đã thấy mỏi mệt:


“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi ”

    Nhưng với ý thức sáng sủa, ko sợ khó khăn, quyết tranh đấu cho tổ quốc, những người lính đó lại cảm thấy yêu đời, lại hòa mình vào trong quang cảnh hết sức lãng mạn trong đêm liên hoan, đêm lửa trại thắm tình cá nước thì ở đây là hình ảnh đoàn binh ko mọc tóc da xanh như lá rừng. Khắc họa lên người lính người hùng nhưng Quang Dũng ko tránh né mô tả những trở ngại nhưng mà người lính Tây Tiến vượt qua. Những cơn sốt rét rừng làm tóc họ ko thể mọc được (chứ ko phải họ cố tình cạo trọc để đánh giáp lá cà cho dễ như nhiều người từng nói). Cũng vì sốt rét rừng nhưng mà da họ xanh như lá cây (chứ ko phải họ xanh màu lá ngụy trang), vẻ ngoài dường như rất tiều tụy. Khó khăn khó khăn là thế nhưng họ vẫn vui, vẫn hi vọng niềm tin thắng lợi của dân tộc.

    Bên trong những thân hình mỏi mệt, bệnh tật đó họ còn chứa đựng cả một sức mạnh áp đảo quân thù, họ hùng dũng như hổ báo, hùm beo. Bằng lời thơ hết sức chân thực của mình, Quang Dũng đã mô tả người lính với những nét khắc khổ tiều tụy nhưng vẫn gợi ra âm hưởng rất hào hùng bên trong những con người đó. Quang Dũng đã sử dụng thủ pháp tương phản ở câu thơ “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” ko chỉ làm nổi trội lên sức mạnh ý thức của người lính nhưng mà còn thấm sâu màu sắc văn hoá của dân tộc. Mỗi câu thơ của tác giả đã khiến người đọc nhận thấy những người lính Tây Tiến như chúa sơn lâm. Ko phải thi sĩ muốn “động vật hoá” người lính Tây Tiến nhưng mà muốn nói tới sức mạnh bách chiến bách thắng bằng một hình ảnh thân thuộc trong thơ văn xưa, khiến chúng ta nhớ tới câu thơ của Phạm Ngũ Lão.

“Hoành sóc nước nhà cáp kỷ thu

Tam quan kỳ hổ khí thôn ngưu”

Và ngay cả Hồ Chí Minh trong “Đăng sơn” cũng viết:

“Nghĩa quân tráng khí thôn ngưu đẩu

Thể diện sài long xâm lược quân”

    Tác giả đã vận dụng những ý thơ của những người đi trước để xây dựng hình ảnh những người lính lớn lao tiếp nối truyền thống quý báu của dân tộc. Đọc câu thơ: “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” ta như nghe thấy âm hưởng oai hùng của cả một dân tộc vang khắp núi rừng.

    Tuy họ phải trải qua những trở ngại khó khăn, cái chết có thể tới bất kỳ lúc nào nhưng những người lính vẫn luôn yêu đời, vẫn lãng mạn.

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

    Họ vẫn mơ về Hà Nội, với những người con gái đẹp, nơi có cuộc sống yên bình, độc lập. Người lính Tây Tiến dẫu “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” nhưng mà niềm thương nỗi nhớ vẫn hướng về một “dáng kiều thơm”. Chính nhờ vẻ đẹp đó của tâm hồn nhưng mà người lính có sức mạnh vượt qua mọi khó khăn, người lính trở thành một biểu tượng cho vẻ đẹp của con người Việt Nam. Quang Dũng đã có cái nhìn hết sức chân thực lúc phát xuất hiện bên trong những con người tranh đấu kiên cường với ý chí sắt thép cũng chính là con người có một đời sống tâm hồn phong phú. Người lính Tây Tiến ko chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông nhưng mà còn rất hào hoa, giữa bao nhiêu khó khăn, thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động trong một nỗi nhớ về một dáng kiều thơm, nhớ về vẻ đẹp của Hà Nội – Thăng Long xưa.

    Quang Dũng đã tạc lên những bức tượng đài người lính Tây Tiến bằng những nguồn ánh sáng tương phản lẫn nhau, vừa hiện thực vừa lãng mạn.

    Với câu thơ: “Tản mạn biên thuỳ mồ viễn xứ” nếu tách riêng ra người đọc sẽ cảm nhận thấy cái chết, về nấm mồ của người lính Tây Tiến ở nơi “viễn xứ”, nó sẽ tạo cảm giác như một nốt nhạc buồn của khúc hát hồn tử sĩ.

    Nhưng câu thơ thứ hai đã làm cho âm hưởng bài thơ thêm hào hùng:

“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

    Câu thơ này đã làm cho những nấm mồ tản mạn kia được nâng lên những tầng cao của đài tưởng vọng, nấm mộ của những người lính đã hiến dâng tuổi xanh của mình cho tổ quốc. Trong thơ Quang Dũng luôn là một sự nâng đỡ nhau của nhiều hình ảnh tương tự.

    Sự hi sinh đó còn đáng trân trọng hơn lúc Quang Dũng mô tả:

“Áo bào thay chiếu anh về đất”

    Những người lính đó lúc sống tranh đấu đã phải chịu những trở ngại khó khăn lúc hi sinh họ cũng vẫn phải chịu thiếu thốn, cảnh tiễn đưa họ ra đi với bao thiếu thốn, khó khăn, cái thuở những người lính Tây Tiến chết vì sốt rét nhiều hơn chết vì chiến trường. Lại trong cảnh kháng chiến còn rất khó khăn nên tiễn đưa người chết ko có cả một chiếc quan tài, chỉ với chiếc áo bào thay chiếu nhưng mà thôi. Câu thơ tả thực của Quang Dũng đã đẩy thành cảm hứng tráng lệ, coi chiếu là áo bào để cuộc tiễn đưa trở thành nghiêm trang, cổ truyền. Cũng có người hiểu tới chiếc chiếu cũng ko có, chỉ có chính tấm áo của người lính. Có nhiều cách hiểu về hình ảnh này, nhưng dù vậy nào thì người đọc cũng nhìn thấy cái bi tráng trong câu thơ, tạo nên một hình tượng đẹp về người lính Tây Tiến.

“Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

    Các anh về với đất, có đồng chí tống biệt, có núi sông đồng hành, cứng cáp sự hi sinh cao cả của các anh sẽ được đời đời kiếp kiếp ghi nhớ, sẽ là tấm gương cho thế hệ sau. Đó là những lời nhắn nhủ nhưng mà Quang Dũng muốn gửi gắm tới đồng chí của mình.

    Qua mỗi lời thơ Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mệnh vừa chân thực vừa lãng mạn. Đó là tình yêu của Quang Dũng đối với những người đồng chí, đối với tổ quốc của mình, là sự ca tụng vẻ đẹp của những con người đã tranh đấu hi sinh cho chúng ta có cuộc sống hôm nay.

Phân tích khổ cuối bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 2

    Một bản nhạc hay là một bản nhạc ko chỉ đoạn điệp khúc hay đoạn mở đầu hay nhưng mà đoạn cuối cũng phải hay, một tác phẩm văn học hay là một tác phẩm ko chỉ hay phần mở đầu, phần nội dung và phần kết thúc cũng mang tính gợi mở hay hướng người đọc tưởng tượng tới một viễn cảnh nọ. Bài thơ Tây Tiến của thi sĩ Quang Dũng có những đoạn nói về những cuộc hành quân khó khăn, những đêm liên hoan văn nghệ hay bức tượng đài người lính Tây Tiến rất ý nghĩa, rất hay. Thế nhưng lại có rất ít người biết rằng bốn câu thơ cuối bài thơ cũng rất đáng được chú ý. Bởi đây là một đoạn thơ trình bày được tấm lòng của thi sĩ dành cho Tây Tiến.

    Hai câu thơ đầu trình bày nỗi lòng của thi sĩ đối với đồng chí, những người còn sống và những người đã ngã xuống:

Tây tiến người đi ko hứa ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

    Những người lính cùng là những người tri thức nhưng trước lúc gia nhập đoàn binh Tây Tiến họ ko hề biết nhau. Họ đều là những người xa lạ, họ ko hứa nhau tòng quân đi giết mổ giặc, cũng chẳng hứa nhau đi lính là sẽ có ngày trở về. Đoàn quân Tây Tiến chính là nơi gắn kết họ lại thành một gia đình, thành những anh em gắn bó mật thiết. Quay trở về thực tại, Quang Dũng một mình đương đầu với nỗi thương nhớ đồng đối, đương đầu với những sự hi sinh của đồng chí mình nơi biên thuỳ cửa cửa ải. Thi sĩ càng cảm thấy nhớ, càng cảm thấy yêu quý đơn vị cũ của mình. Những người lính trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu cũng có một nỗi niềm như người lính Tây Tiến, từ những người xa lạ người lính Việt Nam gắn kết với nhau như anh em:

Tôi với anh đôi người xa lạ

Từ phương trời chẳng hứa quen nhau”

    Đường đi của Tây Tiến càng đi là càng chia phôi, giữa cái thảm khốc của chiến tranh, giữa sự gian ác của lũ giặc khốn nạn họ ko xác định sự chia phôi vừa lớn, vừa thăm thẳm như nghìn thước của núi cao kia. Những người đồng chí của Quang Dũng đã đi và ko hứa ngày trở lại.

    Trước thực tiễn ngày nay, xuất phát từ tình đồng chí đồng chí, từ tình quân dân keo sơn, từ những kỉ niệm và nỗi nhớ thi sĩ Quang Dũng khẳng định tâm hồn của mình luôn gắn bó với Sầm Nứa:

Người nào lên Tây tiến mùa xuân đó

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

    “người nào” là đại từ chỉ thi sĩ hay chỉ người lính Tây Tiến, nó ko được xác định. Có nhẽ thi sĩ cố tình nói như thế để thay mặt cho tất cả những người lính trong đoàn quân Tây Tiến dù còn sống hay đã chết đều trở về Sầm Nưa. Họ ko sinh ra ở mảnh đất biên thuỳ hẻo lánh, gian nan đó nhưng họ lại nguyện gắn bó tâm hồn mình với nó. Bởi nơi này chất chứa biết bao nhiêu kỉ niệm của Tây Tiến, cũng ở nơi đó biết bao nhiêu nấm mồ của những người người hùng Tây Tiến “dãi dầu” cuộc đời nhưng mà nằm lại.

    Đúng như thi sĩ Chế Lan Viên đã viết: “Lúc ta ở chỉ là nơi đất ở/ Lúc ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Thi sĩ Quang Dũng và những người lính Tây Tiến ko sinh ra ở mảnh đất biên thuỳ Sầm Nứa nhưng những kỉ niệm họ có ở đó, thời kì hoạt động ở dẫu là gian nan vất vả nhưng lúc qua rồi nó in dấu trong lòng họ sâu đậm. Đoạn thơ trình bày rõ được tâm tình của thi sĩ dành cho mảnh đất và con người nơi biên thuỳ cửa cửa ải.


Phân tích khổ cuối bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 3

    Khổ cuối bài thơ, âm điệu trở thành tha thiết sâu lắng, bổi hổi. Vẫn là tiếng lòng rung lên theo hoài niệm. Biết bao thương nhớ khôn nguôi:

“Tây Tiến người đi ko hứa ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Người nào lên Tây Tiến mùa xuân đó

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”.

    Mùa xuân đó, lúc “Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông” (Hồ Chí Minh), đoàn binh Tây Tiến xuất quân. Họ đã tiến ra sa trường với lời hứa ước: “Nhất khứ bất phục hoàn”. Đó là lời thề, là quyết tâm của cả một thế hệ “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Các anh đã giã từ quê hương. Những người nào còn người nào mất sau những tháng ngày đầy máu lửa? Bè bạn, đồng chí thân yêu, những người nào đó “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”. Nhưng quê hương vẫn đời đời kiếp kiếp ôm ấp bóng hình anh, người chiến sĩ trong binh đoàn Tây Tiến. Bài thơ đã khép lại nhưng mà âm điệu của nó vẫn bổi hổi vang vọng trong tâm hồn ta.

    Có những bài thơ một thời nhưng cũng có một số bài thơ mãi mãi. Thơ hay ko có tuổi cũng như mùa xuân ko tháng ngày. Đó là “Đèo cả” của Hữu Loan, là “Nhớ” của Hồng Nguyên, “Đồng Chí” của Chính Hữu. “Tây Tiến”của Quang Dũng

    “Tây Tiến” là một trong những bài thơ hay nhất viết về người chiến sĩ cầm súng bảo vệ Tổ quốc, tiêu biểu cho thơ ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp. Với văn pháp lãng mạn, với cốt cách tài hoa, phong thái hào hùng của thi sĩ – chiến sĩ, Quang Dũng đã khắc chạm vào thời kì, vào thơ ca và lòng người hình ảnh người chiến sĩ vô danh Thăng Long – Hà Nội, của dân tộc Việt Nam người hùng. Trước vong hồn người liệt sĩ, ta thắp lên nén tâm nhang, nghiêng mình với tình cảm hàm ơn và kính phục thi sĩ và những chiến sĩ vinh quang trong đoàn binh Tây Tiến.

Phân tích khổ cuối bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 4

    Bài thơ “Tây Tiến” là một trong những bài thơ rực rỡ nhất của Quang Dũng nhưng mà người đọc ấn tượng nhất. Bài thơ viết năm 1948. Xúc cảm bao trùm toàn thể bài thơ là một nỗi nhớ. Qua nỗi nhớ đó, hình ảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ hiểm trở và dữ dội hiện lên như một bức tranh hoành tráng. Và trong bài thơ, ông cũng ko quên lột tả trần truồng những khó khăn hi sinh của người lính Tây Tiến. Chỉ có điều nó trình bày bằng một ngòi bút lãng mạn. Qua cái nhìn của thi sĩ, cái bi bỗng trở thành cái hùng tráng. Khổ cuối bài thơ cũng rất rực rỡ, gói gọn tình cảm của thi sĩ vào những câu chữ:

“Tây Tiến người đi ko hứa ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Người nào lên Tây Tiến mùa xuân đó

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

    Thật vậy, đoàn binh Tây Tiến mang trên mình sứ mệnh bảo vệ quê hương tổ quốc. Họ luôn dốc toàn thể sức lực của mình. Họ hàng ngày vẫn phải tranh đấu thảm khốc với quân thù nguy hiểm, họ còn phải quật cường trước tự nhiên hiểm trở với những căn bệnh sốt rét, đói nhưng họ vẫn uy nghiêm kiêu hùng vượt lên trên tất cả. Họ là bức tượng cho ý thức yêu nước lớn lao, quyết đấu quyết thắng. Trước lúc lên đường tham gia tranh đấu, họ chỉ là những cô cậu sinh viên Hà thành với tuổi đời còn rất trẻ, họ có hoài bão ước mơ. Lúc tổ quốc gọi, họ sẵn sàng bỏ lại sau lưng tất cả lên đường cầm súng tranh đấu với ý thức quả cảm. Họ biết ranh giới giữa sự sống và cái chết mỏng manh như sợi chỉ có thể mất tích bất kỳ lúc nào. Họ lên đường tranh đấu, ra đi ko hứa ngày trở về. Họ trao mạng sống của mình cho Tổ quốc – nơi đã sinh ra họ.

    Ở nơi rừng thiêng nước độc, mỗi bước chân hành quân của họ đều rất khó khăn, nhiều gian truân. Họ vẫn đi, họ vượt qua dốc đèo hiểm trở, họ bỏ lại những bản làng khuất dần sau rặng tre: “Đường lên thăm thẳm một chia phôi”. Do hoàn cảnh tranh đấu khắc nghiệt có bao nhiêu khó khăn thiếu thốn cả về vật chất lẫn ý thức nên hành trình tranh đấu của họ dằng dai ko có hồi kết. Vì vậy một tia hi vọng trở về là rất mỏng manh, ngày càng xa xôi khó nắm bắt được trong vô vọng. Trong bối cảnh lịch sử là trận đánh tranh kháng chiến chống Pháp, với sự đơn sơ về vũ khí của ta, sự nghèo nàn về vật chất khác nào lấy trứng chọi với đá. Vì vậy sự hi sinh là ko thể tránh khỏi. Họ phải vì nước quên thân vì dân phục vụ, hi sinh tính mệnh mình để đổi lấy độc lập tự do cho dân tộc. Bao nhiêu thế hệ trẻ cầm súng lên đường tranh đấu chỉ với khẩu hiệu giản dị “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

    Họ góp sức, họ hi sinh thầm lặng cho Tổ quốc ko một lời kêu ca hay phàn nàn nhưng mà đó là trách nhiệm, là trách nhiệm nghĩa vụ của một người công dân yêu nước nồng nàn, có ý chí tranh đấu ý thức thép cao cả. Hai câu thơ đã lột tả ý chí tranh đấu quật cường đó, làm nổi trội lên phẩm chất yêu nước người hùng của họ.Với nghệ thuật dùng từ “ko hứa ước”, “chia phôi” liên kết với giọng điệu chậm rãi nhẹ nhõm, Quang Dũng như lần nữa khắc họa sự hi sinh thầm lặng nhưng mà cao cả của đoàn quân Tây Tiến. Nỗi nhớ trào dâng trong lòng thi sĩ để ông tiếp tục chắp bút tô vẽ nên:

“Người nào lên Tây Tiến mùa xuân đó

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

    Có thể thấy “mùa xuân” có nhiều nghĩa. Đó là mùa đẹp nhất trong năm. Đây cũng là thời khắc thành lập đoàn quân Tây Tiến. Mùa xuân còn là mùa của tổ quốc. Nó cũng ẩn dụ cho tuổi xanh của người chiến sĩ đã một đi ko trở lại. Họ mang theo sức trẻ tâm huyết cháy bỏng của mình lên đường hành quân tranh đấu. Tuy nhiên, họ đã hi sinh nhưng hồn của họ ko về quê hương vội nhưng mà vẫn còn lượn lờ sang nước bạn hợp lực tác chiến với quân dân Lào chống Pháp. Họ quyết tâm thực hiện lí tưởng tới cùng nên kể cả lúc họ đã ngã xuống nhưng hồn của họ vẫn tranh đấu tới cùng, vẫn đồng hành đồng chí, sống trong lòng họ mãi mãi. Đó cũng mang tính sử thi cao. Cả tuổi xanh của họ chỉ với mục tiêu tranh đấu bảo vệ tổ quốc. Họ vẫn rong ruổi tranh đấu trên suốt cuộc hành trình khó khăn đó của mình. Phải chăng tình yêu quê hương tổ quốc của họ sâu đậm thấm nhuần vào máu thịt tới nhường nào mới có thể bất tử tương tự?

    Tóm lại, với giọng điệu trữ tình thắm thiết da diết, bốn câu thơ cuối được viết như những dòng chữ tạc trên bia mộ của những người chiến sĩ gan góc Tây Tiến. Đó là hình ảnh những người chiến sĩ dũng cảm, tâm huyết, tới lúc ngã xuống vẫn giữ trọn lời thề với quê hương tổ quốc. Họ là những con người đau thương nhưng ko bi quan, tràn đầy niềm tin và ý thức sục sôi tâm huyết căng tràn sức sống của tuổi xanh. Tây Tiến xứng đáng là bài thơ tuyệt vời của Quang Dũng góp nhặt để lại cho thế hệ sau.

Phân tích khổ cuối bài thơ Tây Tiến – Bài mẫu 5

    Tây Tiến là một trong những bài thơ được xem là hay nhất của Quang Dũng. Bài thơ được viết năm 1984, ở làng Phù Lưu Chanh lúc ông tạm xa đơn vị một thời kì. Đoàn quân Tây Tiến được thành lập mùa xuân năm 1947, chiến sĩ của đơn vị phần đông là người Hà Nội. Nội dung chủ yếu của bài thơ khắc họa người lính hào hoa và vẻ đẹp bi tráng. Đoạn cuối bài thơ Tây Tiến trình bày cảm tưởng của tác giả về đoàn quân và tình cảm đồng chí trong những tháng ngày tranh đấu đầy kỉ niệm.

Tây Tiến người đi ko hứa ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Người nào lên Tây Tiến mùa xuân đó,

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

    Ý thức của đoàn quân Tây Tiến trình bày trong khổ thơ này đó là “Người đi ko hứa ước” ra đi tranh đấu ko ước hứa ngày về, ý thức hi sinh vì nước, xả thân vì nước. Bởi lẽ, đường lên thăm thẳm một chia phôi: Mỗi bước chân hành quân đi lên, dốc đèo và những bản làng mờ sương lùi lại phía sau. Hoàn cảnh tranh đấu rất khắc nghiệt, có bao nhiêu khó khăn, thiếu thốn nên hành trình tranh đấu là những hi sinh tiếp nối, càng khó có hi vọng trở về. Do hoàn cảnh lịch sử quá ngặt nghèo, cuộc kháng chiến chống Pháp thời đoạn đầu chẳng khác nào lấy trứng chọi đá, yêu cầu phải lấy tính mệnh để đổi độc lập tự do. Bao thế hệ thanh niên cầm súng ra chiến trường với ý thức “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

    Ý thơ lột tả lí tưởng tranh đấu cao cả của anh quân nhân cụ Hồ, làm nổi trội phẩm chất yêu nước người hùng của họ. Do ý thức bi tráng đó nhưng mà mùa xuân thành lập đoàn quân trở thành một mốc lịch sử ghi nhận công lao to lớn của những con người người hùng bỏ mình vì nước. Những trái tim và vong hồn đó còn ở lại với Sầm Nứa, tan vào với núi sông nên sẽ bất tử với thời kì. Cách nói chẳng về xuôi trình bày thái độ bất cần, khinh bạc, trình bày chất lãng tử kiêu hùng nên ý thức hi sinh mang vẻ đẹp lãng mạn. Nghệ thuật dùng từ rất dứt khoát “ko hứa ước, chia phôi, hồn về” liên kết với giọng thơ nhẹ nhõm mềm mại nên đoạn thơ nói về sự hi sinh lại thấm đượm chất lãng mạn của các chiến sĩ Tây Tiến.

    Đoạn thơ cũng như bài thơ nói về cái chết nhưng ko gieo vào lòng người đọc sự bi người nào nhưng mà gợi ý thức bi tráng. Đoạn thơ còn bộc lộ tâm tư của thi sĩ: “Tây Tiến người đi ko hứa ước”. Người đi ở đây là tác giả. Tác giả đã ra đi ko hứa ngày về lại đơn vị cũ. Trong lúc đoàn binh hành quân càng về phía Tây càng xa cách, hi vọng ngày gặp lại càng mỏng manh. Trong vòng cách ko gian dịu vợi, nỗi nhớ đồng chí của thi sĩ càng tỏa ra mênh mông: “Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”. Nỗi nhớ trào lên trong lòng da diết bởi lẽ có bao nhiêu kỉ niệm tranh đấu với đoàn quân kể từ mùa xuân đó, do đó người đi xa nhưng mà tâm hồn vẫn thân thiện. Thi sĩ ở nơi này nhưng mà tâm hồn đã gợi lại nơi Sầm Nứa trên kia, vẫn gắn bó với đoàn quân. Sự phân thân đó cho thấy tình đồng chí, đồng chí thắm thiết của thi sĩ. Giọng điệu trữ tình góp phần làm nổi rõ tiếng nói tình cảm của thi sĩ. Đoạn thơ có hai giọng, giọng của đoàn binh được tác giả nói hộ và giọng của tác giả nên nội dung đa nghĩa, tạo ra vẻ đẹp ngôn từ.

    Đoạn thơ cuối này sử dụng văn pháp lãng mạn để nhấn mạnh vẻ đẹp ý thức hi sinh vì lí tưởng mang màu sắc lãng mạn của đoàn quân Tây Tiến. Vẻ đẹp chân dung của một tập thể người hùng tiêu biểu cho một thời kì lịch sử bi tráng được khắc họa bởi văn pháp tài hoa sẽ còn sống mãi trong lòng người đọc. Đoạn thơ cũng bộc lộ tình đồng chí, đồng chí thắm thiết của Quang Dũng. Từ sự liên kết một cách hài hòa giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mệnh vừa chân thực vừa có sức nói chung, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp.

    Đó là bức tượng đài được kết tinh từ âm hưởng bi tráng của cuộc kháng chiến đó. Đó là bức tượng đài được khắc tạc bằng cả tình yêu của Quang Dũng đối với những người đồng chí, đối với tổ quốc của mình. Vì thế từ bức tượng đài đã vút lên khúc hát ngợi ca của thi sĩ cũng như của cả tổ quốc về những người con người hùng đó.

Tương tự giainhat.vn đã trình diễn xong bài văn mẫu Phân tích khổ cuối bài thơ Tây Tiến. Kỳ vọng sẽ giúp ích các em trong quá trình làm bài và ôn luyện cùng tác phẩm. Chúc các em học tốt môn Văn!

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

[rule_{ruleNumber}]

Source: giainhat.vn
Categories: Giáo dục

Viết một bình luận