Phân tích cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ qua bài thơ Bài ca ngất ngưởng

Tuyển chọn những bài văn hay Phân tích cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ qua bài thơ Bài ca ngất ngưởng.Với những bài văn mẫu ngắn gọn, cụ thể, hay nhất dưới đây, các em sẽ có thêm nhiều tài liệu hữu ích phục vụ cho việc học môn văn. Cùng tham khảo nhé! 

Phân tích cái tôi ngất ngưởng – Mẫu 1

    Nguyễn Công Trứ đã từng viết:

“Kiếp sau xin chớ làm người

Làm cây thông đứng giữa trời nhưng reo”

    Ông nguyện làm cây thông để đứng giữa đất trời nhưng đón gió bốn phương, để cất lên tiếng hát ung dung, tự tại, trình bày lối sống “ngất ngưởng”. Lối sống đấy đã thấm nhuần trong sáng tác của ông và đặc trưng trong tác phẩm Bài ca ngất ngưởng cái tôi ngất ngưởng được bộ lộ rõ nét hơn bao giờ hết.


    Trước hết về từ “ngất ngưởng” có tức là tư thế đứng cao cheo leo, ko vững chãi đối với sự vật. Còn đối với con người trình bày một cách sống, thái độ sống ngang tàng, vượt lên trên những luân lí thông thường. Đối với Nguyễn Công Trứ, ngất ngưởng là phong cách sống nhất quán của ông nó được bộc lộ nhất quán từ lúc ông ra làm quan cho tới lúc ông lui về quê nhà ngơi nghỉ.

    Trong tác phẩm, cái tôi ngất ngưởng trước hết trình bày trong việc ông tự nhận thấy vai trò trách nhiệm của mình đối với cuộc đời: Vũ trụ nội mạc phi phận sự/ Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng. Có mấy người nào được như Nguyễn Công Trứ dám khẳng định phận sự của bản thân trong trời đất. Nếu như các thi sĩ khác thường trình bày chí làm trai: “Làm trai phải lạ ở trên đời/ Há để càn khôn tự chuyển dời” (Phan Bội Châu) còn đối với Nguyễn Công chứ ông tức khắc khẳng định vai trò trách nhiệm của bản thân đối với trời đất, với dân với nước. Đây cũng chính là tuyên ngôn của thi sĩ về chí làm trai, nó trở thành quan niệm sống nhất quán trong sự nghiệp sáng tác của ông: “Chí làm trai Nam Bắc Đông Tây/ Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể” hay “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông” “Khắp trời đất ngang dọc, ngang dọc/ Nợ tang bồng vay trả, trả vay”. Đây đồng thời cũng trình bày cái tôi “ngất ngưởng” nhất quán trong sáng tác của ông. Đối với ông đã làm trai ở trong trời đất thì phải “đầu đội trời chân đạp đất”, phải làm những việc có ích cho nước, cho đời.

    Để minh chứng cho tài năng của mình, đồng thời cũng là trình bày cái tôi ngông ngạo hơn đời, Nguyễn Công Trứ đã liệt kê những chức danh mình đã từng làm lúc ở chốn quan trường:

Lúc Thủ khoa, lúc Tham tán, lúc Tổng đốc Đông

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

Lúc bình Tây, cờ đại tướng

Có lúc về Phủ doãn Thừa Thiên

    Ông Hi Văn là một người có thực tài và thực danh. Ông mang tài học hành của bản thân để thi thố với người đời: “Cái nợ cầm thư phải trả xong”, đỗ Thủ khoa trường Nghệ An. Làm quan võ, giữ chức Tham tán đại thần đi dẹp loạn ở Cao Bằng; làm quan văn, là Tổng đốc Đông (Hải Dương và Quảng Yên – Quảng Ninh). Câu thơ với nhịp nhanh, giọng thơ đầy vui sướng, hào sảng bộc lộ niềm tự hào khẳng định bản thân là một người có tài năng lỗi lạc.

    Bằng lời tự thuật hết sức thật tình đồng thời cũng đầy tự hào Nguyễn Công Trứ đã khẳng định tài năng lí tưởng trung quân, lòng tự hào về phẩm chất cũng như năng lực của chính mình. Dù trong chốn quan trường nhiều o bế nhưng lối sống tài tử, phóng khoáng, cái tôi ngạo nghễ, ngất ngưởng, khác đời vẫn được trình bày một cách trọn vẹn. Đó là thái độ sống của người quân tử đầy lí tưởng, khả năng, tự tin và kiên cường.

    Sau nhiều năm hiến dâng cho nước, cho đời, Nguyễn Công Trứ cáo quan về ở ẩn, lúc này cái tôi ngất ngưởng của ông có dịp bộ lộ, trình bày rõ hơn bao giờ hết. Lối sống theo ý thích, sở nguyện của tư nhân: cười bò đeo đạc ngựa; đi chùa nhưng lại có gót tiên theo sau; lúc ca lúc tửu, lúc cắc, lúc tùng. Cuộc sống phiêu diêu, vui hưởng những thú vui trần tục. Ông ko màng tới chuyện khen chê, được mất của thế gian: “Được mất dương dương người thái thượng/ Khen chê phơi phới ngọn đông phong” ông tự sánh minh với bậc danh tướng và tự khẳng định lòng trung với vua:

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

Trong triều người nào ngất ngưởng như ông

    Bản ngã ngất ngưởng một lần nữa được bộc lộ qua ba câu thơ cuối bài. Ông tự khẳng định mình là người trung thần, làm tròn đạo vua tôi, điều này đúng với thực tiễn làm quan của ông, ông hiến dâng hết mình cho tới năm 70 tuổi mới cáo quan về ở ẩn. Điều này đồng thời cũng thống nhất với quan niệm về chí làm trai “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” đã được ông nêu ở phần đầu tác phẩm. Với lối so sánh bản thân ngang hàng với bậc người hùng như: Nhạc Phi, Hàn Kì,… của Trung Quốc ông đã một lần nữa khẳng định tài năng cũng như công lao của mình một cách đĩnh đạc, hào hùng. Và cũng từ những chiến công đó ông có thể mạnh mẽ, dõng dạc tuyên bố với toàn người đời: “Trong triều người nào ngất ngưởng như ông”. Cái ngất ngưởng của lối sống tự do của bậc tài tử, ông ko ngần ngại tự khẳng định tài năng, tư cách của mình. Thái độ sống ngất ngưởng đầy thử thách đấy cũng chính là sự thử thách với những tôn ti, trật tự với xã hội phong kiến đương thời.

    Cái tôi ngất ngưởng, ngông ngạo của Nguyễn Công Trứ đã được trình bày một cách trọn vẹn, đầy đủ nhất qua thể hát nói đầy tự do, phóng túng, chính thể loại đã góp phần làm bật lên cái tôi vượt ra ngoài phạm vi của tác giả. Cái tôi ngông ngạo, của tác giả là cái tôi hơn đời, dám khẳng định tài năng và tư cách của bản thân, đó là còn là cái tôi hiến dâng hết sức mình cho đời, cho nước.

Phân tích cái tôi ngất ngưởng – Mẫu 2

    Trong vườn hoa văn học Việt Nam luôn tỏa ngát những bông hoa muôn màu, muôn sắc. Giữa vườn hoa ngát hương đấy, Nguyễn Công Trứ nổi lên như một bông hoa với hương sắc rất đặc trưng với phong cách ngất ngưởng. Đặc thù, cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ được trình bày rõ nét qua bài thơ “Bài ca ngất ngưởng”.

    Trước hết cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ được trình bày rõ nét trong cách ông tự khoe tài, khoe danh vị của mình với một thái độ tự trọng và đầy hào hứng.

Vũ trụ nội mạc phi nhân sự

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

Lúc Thủ khoa, lúc Tham tán, lúc Tổng Đốc đông

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

Lúc Bình Tây cờ đại tướng

Có lúc về Phủ Diễm Thừa Thiên

    Nguyễn Công Trứ đã khoe hết, phô diễn hết những cái danh vị của bản thân mình, khoe hết cả cái tài văn võ song toàn của bản thân với một thái độ đầy tự hào của một con người ý thức rõ tài năng, danh vị của mình. Những cái tài nhưng ông khoe ra với mọi người mang một nội hàm ý nghĩa khá rộng, xét tới cùng nó gắn với chuyện kinh bang tế thế. Những gì ông kể, từ nhiệm “Hi Văn tài bộ” rồi “Thủ khoa”, “Tham tán”, “Tổng Đốc đông”,…đều là những danh tước, những địa vị, những chiến tích nhưng ông đã từng tham gia và để lại những tiếng vọng lớn cho đời sau. Những gì nhưng ông khoe ko phải là cách nói sáo rỗng nhưng nó đều là sự thực bởi lẽ ông là một người thực tài, thực danh trong suốt cuộc đời của mình. Và tương tự, việc ông thị tài khoe tài ko chỉ là cách ông trình bày cái ngông, cái ngất ngưởng của mình nhưng hơn thế nữa đấy còn là cách thị tài, khoa tài của một con người tự ý thức một cách rõ nét về tài năng và những hiến dâng, nỗ lực của bản thân mình.

    Đồng thời, cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ còn trình bày ở phong cách sống khác đời, khác người lúc ông “gác gươm rửa kiếm” để tìm về với lối sống khác giữa cuộc đời – lối sống trần tục nhưng tự do, phóng túng.

Gót tiên theo lững thững một vài gì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

    Nguyễn Công Trứ đã lựa chọn cho mình một lối sống ngược đời, trái khoáy, trái với những chuẩn mực thông thường của người đời. Đã từng là một vị đại thần, một danh tướng, một vị đại thần được biết tới là “tay kiếm cung” thế nhưng nay, Nguyễn Công Trứ lại lựa chọn sống cuộc đời bình dị, thậm chí là “nên dạng từ bi”. Dù đi vãn cảnh chùa, đi thăm thú những danh lam thắng cảnh nhưng ông vẫn mang đồng hành mình “một vài dì” , đó là những nàng hầu xinh đẹp với “gót tiên lững thững” – một cảnh tượng xưa nay chưa từng có, một việc làm khác người khiến tới ngay cả ông bụt cũng phải “nực cười ông ngất ngưởng”. Một hành động trái khoáy, ngược với những chuẩn mực đạo đức thông thường đấy vậy nhưng với Nguyễn Công Trứ điều đó chẳng có vấn đề gì, cũng khiến bụt phải mỉm cười cho qua. Phải chăng, đó chính là cách Nguyễn Công Trứ trình bày chất tài hoa, tài tử ở trong mình và để rồi nó khiến Bụt “nếu ko đồng lõa thì cũng phải bỏ qua cho ông bằng một cái cười xòa.”

    Thêm vào đó, cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ còn được trình bày rõ nét ở khả năng sống của một con người tài năng, ko quan tâm, quan tâm tới việc được – mất, khen – chê.

Được mất dương dương người thái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong

    Với hai câu thơ, nhưng dường như Nguyễn Công Trứ đã trình bày một cách rõ nét trước mắt độc giả khả năng sống của mình. Dẫu ông có một phong cách sống, một lối sống khác người, khác đời nhưng ông chưa một lần quan tâm, quan tâm tới việc người đời sẽ khen chê mình như thế nào và mình có thể dành được hay mất đi những gì. Thái độ sống đấy của Nguyễn Công Trứ cho thấy một khả năng sống vững vàng, ko màng lợi danh của ông. Hơn nữa, Nguyễn Công Trứ là một nhà nho chân chính bởi vậy tư tưởng nhà Nho vẫn luôn sống mãi trong ông, đó chính là tư tưởng trung quân ái quốc như ông đã từng nói:

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.

    Và để rồi, tới cuối cùng ông tổng kết lại cuộc đời mình, tổng kết lại cái ngông của mình bằng một câu thơ cứng ngắc đầy vẻ ngông nghênh, ngạo nghễ, đầy thử thách.

Trong triều người nào ngất ngưởng được như ông.

    Tóm lại, Nguyễn Công Trứ thông qua bài thơ “Bài ca ngất ngưởng” đã trình bày một cái tôi ngất ngưởng – một thái độ, một cách sống, một lối xử sự có phần khác lạ, thậm chí thử thách với các chuẩn mực thông thường nhưng nó vẫn được người đời chấp nhận.

Phân tích cái tôi ngất ngưởng – Mẫu 3


    Đặc trưng của con người trong thơ văn trung đại đó là cái ta chung, bản ngã riêng lẻ và cái tôi tư nhân bị lu mờ, ít thấy tác giả xuất hiện trực tiếp do người trung đại ko coi mình là trung tâm nhưng chỉ là một bộ phận trong chỉnh thể lớn. Tuy nhiên tới với thơ ca của Nguyễn Công Trứ ông lại có những cải cách mới mẻ. Đặc thù là tác phẩm “Bài ca ngất ngưởng” trình bày cái tôi “ngất ngưởng”, cái tôi ngông muốn vượt ra khỏi lễ giáo phong kiến lúc đã hiểu rõ về thời đại, ý thức được trị giá của bản thân mình.

    Để hiểu được cái tôi “ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ trước tiên ta phải hiểu được ý nghĩa của từ ngất ngưởng. Theo tự điển Tiếng Việt ngất ngưởng ở thế ko vững, lắc lư nghiêng ngả như chực ngã. Nhưng đặt trong văn cảnh bài thơ ta nên hiểu theo cách của Nguyễn Đình Chú đó là “nhằm để diễn tả một tư thế, một thái độ, một ý thức, một con người vươn lên trên thế tục, sống giữa mọi người nhưng dường như ko nhìn thấy người nào, đi giữa cuộc đời nhưng dường như chỉ biết có mình, một con người khác đời và bất chấp mọi người”. Lối sống khẳng định con người tư nhân riêng lẻ của ông điều đó được trình bày dưới những nội dung sau.

    Thứ nhất ông sống “ngất ngưởng” nhưng ko phải là kẻ bất tài vô dụng nhưng đã từng là một con người tài hoa, lỗi lạc lập nhiều công trạng, từng giữ chức vị cao trong triều. Một con người dám tuyên bố về chí làm trai, trình bày triết lí sống nhưng mình đã theo đuổi “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” (Mọi việc trong trời đất chẳng có việc nào ko là phận sự của ta). Ý thức nhập thế tích cực, ý thức gánh vác việc đời, có trách nhiệm với đời tư tưởng đó đã được kế thừa từ các tiền nhân đời trước như Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm hay Phan Bội Châu. Tiếp đó ông tự khẳng định tài năng của mình bằng cách tự xưng “Ông Hi Văn tài bộ” – một con người tài hoa, và tuần tự liệt kê các công trạng, chức vụ nhưng mình đã nắm giữ “Lúc thủ khoa, lúc Tham tán, lúc Tổng đốc Đông”, “Lúc Bình Tây, cờ đại tướng” rồi lúc “về phủ doãn Thừa Thiên” tác giả một mặt rất tự hào về bản thân mình song ông lại coi đó là lúc mình “đã vào lồng” cho thấy sự gò bó, hạn hẹp ở chốn quan trường đối với một tâm hồn tự do, phóng khoáng.

    Thứ hai cái tôi “ngất ngưởng” được bộc lộ rõ nét nhất vào thời kì lúc tác giả đã “đô môn giải tố”, cởi trả mũ ấn trở về sống cuộc sống bình yên để trình bày cái chí của mình. Phong cách sống khác người được tái tạo qua các hình ảnh:

“Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

Kìa núi nọ phau phau mây trắng

Tay kiếm cung nhưng nên dạng từ bi

Gót tiên theo lững thững một vài dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”

    Người ta cưỡi ngựa còn ông cưỡi bò, đạc ngựa lại đeo cho bò vàng. Tương truyền rằng ông còn đeo mo cau buộc chỗ đuôi bò và nói là để che mồm thế gian, cả người và bò đều ngất ngưởng như để thử thách mồm đời. Thật chỉ có Nguyễn Công Trứ mới dám làm tương tự một cái tôi ngông khác thường, hiếm có. Nhắc tới kiếm cung con người ta nghĩ ngay tới việc chém giết thịt binh đao nhưng với ông lại “nên dạng từ bi” mới lạ. Vào chùa vãng cảnh, ngắm “núi nọ phau phau mây trắng” tìm sự thoát tục nhưng “Gót tiên lững thững một vài dì”và những nàng hầu xinh đẹp theo sau. Hình ảnh ông bụt xuất hiện làm cho tứ thơ càng trở thành rực rỡ thực thực, ảo ảo giữa đường đời. Đấy là bụt cười hay người đời cười hay là chính tác giả đang tự cười mình? Nghệ thuật đối ý tương phản gay gắt trong các câu thơ cho thấy tư cách khác người của “Ông ngất ngưởng”.

    Thứ ba Nguyễn Công Trứ lựa chọn cách sống “ngất ngưởng” cho mình lúc đã lập nhiều công trạng và có những đóng góp to lớn cho quốc gia. Sau lúc đã trả xong “nợ tang bồng”, “vẹn đạo sơ chung” ông cho phép mình được sống với thú vui tiêu diêu của bản thân. Ông quan niệm “Cuộc đời hành lạc chơi đâu là lãi đấy” cho nên ông mặc kệ tiếng khen chê của người đời, ông cho rằng chuyện được mất trong nhân gian là lẽ thế tất nên cứ “dương dương người thái thượng”, “phơi phới ngọn đông phong”. Đó là một lối sống nhàn nhã, ung dung, tự tại mang ý niệm riêng với cái ngông ngạo nghễ trước đời của tác giả.

    Thứ tư tác giả liệt kê những thú vui “ngất ngưởng” của mình là

“Lúc ca, lúc tửu, lúc cắc, lúc tùng

Ko phật, ko tiên, ko vướng tục”.

    Nhịp thơ 2/2/2/2, 2/2/3 làm cho ngữ điệu nói bộc lộ rõ, làm cho tính chủ thể của lời văn được nhất quán và xuất hiện giọng điệu khẳng khái, ngang tàn. Ba từ “ko” lặp lại liên tục trình bày sự tự do ko bị ràng buộc, con người tài tử đấy đã “thoát vòng cương tỏa, thoát sáo, thoát tục lụy, lợi danh, nắm lấy phút vui hiện nay”.

    Nguyễn Công Trứ là một nhà Nho được tôi rèn, mài giũa nơi cửa Khổng sân Trình với sự ý thức về tài năng, đức độ của mình ông tự tin xếp mình ngang hàng với “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú”. Ông còn tự nhận thấy mình là kẻ nhưng:

“Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

Trong triều người nào ngất ngưởng như ông”.

    Kết thúc bài hát tác giả tự xưng bằng một tiếng “ông” hào hùng. Cái tôi tư nhân được phô diễn tột đỉnh, tự tin khẳng định trong triều chẳng có người nào được như mình. Câu thơ vừa khẳng định vừa trình bày sự ca tụng đầy tự hào của tác giả.

    Với những cải cách mới mẻ về nghệ thuật câu thơ dài ngắn linh hoạt không giống nhau, nghệ thuật đối ý tương phản, sử dụng điệp từ, điệp cấu trúc đã khắc họa thành công hình ảnh một Nguyễn Công Trứ với cái tôi ngất ngưởng, cái tôi ngông trên đường đời tự tin khẳng định phong cách tư nhân của mình.

Phân tích cái tôi ngất ngưởng – Mẫu 4

    Từ xa xưa tới nay, thơ trước hết là tấm gương phản chiếu tâm hồn và tình cảm của chính thi sĩ. Ko những thế, qua thơ người đọc còn thấy rất rõ cốt cách và phong thái của mỗi thi nhân. Người nào đó đã nói: Văn là người. Điều đó thật đúng với những nhà văn, thi sĩ lớn. Ở họ văn với người là một, con người trong văn học và con người ngoài đời tuy ko hẳn tương đồng, nhưng rất thống nhất. Nguyễn Công Trứ thuộc những nhà văn như thế. Cho nên, qua Bài ca ngất ngưởng ta có thể tưởng tượng rất rõ chân dung một Nguyễn Công Trứ tự họa.

    Bao trùm lên toàn thể bài ca là hình tượng một con người “ngất ngưởng”. Nhưng đó ko phải là cái ngất ngưởng của một người gàn dở, tự hợm mình và hợm đời, nhưng là cái ngất ngưởng của một con người đầy tự tin và đầy khả năng. Con người đấy ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính mình. Cái ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ ko phải là kiểu sống ngất ngưởng thông thường nhưng là một lối sống lạ mắt, một vẻ đẹp ngang tàng, phóng túng của một tâm hồn lớn, một tư cách lớn.

    Chẳng thế nhưng ngay từ câu đầu của bài ca, Nguyễn Công Trứ đã coi: mọi việc trong trời đất chẳng có việc nào ko phải nhận sự của ông “Vũ trụ nội mạc phi phận sự”. Câu thơ toàn là âm Hán, vang lên trang trọng, thiêng liêng, biểu lộ một thái độ đầy tự tin, tự hào và một ý thức rất thâm thúy về trách nhiệm của chính mình. Ko phải trùng hợp nhưng lúc đọc thơ văn Nguyễn Công Trứ chúng ta thấy rất nhiều lần ông nhắc tới “Chí nam nhi”, “Chí làm trai”, “Chí tang bồng”, “Phận sự làm trai”, “Nợ nam nhi”, “Nợ tang bồng”… Phải chăng đó chính là lẽ sống nhập thế tích cực của một nhà nho chân chính. Trong bài thơ này thái độ tự tin, tự hào đấy lại được trình bày bằng một giọng điệu “ngất ngưởng”, “ngang tàng”. Cứ xem cách xưng hô ở câu thơ thứ hai, Nguyễn Công Trứ tự gọi mình là “Ông Hi Văn”, tự giới thiệu chính mình là người có tài lớn và coi việc ra làm quan như “đã vào lồng”, ta cũng đủ thấy rõ thái độ người viết vừa như nghiêm trang lại vừa như “u sắm”, hí hước.

    Thái độ ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ ko phải chỉ lúc làm quan đương thứ “Lúc Thủ khoa, lúc Tham tán, lúc Tổng đốc Đông”. Hoặc: “Lúc Bình Tây, cờ Đại tướng; có lúc về Phủ doãn Thừa Thiên” nhưng sau lúc về hưu, ko làm quan nữa, thái độ đấy càng thêm đậm nét, tính cách “ngất ngưởng” càng thêm ổn định. Phải chăng lúc đã thoát ra khỏi chốn quan trường, lúc đã “tháo cũi, sổ lồng”, ko chịu một sự ràng buộc nào nên ông càng trở thành “ngất ngưởng”. Ông ngất ngưởng trong cung cách sống. Một cách sống có vẻ khác người, ngược đời: Người đời thường cưỡi ngựa, Nguyễn Công Trứ cưỡi bò, đeo nhạc ngựa và ung dung trong tư thế:

“Tay kiếm cung nhưng nên dạng từ bi

Gót tiên theo lững thững một vài dì

Bụt cũng bật cười ông ngất ngưởng”

    Ko chỉ mình cung cách sống, thái độ ngất ngưởng của ông còn trình bày rất rõ trong quan niệm được mất và sự sáng sủa, thản nhiên trước cuộc đời:

“Được mất dương dương người Thái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong”.

    Cũng giống như chuyện ông già biên cửa ải mất ngựa (Tái ông thất mã), Nguyễn Công Trứ quan niệm được mất là lẽ thường tình; ở đời may rủi hay sướng khổ đều như nhau, vì thế ko có gì phải vội vã hốt hoảng. Cũng như khen chê là chuyện tầm thường, có gì nhưng phải bi quan sầu muộn, hãy phơi phới như ngọn đông phong; hãy “quẳng gánh lo đi nhưng vui sống” (Lâm Ngữ Đường).

“Lúc ca, lúc tửu, lúc cắc, lúc tùng

Ko Phật, ko Tiên, ko vướng tục”.

    Trong xã hội phong kiến, một xã hội đầy những khuôn mẫu, lễ thức và nhiều quy tắc hết sức chặt chẽ, khắc nghiệt, quan niệm và cách sống ngất ngưởng, “ngông nghênh” của Nguyễn Công Trứ như trên quả là một sự thử thách, một sự “chòng ghẹo” cuộc đời. Thực ra thái độ và cách sống đấy của ông được bắt nguồn từ một khả năng và một ý thức muốn khẳng định cái tư nhân lạ mắt của mình. Hình như ông muốn chống lại sự vùi dập và bóp nghẹt cái tôi tư nhân của xã hội phong kiến thời bấy giờ. Mặt khác, quan niệm và cách sống đấy cũng bắt nguồn từ sự tự ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính bản thân mình. Chẳng thế nhưng ông tự ví mình với bao danh tướng từ đời Hán tới đời Tống của Trung Hoa: “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú”. Chẳng thế nhưng ông đau đáu một tấm lòng trước sau thủy chung như nhất: “Nghĩa vua tôi cho trọn vẹn sơ chung”. Câu thơ rưng rưng một niềm cảm động và vang lên như một lời thề son sắt. Sinh ra và lớn lên vào buổi giao thời cuối Lê đầu Nguyễn, ông đỗ đạt và làm quan vào thời kỳ nhưng nhà Nguyễn mới thống nhất quốc gia, kết thúc nội chiến, củng cố quân quyền và phục hưng nho học. Hoàn cảnh lịch sử đấy là cơ sở ý thức cho cả một từng lớp nho sĩ đang hăm hở bước vào một triều đại mới với một lẽ sống mới, phấn đấu vươn lên trong một vận hội mới để khẳng định mình. Chính Nguyễn Công Trứ từng tự vấn:

“Đã sinh ra ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông”

    Ông tâm niệm và đã làm được hơn thế. Tên tuổi của ông đã được non sông ghi nhận. Hình bóng và phong cách của Nguyễn Công Trứ vẫn còn in đậm trong mỗi trang thơ của chính ông.

    Kết thúc bài ca, Nguyễn Công Trứ viết: “Trong triều người nào ngất ngưởng như ông!”. Câu thơ buông lấp lửng: vừa như hỏi vừa như khẳng định; vừa như tự hào, ngợi ca, vừa tự giễu mình một cách thấm thía; vừa như là lời tự bạch của ông, lại vừa như một nhận xét bình giá của người đời. Đúng như câu thơ và cả bài thơ cũng “ngất ngưởng” như ông vậy. Cái vẻ đẹp ngất ngưởng từ bài ca và cuộc đời Nguyễn Công Trứ đã trở thành một cách sống, một mẫu hình in đậm trong hàng loạt nhà nho tài tử sau này. Ta như còn gặp lại hình bóng và cốt cách đấy của ông ở một Tú Xương, một Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu và phần nào ở nhà văn Nguyễn Tuân ngày nay.

Phân tích cái tôi ngất ngưởng – Mẫu 5

    Nguyễn Công Trứ (1778 – 1859) là một ông quan lớn văn võ toàn tài dưới triều Nguyễn. Nhắc tới ông người ta nhớ tới công lao khai phá đất hoang, lấn biển, lập nên hai xã Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình). Người ta cũng ko quên một thi sĩ với những vần thơ đầy khẩu khí của một bậc chính nhân quân tử về chí nam nhi phụng sự quốc gia, về cái tôi ngất ngưởng của một con người hiểu rõ về mình, về xã hội nhưng mình đang sống. Nếu như Chí người hùng tràn đầy khí phách của người tuổi xanh, thì Bài ca ngất ngưởng, được viết lúc ông đã thành danh, là bài thơ tổng kết về cuộc đời và khẳng định cái tôi (bản ngã) của cụ Thượng Trứ.

    Để làm rõ được cái tôi ngất ngưởng của mình, thi sĩ đã chọn thể hát nói bằng chữ Nôm – một thể thơ tài tử của dân tộc tương đối tự do, viết ra ko phải để đọc nhưng để ngâm nga, hát xướng. Người trình bày có thể theo đà xúc cảm nhưng luyến láy cho thích hợp. Bài thơ vì vậy nhưng đầy âm sắc, nhạc điệu.

    Nếu tính cả nhan đề, bài thơ có tới năm lần dùng từ “ngất ngưởng”, được đặt ở cuối mỗi đoạn như nốt nhấn của bài ca. Đây là cái dáng vẻ của một ý thức ngạo nghễ, tự coi mình, hơn người, trên người đời. Đây cũng là tư thế chung của toàn bài.

    Mở bài ta bắt gặp sự khác đời trong cách tự giới thiệu về mình:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự.

    Câu thơ chữ Hán tạm dịch là: Phàm những việc trong trời đất này ko có việc gì ko phải là phận sự của ta. Tiếp theo tác giả dùng một loạt từ Hán – Việt cùng thủ pháp liệt kê, kể cụ thể những chức tước danh phận của mình: Lúc Thủ khoa, lúc Tham tán, lúc Tổng đốc Đông…/ Lúc bình Tây, cờ đại tướng/ Có lúc về Phủ doãn Thừa Thiên… Nhịp thơ trầm bổng nhấn nhá của lối ca trù nghe thật êm đềm nhẹ nhõm như mặt sông mùa xuân. Một sự khẳng định tài năng kiệt xuất của mình thật khéo nhưng cũng thật kiêu ngạo khác đời. Nguyễn Công Trứ dám nói thẳng ko hề tránh né. Ngay cả cách đưa tên hiệu “ông Hi Văn” vào bài cũng chẳng giống người nào. Hi Văn – chữ Hán có tức là nhà văn hiếm. Tự gọi mình một cách trang trọng là ông và nhận mình tương tự thì chỉ có ông. Nguyễn Công Trứ đã phá vỡ tính phi ngã của thi pháp trung đại, ko chịu ép mình vào cái ta chung của số đông, xã hội. (Ở câu cuối ta thấy ông còn tự tách mình ra, đối lập mình với cả từng lớp phong kiến). Tất nhiên ông có cái thế của một bậc đại nhân quân tử để viết tương tự. Nhưng nói được như ông ở thơ văn trung đại ko nhiều. Nếu có chăng, trước đó có Nguyễn Trãi với một tình yêu lãng mạn ở Cây chuối, Phạm Thái đớn đau xót xa tới vô vọng trước cái chết của người yêu trong Văn tế Trương Quỳnh Như. Gần nhất có cách xưng danh khẳng định mình của Hồ Xuân Hương (Này của Xuân Hương mới quệt rồi – Mời trầu), hay Nguyễn Du (Người đời người nào người khóc Tố Như – Độc Tiểu Thanh kí). Các nhà văn đấy vẫn còn nhún nhường, khép nép hoặc còn xa xăm, chung chung.

    Cái ngất ngưởng còn ở lối sống, cách sống khác đời. Nguyễn Công Trứ là người biết sống. Lúc trẻ trai, hoạt động tích cực hết mình theo quan niệm nhập thế hành đạo tích cực của nho gia, trở về già thì sống nhàn hạ hưởng lạc. Một trong những thú vui của ông là nghe hát đào nương (còn gọi là ca trù). Người ta lên xe xuống ngựa xênh xang thì cụ Thượng Trứ ngao du sơn thủy, thưởng lãm chùa chiền cùng các cô đầu bằng xe bò. Nhưng mà là bò cái vàng với cái mo cau che sau đuôi. Cụ giảng giải: Để che mồm thế gian:

Điển viên dạo chiếc xe bò cái

Sẵn chiếc mo che mồm thế gian

    Sự ngông ngạo này chính ông đã nhận xét: Bụt cũng nực cười. Nguyễn Công Trứ đã vượt ra khỏi lẽ sống được tầm thường ở đời:

Được mất dương dương người tái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong

Lúc cơ, lúc tửu, lúc cắc lúc tùng

Ko phật, ko tiên, ko vướng tục

    Như trên đã nói, Nguyễn Công Trứ tự tách mình ra khỏi cái trật tự xã hội nhố nhăng, ô uế, nhơ bẩn, nhiều kẻ vỗ ngực là quân tử nhưng thực chất chỉ là hạng cây vông: Tuổi tác càng già càng xốp xáp/ Ruột gan ko có, có gai chông (Vịnh cây vông).

    Ngông ngạo nhưng ở hai bài này Nguyễn Công Trứ ko rơi vào tình thế bi quan tuyệt vọng hay phá phách bất cần đời như một số nhà văn lãng mạn sau này. Mục tiêu sống của ông rất rõ ràng: Phò vua giúp nước:

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

    Hay như có lần đối lại ý của một nhà sư ông hóm hỉnh nêu:

Hay tám vạn nghìn tư mặc kệ

Ko quân thần phụ tử đếch nên người.

    Nói khác đi, sự ngất ngưởng của ông ta là để nhằm lật tung cái trật tự xã hội phong kiến đương thời tưởng như yên ả bằng vận nhưng thực chất thối nát, mục ruỗng tới cùng cực. Ông ko muốn mình bị “đồng hóa” cùng hội cùng thuyền với lũ thăm quan vô lại.

    Vì vậy tiếng cười tự trào của Nguyễn Công Trứ có ngạo nghễ nhưng ko ngoa ngôn, lộng ngữ, vừa cụ thể lại vừa có tính biểu tượng, vừa có chút trào phúng lại vừa mang tính triết lý, trình bày quan niệm sống của thi sĩ.

    Thơ văn Nguyễn Công Trứ vốn phóng khoáng ngang tàng như thực chất con người ông. Bài ca ngất ngưởng là một trong những bài thơ hay được nhiều người nhắc tới với sự tán thưởng thích thú. Một phần bởi bài thơ giàu tính nhạc, nhưng phần lớn bởi khả năng vững vàng cứng cỏi của con người tài năng xuất chúng này. Nguyễn Công Trứ đã thổi một luồng sinh khí mới lạ cho văn học hiện đại, đưa yếu tố tư nhân, cái tôi cần được thổ lộ vào trực tiếp trong văn học. Đó cũng là một trong những bước đệm quan trọng để văn học Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ XX có những bước chuyển mình vượt trội, bước qua cái ta, giải phóng yếu tố tư nhân, cho văn học Việt Nam tiến kịp nền thơ ca nói riêng và văn học nghệ thuật hiện đại toàn cầu nói chung.

Trên đây là một số bài văn mẫu Phân tích cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ qua bài thơ Bài ca ngất ngưởng nhưng giainhat.vn đã biên soạn. Kỳ vọng sẽ giúp ích các em trong quá trình làm bài và ôn luyện cùng tác phẩm. Chúc các em có một bài văn thật tốt!

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

Hình Ảnh về: Phân tích cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ qua bài thơ Bài ca ngất ngưởng

Video về: Phân tích cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ qua bài thơ Bài ca ngất ngưởng

Wiki về Phân tích cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ qua bài thơ Bài ca ngất ngưởng

Phân tích cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ qua bài thơ Bài ca ngất ngưởng -

Tuyển chọn những bài văn hay Phân tích cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ qua bài thơ Bài ca ngất ngưởng.Với những bài văn mẫu ngắn gọn, cụ thể, hay nhất dưới đây, các em sẽ có thêm nhiều tài liệu hữu ích phục vụ cho việc học môn văn. Cùng tham khảo nhé! 

Phân tích cái tôi ngất ngưởng – Mẫu 1

    Nguyễn Công Trứ đã từng viết:

“Kiếp sau xin chớ làm người

Làm cây thông đứng giữa trời nhưng reo”

    Ông nguyện làm cây thông để đứng giữa đất trời nhưng đón gió bốn phương, để cất lên tiếng hát ung dung, tự tại, trình bày lối sống “ngất ngưởng”. Lối sống đấy đã thấm nhuần trong sáng tác của ông và đặc trưng trong tác phẩm Bài ca ngất ngưởng cái tôi ngất ngưởng được bộ lộ rõ nét hơn bao giờ hết.


    Trước hết về từ “ngất ngưởng” có tức là tư thế đứng cao cheo leo, ko vững chãi đối với sự vật. Còn đối với con người trình bày một cách sống, thái độ sống ngang tàng, vượt lên trên những luân lí thông thường. Đối với Nguyễn Công Trứ, ngất ngưởng là phong cách sống nhất quán của ông nó được bộc lộ nhất quán từ lúc ông ra làm quan cho tới lúc ông lui về quê nhà ngơi nghỉ.

    Trong tác phẩm, cái tôi ngất ngưởng trước hết trình bày trong việc ông tự nhận thấy vai trò trách nhiệm của mình đối với cuộc đời: Vũ trụ nội mạc phi phận sự/ Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng. Có mấy người nào được như Nguyễn Công Trứ dám khẳng định phận sự của bản thân trong trời đất. Nếu như các thi sĩ khác thường trình bày chí làm trai: “Làm trai phải lạ ở trên đời/ Há để càn khôn tự chuyển dời” (Phan Bội Châu) còn đối với Nguyễn Công chứ ông tức khắc khẳng định vai trò trách nhiệm của bản thân đối với trời đất, với dân với nước. Đây cũng chính là tuyên ngôn của thi sĩ về chí làm trai, nó trở thành quan niệm sống nhất quán trong sự nghiệp sáng tác của ông: “Chí làm trai Nam Bắc Đông Tây/ Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể” hay “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông” “Khắp trời đất ngang dọc, ngang dọc/ Nợ tang bồng vay trả, trả vay”. Đây đồng thời cũng trình bày cái tôi “ngất ngưởng” nhất quán trong sáng tác của ông. Đối với ông đã làm trai ở trong trời đất thì phải “đầu đội trời chân đạp đất”, phải làm những việc có ích cho nước, cho đời.

    Để minh chứng cho tài năng của mình, đồng thời cũng là trình bày cái tôi ngông ngạo hơn đời, Nguyễn Công Trứ đã liệt kê những chức danh mình đã từng làm lúc ở chốn quan trường:

Lúc Thủ khoa, lúc Tham tán, lúc Tổng đốc Đông

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

Lúc bình Tây, cờ đại tướng

Có lúc về Phủ doãn Thừa Thiên

    Ông Hi Văn là một người có thực tài và thực danh. Ông mang tài học hành của bản thân để thi thố với người đời: “Cái nợ cầm thư phải trả xong”, đỗ Thủ khoa trường Nghệ An. Làm quan võ, giữ chức Tham tán đại thần đi dẹp loạn ở Cao Bằng; làm quan văn, là Tổng đốc Đông (Hải Dương và Quảng Yên – Quảng Ninh). Câu thơ với nhịp nhanh, giọng thơ đầy vui sướng, hào sảng bộc lộ niềm tự hào khẳng định bản thân là một người có tài năng lỗi lạc.

    Bằng lời tự thuật hết sức thật tình đồng thời cũng đầy tự hào Nguyễn Công Trứ đã khẳng định tài năng lí tưởng trung quân, lòng tự hào về phẩm chất cũng như năng lực của chính mình. Dù trong chốn quan trường nhiều o bế nhưng lối sống tài tử, phóng khoáng, cái tôi ngạo nghễ, ngất ngưởng, khác đời vẫn được trình bày một cách trọn vẹn. Đó là thái độ sống của người quân tử đầy lí tưởng, khả năng, tự tin và kiên cường.

    Sau nhiều năm hiến dâng cho nước, cho đời, Nguyễn Công Trứ cáo quan về ở ẩn, lúc này cái tôi ngất ngưởng của ông có dịp bộ lộ, trình bày rõ hơn bao giờ hết. Lối sống theo ý thích, sở nguyện của tư nhân: cười bò đeo đạc ngựa; đi chùa nhưng lại có gót tiên theo sau; lúc ca lúc tửu, lúc cắc, lúc tùng. Cuộc sống phiêu diêu, vui hưởng những thú vui trần tục. Ông ko màng tới chuyện khen chê, được mất của thế gian: “Được mất dương dương người thái thượng/ Khen chê phơi phới ngọn đông phong” ông tự sánh minh với bậc danh tướng và tự khẳng định lòng trung với vua:

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

Trong triều người nào ngất ngưởng như ông

    Bản ngã ngất ngưởng một lần nữa được bộc lộ qua ba câu thơ cuối bài. Ông tự khẳng định mình là người trung thần, làm tròn đạo vua tôi, điều này đúng với thực tiễn làm quan của ông, ông hiến dâng hết mình cho tới năm 70 tuổi mới cáo quan về ở ẩn. Điều này đồng thời cũng thống nhất với quan niệm về chí làm trai “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” đã được ông nêu ở phần đầu tác phẩm. Với lối so sánh bản thân ngang hàng với bậc người hùng như: Nhạc Phi, Hàn Kì,… của Trung Quốc ông đã một lần nữa khẳng định tài năng cũng như công lao của mình một cách đĩnh đạc, hào hùng. Và cũng từ những chiến công đó ông có thể mạnh mẽ, dõng dạc tuyên bố với toàn người đời: “Trong triều người nào ngất ngưởng như ông”. Cái ngất ngưởng của lối sống tự do của bậc tài tử, ông ko ngần ngại tự khẳng định tài năng, tư cách của mình. Thái độ sống ngất ngưởng đầy thử thách đấy cũng chính là sự thử thách với những tôn ti, trật tự với xã hội phong kiến đương thời.

    Cái tôi ngất ngưởng, ngông ngạo của Nguyễn Công Trứ đã được trình bày một cách trọn vẹn, đầy đủ nhất qua thể hát nói đầy tự do, phóng túng, chính thể loại đã góp phần làm bật lên cái tôi vượt ra ngoài phạm vi của tác giả. Cái tôi ngông ngạo, của tác giả là cái tôi hơn đời, dám khẳng định tài năng và tư cách của bản thân, đó là còn là cái tôi hiến dâng hết sức mình cho đời, cho nước.

Phân tích cái tôi ngất ngưởng – Mẫu 2

    Trong vườn hoa văn học Việt Nam luôn tỏa ngát những bông hoa muôn màu, muôn sắc. Giữa vườn hoa ngát hương đấy, Nguyễn Công Trứ nổi lên như một bông hoa với hương sắc rất đặc trưng với phong cách ngất ngưởng. Đặc thù, cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ được trình bày rõ nét qua bài thơ “Bài ca ngất ngưởng”.

    Trước hết cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ được trình bày rõ nét trong cách ông tự khoe tài, khoe danh vị của mình với một thái độ tự trọng và đầy hào hứng.

Vũ trụ nội mạc phi nhân sự

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

Lúc Thủ khoa, lúc Tham tán, lúc Tổng Đốc đông

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

Lúc Bình Tây cờ đại tướng

Có lúc về Phủ Diễm Thừa Thiên

    Nguyễn Công Trứ đã khoe hết, phô diễn hết những cái danh vị của bản thân mình, khoe hết cả cái tài văn võ song toàn của bản thân với một thái độ đầy tự hào của một con người ý thức rõ tài năng, danh vị của mình. Những cái tài nhưng ông khoe ra với mọi người mang một nội hàm ý nghĩa khá rộng, xét tới cùng nó gắn với chuyện kinh bang tế thế. Những gì ông kể, từ nhiệm “Hi Văn tài bộ” rồi “Thủ khoa”, “Tham tán”, “Tổng Đốc đông”,…đều là những danh tước, những địa vị, những chiến tích nhưng ông đã từng tham gia và để lại những tiếng vọng lớn cho đời sau. Những gì nhưng ông khoe ko phải là cách nói sáo rỗng nhưng nó đều là sự thực bởi lẽ ông là một người thực tài, thực danh trong suốt cuộc đời của mình. Và tương tự, việc ông thị tài khoe tài ko chỉ là cách ông trình bày cái ngông, cái ngất ngưởng của mình nhưng hơn thế nữa đấy còn là cách thị tài, khoa tài của một con người tự ý thức một cách rõ nét về tài năng và những hiến dâng, nỗ lực của bản thân mình.

    Đồng thời, cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ còn trình bày ở phong cách sống khác đời, khác người lúc ông “gác gươm rửa kiếm” để tìm về với lối sống khác giữa cuộc đời – lối sống trần tục nhưng tự do, phóng túng.

Gót tiên theo lững thững một vài gì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

    Nguyễn Công Trứ đã lựa chọn cho mình một lối sống ngược đời, trái khoáy, trái với những chuẩn mực thông thường của người đời. Đã từng là một vị đại thần, một danh tướng, một vị đại thần được biết tới là “tay kiếm cung” thế nhưng nay, Nguyễn Công Trứ lại lựa chọn sống cuộc đời bình dị, thậm chí là “nên dạng từ bi”. Dù đi vãn cảnh chùa, đi thăm thú những danh lam thắng cảnh nhưng ông vẫn mang đồng hành mình “một vài dì” , đó là những nàng hầu xinh đẹp với “gót tiên lững thững” – một cảnh tượng xưa nay chưa từng có, một việc làm khác người khiến tới ngay cả ông bụt cũng phải “nực cười ông ngất ngưởng”. Một hành động trái khoáy, ngược với những chuẩn mực đạo đức thông thường đấy vậy nhưng với Nguyễn Công Trứ điều đó chẳng có vấn đề gì, cũng khiến bụt phải mỉm cười cho qua. Phải chăng, đó chính là cách Nguyễn Công Trứ trình bày chất tài hoa, tài tử ở trong mình và để rồi nó khiến Bụt “nếu ko đồng lõa thì cũng phải bỏ qua cho ông bằng một cái cười xòa.”

    Thêm vào đó, cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ còn được trình bày rõ nét ở khả năng sống của một con người tài năng, ko quan tâm, quan tâm tới việc được – mất, khen – chê.

Được mất dương dương người thái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong

    Với hai câu thơ, nhưng dường như Nguyễn Công Trứ đã trình bày một cách rõ nét trước mắt độc giả khả năng sống của mình. Dẫu ông có một phong cách sống, một lối sống khác người, khác đời nhưng ông chưa một lần quan tâm, quan tâm tới việc người đời sẽ khen chê mình như thế nào và mình có thể dành được hay mất đi những gì. Thái độ sống đấy của Nguyễn Công Trứ cho thấy một khả năng sống vững vàng, ko màng lợi danh của ông. Hơn nữa, Nguyễn Công Trứ là một nhà nho chân chính bởi vậy tư tưởng nhà Nho vẫn luôn sống mãi trong ông, đó chính là tư tưởng trung quân ái quốc như ông đã từng nói:

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.

    Và để rồi, tới cuối cùng ông tổng kết lại cuộc đời mình, tổng kết lại cái ngông của mình bằng một câu thơ cứng ngắc đầy vẻ ngông nghênh, ngạo nghễ, đầy thử thách.

Trong triều người nào ngất ngưởng được như ông.

    Tóm lại, Nguyễn Công Trứ thông qua bài thơ “Bài ca ngất ngưởng” đã trình bày một cái tôi ngất ngưởng – một thái độ, một cách sống, một lối xử sự có phần khác lạ, thậm chí thử thách với các chuẩn mực thông thường nhưng nó vẫn được người đời chấp nhận.

Phân tích cái tôi ngất ngưởng – Mẫu 3


    Đặc trưng của con người trong thơ văn trung đại đó là cái ta chung, bản ngã riêng lẻ và cái tôi tư nhân bị lu mờ, ít thấy tác giả xuất hiện trực tiếp do người trung đại ko coi mình là trung tâm nhưng chỉ là một bộ phận trong chỉnh thể lớn. Tuy nhiên tới với thơ ca của Nguyễn Công Trứ ông lại có những cải cách mới mẻ. Đặc thù là tác phẩm “Bài ca ngất ngưởng” trình bày cái tôi “ngất ngưởng”, cái tôi ngông muốn vượt ra khỏi lễ giáo phong kiến lúc đã hiểu rõ về thời đại, ý thức được trị giá của bản thân mình.

    Để hiểu được cái tôi “ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ trước tiên ta phải hiểu được ý nghĩa của từ ngất ngưởng. Theo tự điển Tiếng Việt ngất ngưởng ở thế ko vững, lắc lư nghiêng ngả như chực ngã. Nhưng đặt trong văn cảnh bài thơ ta nên hiểu theo cách của Nguyễn Đình Chú đó là “nhằm để diễn tả một tư thế, một thái độ, một ý thức, một con người vươn lên trên thế tục, sống giữa mọi người nhưng dường như ko nhìn thấy người nào, đi giữa cuộc đời nhưng dường như chỉ biết có mình, một con người khác đời và bất chấp mọi người”. Lối sống khẳng định con người tư nhân riêng lẻ của ông điều đó được trình bày dưới những nội dung sau.

    Thứ nhất ông sống “ngất ngưởng” nhưng ko phải là kẻ bất tài vô dụng nhưng đã từng là một con người tài hoa, lỗi lạc lập nhiều công trạng, từng giữ chức vị cao trong triều. Một con người dám tuyên bố về chí làm trai, trình bày triết lí sống nhưng mình đã theo đuổi “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” (Mọi việc trong trời đất chẳng có việc nào ko là phận sự của ta). Ý thức nhập thế tích cực, ý thức gánh vác việc đời, có trách nhiệm với đời tư tưởng đó đã được kế thừa từ các tiền nhân đời trước như Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm hay Phan Bội Châu. Tiếp đó ông tự khẳng định tài năng của mình bằng cách tự xưng “Ông Hi Văn tài bộ” – một con người tài hoa, và tuần tự liệt kê các công trạng, chức vụ nhưng mình đã nắm giữ “Lúc thủ khoa, lúc Tham tán, lúc Tổng đốc Đông”, “Lúc Bình Tây, cờ đại tướng” rồi lúc “về phủ doãn Thừa Thiên” tác giả một mặt rất tự hào về bản thân mình song ông lại coi đó là lúc mình “đã vào lồng” cho thấy sự gò bó, hạn hẹp ở chốn quan trường đối với một tâm hồn tự do, phóng khoáng.

    Thứ hai cái tôi “ngất ngưởng” được bộc lộ rõ nét nhất vào thời kì lúc tác giả đã “đô môn giải tố”, cởi trả mũ ấn trở về sống cuộc sống bình yên để trình bày cái chí của mình. Phong cách sống khác người được tái tạo qua các hình ảnh:

“Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

Kìa núi nọ phau phau mây trắng

Tay kiếm cung nhưng nên dạng từ bi

Gót tiên theo lững thững một vài dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”

    Người ta cưỡi ngựa còn ông cưỡi bò, đạc ngựa lại đeo cho bò vàng. Tương truyền rằng ông còn đeo mo cau buộc chỗ đuôi bò và nói là để che mồm thế gian, cả người và bò đều ngất ngưởng như để thử thách mồm đời. Thật chỉ có Nguyễn Công Trứ mới dám làm tương tự một cái tôi ngông khác thường, hiếm có. Nhắc tới kiếm cung con người ta nghĩ ngay tới việc chém giết thịt binh đao nhưng với ông lại “nên dạng từ bi” mới lạ. Vào chùa vãng cảnh, ngắm “núi nọ phau phau mây trắng” tìm sự thoát tục nhưng “Gót tiên lững thững một vài dì”và những nàng hầu xinh đẹp theo sau. Hình ảnh ông bụt xuất hiện làm cho tứ thơ càng trở thành rực rỡ thực thực, ảo ảo giữa đường đời. Đấy là bụt cười hay người đời cười hay là chính tác giả đang tự cười mình? Nghệ thuật đối ý tương phản gay gắt trong các câu thơ cho thấy tư cách khác người của “Ông ngất ngưởng”.

    Thứ ba Nguyễn Công Trứ lựa chọn cách sống “ngất ngưởng” cho mình lúc đã lập nhiều công trạng và có những đóng góp to lớn cho quốc gia. Sau lúc đã trả xong “nợ tang bồng”, “vẹn đạo sơ chung” ông cho phép mình được sống với thú vui tiêu diêu của bản thân. Ông quan niệm “Cuộc đời hành lạc chơi đâu là lãi đấy” cho nên ông mặc kệ tiếng khen chê của người đời, ông cho rằng chuyện được mất trong nhân gian là lẽ thế tất nên cứ “dương dương người thái thượng”, “phơi phới ngọn đông phong”. Đó là một lối sống nhàn nhã, ung dung, tự tại mang ý niệm riêng với cái ngông ngạo nghễ trước đời của tác giả.

    Thứ tư tác giả liệt kê những thú vui “ngất ngưởng” của mình là

“Lúc ca, lúc tửu, lúc cắc, lúc tùng

Ko phật, ko tiên, ko vướng tục”.

    Nhịp thơ 2/2/2/2, 2/2/3 làm cho ngữ điệu nói bộc lộ rõ, làm cho tính chủ thể của lời văn được nhất quán và xuất hiện giọng điệu khẳng khái, ngang tàn. Ba từ “ko” lặp lại liên tục trình bày sự tự do ko bị ràng buộc, con người tài tử đấy đã “thoát vòng cương tỏa, thoát sáo, thoát tục lụy, lợi danh, nắm lấy phút vui hiện nay”.

    Nguyễn Công Trứ là một nhà Nho được tôi rèn, mài giũa nơi cửa Khổng sân Trình với sự ý thức về tài năng, đức độ của mình ông tự tin xếp mình ngang hàng với “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú”. Ông còn tự nhận thấy mình là kẻ nhưng:

“Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

Trong triều người nào ngất ngưởng như ông”.

    Kết thúc bài hát tác giả tự xưng bằng một tiếng “ông” hào hùng. Cái tôi tư nhân được phô diễn tột đỉnh, tự tin khẳng định trong triều chẳng có người nào được như mình. Câu thơ vừa khẳng định vừa trình bày sự ca tụng đầy tự hào của tác giả.

    Với những cải cách mới mẻ về nghệ thuật câu thơ dài ngắn linh hoạt không giống nhau, nghệ thuật đối ý tương phản, sử dụng điệp từ, điệp cấu trúc đã khắc họa thành công hình ảnh một Nguyễn Công Trứ với cái tôi ngất ngưởng, cái tôi ngông trên đường đời tự tin khẳng định phong cách tư nhân của mình.

Phân tích cái tôi ngất ngưởng – Mẫu 4

    Từ xa xưa tới nay, thơ trước hết là tấm gương phản chiếu tâm hồn và tình cảm của chính thi sĩ. Ko những thế, qua thơ người đọc còn thấy rất rõ cốt cách và phong thái của mỗi thi nhân. Người nào đó đã nói: Văn là người. Điều đó thật đúng với những nhà văn, thi sĩ lớn. Ở họ văn với người là một, con người trong văn học và con người ngoài đời tuy ko hẳn tương đồng, nhưng rất thống nhất. Nguyễn Công Trứ thuộc những nhà văn như thế. Cho nên, qua Bài ca ngất ngưởng ta có thể tưởng tượng rất rõ chân dung một Nguyễn Công Trứ tự họa.

    Bao trùm lên toàn thể bài ca là hình tượng một con người “ngất ngưởng”. Nhưng đó ko phải là cái ngất ngưởng của một người gàn dở, tự hợm mình và hợm đời, nhưng là cái ngất ngưởng của một con người đầy tự tin và đầy khả năng. Con người đấy ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính mình. Cái ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ ko phải là kiểu sống ngất ngưởng thông thường nhưng là một lối sống lạ mắt, một vẻ đẹp ngang tàng, phóng túng của một tâm hồn lớn, một tư cách lớn.

    Chẳng thế nhưng ngay từ câu đầu của bài ca, Nguyễn Công Trứ đã coi: mọi việc trong trời đất chẳng có việc nào ko phải nhận sự của ông “Vũ trụ nội mạc phi phận sự”. Câu thơ toàn là âm Hán, vang lên trang trọng, thiêng liêng, biểu lộ một thái độ đầy tự tin, tự hào và một ý thức rất thâm thúy về trách nhiệm của chính mình. Ko phải trùng hợp nhưng lúc đọc thơ văn Nguyễn Công Trứ chúng ta thấy rất nhiều lần ông nhắc tới “Chí nam nhi”, “Chí làm trai”, “Chí tang bồng”, “Phận sự làm trai”, “Nợ nam nhi”, “Nợ tang bồng”… Phải chăng đó chính là lẽ sống nhập thế tích cực của một nhà nho chân chính. Trong bài thơ này thái độ tự tin, tự hào đấy lại được trình bày bằng một giọng điệu “ngất ngưởng”, “ngang tàng”. Cứ xem cách xưng hô ở câu thơ thứ hai, Nguyễn Công Trứ tự gọi mình là “Ông Hi Văn”, tự giới thiệu chính mình là người có tài lớn và coi việc ra làm quan như “đã vào lồng”, ta cũng đủ thấy rõ thái độ người viết vừa như nghiêm trang lại vừa như “u sắm”, hí hước.

    Thái độ ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ ko phải chỉ lúc làm quan đương thứ “Lúc Thủ khoa, lúc Tham tán, lúc Tổng đốc Đông”. Hoặc: “Lúc Bình Tây, cờ Đại tướng; có lúc về Phủ doãn Thừa Thiên” nhưng sau lúc về hưu, ko làm quan nữa, thái độ đấy càng thêm đậm nét, tính cách “ngất ngưởng” càng thêm ổn định. Phải chăng lúc đã thoát ra khỏi chốn quan trường, lúc đã “tháo cũi, sổ lồng”, ko chịu một sự ràng buộc nào nên ông càng trở thành “ngất ngưởng”. Ông ngất ngưởng trong cung cách sống. Một cách sống có vẻ khác người, ngược đời: Người đời thường cưỡi ngựa, Nguyễn Công Trứ cưỡi bò, đeo nhạc ngựa và ung dung trong tư thế:

“Tay kiếm cung nhưng nên dạng từ bi

Gót tiên theo lững thững một vài dì

Bụt cũng bật cười ông ngất ngưởng”

    Ko chỉ mình cung cách sống, thái độ ngất ngưởng của ông còn trình bày rất rõ trong quan niệm được mất và sự sáng sủa, thản nhiên trước cuộc đời:

“Được mất dương dương người Thái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong”.

    Cũng giống như chuyện ông già biên cửa ải mất ngựa (Tái ông thất mã), Nguyễn Công Trứ quan niệm được mất là lẽ thường tình; ở đời may rủi hay sướng khổ đều như nhau, vì thế ko có gì phải vội vã hốt hoảng. Cũng như khen chê là chuyện tầm thường, có gì nhưng phải bi quan sầu muộn, hãy phơi phới như ngọn đông phong; hãy “quẳng gánh lo đi nhưng vui sống” (Lâm Ngữ Đường).

“Lúc ca, lúc tửu, lúc cắc, lúc tùng

Ko Phật, ko Tiên, ko vướng tục”.

    Trong xã hội phong kiến, một xã hội đầy những khuôn mẫu, lễ thức và nhiều quy tắc hết sức chặt chẽ, khắc nghiệt, quan niệm và cách sống ngất ngưởng, “ngông nghênh” của Nguyễn Công Trứ như trên quả là một sự thử thách, một sự “chòng ghẹo” cuộc đời. Thực ra thái độ và cách sống đấy của ông được bắt nguồn từ một khả năng và một ý thức muốn khẳng định cái tư nhân lạ mắt của mình. Hình như ông muốn chống lại sự vùi dập và bóp nghẹt cái tôi tư nhân của xã hội phong kiến thời bấy giờ. Mặt khác, quan niệm và cách sống đấy cũng bắt nguồn từ sự tự ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính bản thân mình. Chẳng thế nhưng ông tự ví mình với bao danh tướng từ đời Hán tới đời Tống của Trung Hoa: “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú”. Chẳng thế nhưng ông đau đáu một tấm lòng trước sau thủy chung như nhất: “Nghĩa vua tôi cho trọn vẹn sơ chung”. Câu thơ rưng rưng một niềm cảm động và vang lên như một lời thề son sắt. Sinh ra và lớn lên vào buổi giao thời cuối Lê đầu Nguyễn, ông đỗ đạt và làm quan vào thời kỳ nhưng nhà Nguyễn mới thống nhất quốc gia, kết thúc nội chiến, củng cố quân quyền và phục hưng nho học. Hoàn cảnh lịch sử đấy là cơ sở ý thức cho cả một từng lớp nho sĩ đang hăm hở bước vào một triều đại mới với một lẽ sống mới, phấn đấu vươn lên trong một vận hội mới để khẳng định mình. Chính Nguyễn Công Trứ từng tự vấn:

“Đã sinh ra ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông”

    Ông tâm niệm và đã làm được hơn thế. Tên tuổi của ông đã được non sông ghi nhận. Hình bóng và phong cách của Nguyễn Công Trứ vẫn còn in đậm trong mỗi trang thơ của chính ông.

    Kết thúc bài ca, Nguyễn Công Trứ viết: “Trong triều người nào ngất ngưởng như ông!”. Câu thơ buông lấp lửng: vừa như hỏi vừa như khẳng định; vừa như tự hào, ngợi ca, vừa tự giễu mình một cách thấm thía; vừa như là lời tự bạch của ông, lại vừa như một nhận xét bình giá của người đời. Đúng như câu thơ và cả bài thơ cũng “ngất ngưởng” như ông vậy. Cái vẻ đẹp ngất ngưởng từ bài ca và cuộc đời Nguyễn Công Trứ đã trở thành một cách sống, một mẫu hình in đậm trong hàng loạt nhà nho tài tử sau này. Ta như còn gặp lại hình bóng và cốt cách đấy của ông ở một Tú Xương, một Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu và phần nào ở nhà văn Nguyễn Tuân ngày nay.

Phân tích cái tôi ngất ngưởng – Mẫu 5

    Nguyễn Công Trứ (1778 – 1859) là một ông quan lớn văn võ toàn tài dưới triều Nguyễn. Nhắc tới ông người ta nhớ tới công lao khai phá đất hoang, lấn biển, lập nên hai xã Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình). Người ta cũng ko quên một thi sĩ với những vần thơ đầy khẩu khí của một bậc chính nhân quân tử về chí nam nhi phụng sự quốc gia, về cái tôi ngất ngưởng của một con người hiểu rõ về mình, về xã hội nhưng mình đang sống. Nếu như Chí người hùng tràn đầy khí phách của người tuổi xanh, thì Bài ca ngất ngưởng, được viết lúc ông đã thành danh, là bài thơ tổng kết về cuộc đời và khẳng định cái tôi (bản ngã) của cụ Thượng Trứ.

    Để làm rõ được cái tôi ngất ngưởng của mình, thi sĩ đã chọn thể hát nói bằng chữ Nôm – một thể thơ tài tử của dân tộc tương đối tự do, viết ra ko phải để đọc nhưng để ngâm nga, hát xướng. Người trình bày có thể theo đà xúc cảm nhưng luyến láy cho thích hợp. Bài thơ vì vậy nhưng đầy âm sắc, nhạc điệu.

    Nếu tính cả nhan đề, bài thơ có tới năm lần dùng từ “ngất ngưởng”, được đặt ở cuối mỗi đoạn như nốt nhấn của bài ca. Đây là cái dáng vẻ của một ý thức ngạo nghễ, tự coi mình, hơn người, trên người đời. Đây cũng là tư thế chung của toàn bài.

    Mở bài ta bắt gặp sự khác đời trong cách tự giới thiệu về mình:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự.

    Câu thơ chữ Hán tạm dịch là: Phàm những việc trong trời đất này ko có việc gì ko phải là phận sự của ta. Tiếp theo tác giả dùng một loạt từ Hán – Việt cùng thủ pháp liệt kê, kể cụ thể những chức tước danh phận của mình: Lúc Thủ khoa, lúc Tham tán, lúc Tổng đốc Đông…/ Lúc bình Tây, cờ đại tướng/ Có lúc về Phủ doãn Thừa Thiên… Nhịp thơ trầm bổng nhấn nhá của lối ca trù nghe thật êm đềm nhẹ nhõm như mặt sông mùa xuân. Một sự khẳng định tài năng kiệt xuất của mình thật khéo nhưng cũng thật kiêu ngạo khác đời. Nguyễn Công Trứ dám nói thẳng ko hề tránh né. Ngay cả cách đưa tên hiệu “ông Hi Văn” vào bài cũng chẳng giống người nào. Hi Văn – chữ Hán có tức là nhà văn hiếm. Tự gọi mình một cách trang trọng là ông và nhận mình tương tự thì chỉ có ông. Nguyễn Công Trứ đã phá vỡ tính phi ngã của thi pháp trung đại, ko chịu ép mình vào cái ta chung của số đông, xã hội. (Ở câu cuối ta thấy ông còn tự tách mình ra, đối lập mình với cả từng lớp phong kiến). Tất nhiên ông có cái thế của một bậc đại nhân quân tử để viết tương tự. Nhưng nói được như ông ở thơ văn trung đại ko nhiều. Nếu có chăng, trước đó có Nguyễn Trãi với một tình yêu lãng mạn ở Cây chuối, Phạm Thái đớn đau xót xa tới vô vọng trước cái chết của người yêu trong Văn tế Trương Quỳnh Như. Gần nhất có cách xưng danh khẳng định mình của Hồ Xuân Hương (Này của Xuân Hương mới quệt rồi – Mời trầu), hay Nguyễn Du (Người đời người nào người khóc Tố Như – Độc Tiểu Thanh kí). Các nhà văn đấy vẫn còn nhún nhường, khép nép hoặc còn xa xăm, chung chung.

    Cái ngất ngưởng còn ở lối sống, cách sống khác đời. Nguyễn Công Trứ là người biết sống. Lúc trẻ trai, hoạt động tích cực hết mình theo quan niệm nhập thế hành đạo tích cực của nho gia, trở về già thì sống nhàn hạ hưởng lạc. Một trong những thú vui của ông là nghe hát đào nương (còn gọi là ca trù). Người ta lên xe xuống ngựa xênh xang thì cụ Thượng Trứ ngao du sơn thủy, thưởng lãm chùa chiền cùng các cô đầu bằng xe bò. Nhưng mà là bò cái vàng với cái mo cau che sau đuôi. Cụ giảng giải: Để che mồm thế gian:

Điển viên dạo chiếc xe bò cái

Sẵn chiếc mo che mồm thế gian

    Sự ngông ngạo này chính ông đã nhận xét: Bụt cũng nực cười. Nguyễn Công Trứ đã vượt ra khỏi lẽ sống được tầm thường ở đời:

Được mất dương dương người tái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong

Lúc cơ, lúc tửu, lúc cắc lúc tùng

Ko phật, ko tiên, ko vướng tục

    Như trên đã nói, Nguyễn Công Trứ tự tách mình ra khỏi cái trật tự xã hội nhố nhăng, ô uế, nhơ bẩn, nhiều kẻ vỗ ngực là quân tử nhưng thực chất chỉ là hạng cây vông: Tuổi tác càng già càng xốp xáp/ Ruột gan ko có, có gai chông (Vịnh cây vông).

    Ngông ngạo nhưng ở hai bài này Nguyễn Công Trứ ko rơi vào tình thế bi quan tuyệt vọng hay phá phách bất cần đời như một số nhà văn lãng mạn sau này. Mục tiêu sống của ông rất rõ ràng: Phò vua giúp nước:

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

    Hay như có lần đối lại ý của một nhà sư ông hóm hỉnh nêu:

Hay tám vạn nghìn tư mặc kệ

Ko quân thần phụ tử đếch nên người.

    Nói khác đi, sự ngất ngưởng của ông ta là để nhằm lật tung cái trật tự xã hội phong kiến đương thời tưởng như yên ả bằng vận nhưng thực chất thối nát, mục ruỗng tới cùng cực. Ông ko muốn mình bị “đồng hóa” cùng hội cùng thuyền với lũ thăm quan vô lại.

    Vì vậy tiếng cười tự trào của Nguyễn Công Trứ có ngạo nghễ nhưng ko ngoa ngôn, lộng ngữ, vừa cụ thể lại vừa có tính biểu tượng, vừa có chút trào phúng lại vừa mang tính triết lý, trình bày quan niệm sống của thi sĩ.

    Thơ văn Nguyễn Công Trứ vốn phóng khoáng ngang tàng như thực chất con người ông. Bài ca ngất ngưởng là một trong những bài thơ hay được nhiều người nhắc tới với sự tán thưởng thích thú. Một phần bởi bài thơ giàu tính nhạc, nhưng phần lớn bởi khả năng vững vàng cứng cỏi của con người tài năng xuất chúng này. Nguyễn Công Trứ đã thổi một luồng sinh khí mới lạ cho văn học hiện đại, đưa yếu tố tư nhân, cái tôi cần được thổ lộ vào trực tiếp trong văn học. Đó cũng là một trong những bước đệm quan trọng để văn học Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ XX có những bước chuyển mình vượt trội, bước qua cái ta, giải phóng yếu tố tư nhân, cho văn học Việt Nam tiến kịp nền thơ ca nói riêng và văn học nghệ thuật hiện đại toàn cầu nói chung.

Trên đây là một số bài văn mẫu Phân tích cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ qua bài thơ Bài ca ngất ngưởng nhưng giainhat.vn đã biên soạn. Kỳ vọng sẽ giúp ích các em trong quá trình làm bài và ôn luyện cùng tác phẩm. Chúc các em có một bài văn thật tốt!

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

[rule_{ruleNumber}]

Source: giainhat.vn
Categories: Giáo dục

Viết một bình luận