Phân tích bức chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng

Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề Phân tích bức chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng. Các bài văn mẫu được biên soạn, tổng hợp ngắn gọn, cụ thể, đầy đủ từ các bài viết hay, xuất sắc nhất của các bạn học trò trên cả nước. Mời các em cùng tham khảo nhé!

Bài văn mẫu 1 Phân tích bức chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng

      Từ xa xưa tới nay, thơ trước hết là tấm gương phản chiếu tâm hồn và tình cảm của chính thi sĩ. Ko những thế, qua thơ, người đọc còn thấy rất rõ cốt cách và phong thái của mỗi thi nhân. Người nào đó đã nói: văn là người. Điều đó thật đúng với những nhà văn, thi sĩ lớn. Ở họ, văn với người là một, con người trong văn học và con người ngoài đời tuy ko hẳn tương đồng, nhưng rất thống nhất. Nguyễn Công Trứ thuộc những nhà văn như thế. Cho nên, qua Bài ca ngất ngưởng, ta có thể tưởng tượng rất rõ chân dung một Nguyễn Công Trứ tự họa.

      Bao trùm lên toàn thể bài ca là hình tượng một con người ngất ngưởng. Nhưng đó ko phải là cái ngất ngưởng của một người gàn dở, tự hợm mình và hợm đời, nhưng là cái ngất ngưởng của một con người đầy tự tin và đầy khả năng. Con người đấy ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính mình. Cái ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ ko phải là kiểu sống ngất ngưởng thông thường nhưng là một lối sống lạ mắt, một vẻ đẹp ngang tàng, phóng túng của một tâm hồn lớn, một tư cách lớn.

Bài văn mẫu 2 Phân tích bức chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng

      Chẳng thế nhưng ngay từ câu đầu của bài ca, Nguyễn Công Trứ đã coi: mọi việc trong trời đất chẳng có việc nào ko phải là phận sự của ông Vũ trụ nội mạc phi phận sự. Câu thơ toàn là âm Hán, vang lên trang trọng, thiêng liêng, biểu lộ một thái độ đầy tự tin, tự hào và một ý thức rất thâm thúy về trách nhiệm của chính mình. Ko phải trùng hợp nhưng lúc đọc thơ của Nguyễn Công Trứ chúng ta thấy rất nhiều lần ông nhắc tới Chí nam nhi, Chí làm trai, Chí tang bồng, Phận sự làm trai, Nợ nam nhi, Nợ tang bồng… Phải chăng đó chính là lẽ sống nhập thế tích cực của một nhà Nho chân chính. Trong bài thơ này thái độ tự tin, tự hào đấy lại được trình bày bằng một giọng điệu ngất ngưởng, ngang tàng. Cứ xem cách xưng hô ở câu thứ hai, Nguyễn Công Trứ tự gọi mình là Ông Hi Văn, giới thiệu chính mình là người có tài lớn và coi việc ra làm quan như đã vào lồng, ta cũng đủ thấy rất rõ thái độ người viết vừa nghiêm trang, lại vừa như khôi hài.

      Thái độ ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ ko phải chỉ lúc làm quan đương nhiệm: Khỉ Thủ khoa, lúc tham tán, lúc Tổng đốc Đông. Hoặc Lúc bình Tây, cờ đại tướng; có lúc về Phủ Doãn Thừa Thiên nhưng sau lúc về hưu, ko làm quan nữa, thái độ đấy càng thêm đậm nét, tính cách ngất ngưởng càng thêm ổn đinh. Phải chăng lúc đã thoát ra khỏi chốn quan trường, lúc đã tháo cũi, sổ lồng, ko chịu một sự ràng buộc nào nên ông càng trở thành ngất ngưởng. Ông ngất ngưởng trong cung cách sống. Một cách sống có vẻ khác người, ngược đời: người đời thường cưỡi ngựa, Nguyễn Công Trứ cưỡi bò, đeo nhạc ngựa và ung dung trong tư thế:


Tay kiếm cung nhưng nên dạng từ bi

Gót tiên theo lững thững một vài dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

      Ko chỉ mình cung cách sống, thái độ ngất ngưởng của ông còn trình bày rất rõ trong quan niệm được mất và sự sáng sủa, thản nhiên trước cuộc đời:

Được mất dương dương người thái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

      Cũng giống như chuyện ông già biên cửa ải mất ngựa (Tái ông thất mã), Nguyễn Công Trứ quan niệm được mất là lẽ thường tình; ở đời may rủi hay sướng khổ đều như nhau, vì thế ko có gì phải vội vã hốt hoảng. Cũng như khen chê là chuyện binh thường, có gì nhưng phải bi quan sầu muộn, hãy phơi phới như ngọn đông phong; hãy quẳng gánh lo đi nhưng vui sống (Lâm Ngữ Đường):

Lúc ca, lúc tửu, lúc cắc, lúc tùng

Ko Phật, ko Tiên, ko vướng tục.

      Trong xã hội phong kiến, một xã hội đầy những khuôn mẫu, lễ thức và nhiều điều lệ hết sức chặt chẽ, khắc nghiệt, quan niệm và cách sống ngất ngưởng, ngông nghênh kiểu Nguyễn Công Trứ như trên quả là một sự thử thách, một sự chòng ghẹo cuộc đời. Thực ra thái độ và cách sống đấy của ông được bắt nguồn, từ một khả năng và một ý thức muốn khẳng định cái tư nhân lạ mắt của mình. Hình như ông muốn chống lại sự vùi dập và bóp nghẹt cái tôi tư nhân của xã hội phong kiến thời bấy giờ. Mặt khác, quan niệm và cách sống đấy cũng bắt nguồn từ sự tự ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính bản thân mình. Chẳng thế nhưng ông tự ví mình với bao danh tướng từ đời Hán tới đời Tống của Trung Hoa: Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú. Chẳng thế nhưng ông đau đáu một tấm lòng trước sau thủy chung như nhất: Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung. Câu thơ rưng rưng một niềm cảm động và vang lên như một lời thề son sắt. Sinh ra và lớn lên vào buổi giao thời cuối Lê đầu Nguyễn, ông đỗ đạt và làm quan vào thời kì nhưng nhà Nguyễn Mới thống nhất non sông, xong xuôi nội chiến, củng cố quân quyền và phục hưng nho học. Hoàn cảnh lịch sử đấy là cơ sở ý thức cho cả một từng lớp Nho sĩ đang hăm hở bước vào một triều đại mới với một lẽ sống mới, quyết tâm vươn lên trong một vận hội mới để khẳng định mình. Chính Nguyễn Công Trứ từng tự vấn:

      Đã sinh ra ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông.

      Ông tâm niệm thế và đã làm được hơn thế. Tên tuổi của ông đã được non sông ghi nhận. Hình bóng và phong cách của Nguyễn Công Trứ vẫn còn in đậm trong mỗi trang thơ của chính ông.

      Kết thúc bài ca. Nguyễn Công Trứ viết Trong triều người nào ngất ngưởng như ông! Câu thơ buông lấp lửng: vừa như hỏi vừa khẳng định; vừa như tự hào, ngợi ca, vừa tự giễu mình một cách thấm thìa; vừa như tự bạch của ông, lại vừa như một nhận xét bình giá của người đời. Đúng là câu thơ và cả bài thơ cũng ngất ngưởng như ông vậy. Cái vẻ đẹp ngất ngưởng từ bài ca và cuộc đời Nguyền Công Trứ đã trở thành một cách sống, một mẫu hình in đậm trong hàng loạt nhà nho tài tử sau này. Ta như còn gặp lại hình bóng và cốt cách đấy của ông ở một Tú Xương, một Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu và phần nào ở nhà văn Nguyễn Tuân.

Bài văn mẫu 3 Phân tích bức chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng


      Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) sinh ra và lớn lên trong bối cảnh lịch sử đó. Là một con người tài năng, đức độ luôn khát khao lập công danh sự nghiệp, Nguyễn Công Trứ đã theo đuổi sự nghiệp quan trường. Tuy nhiên với lối sống phóng khoáng, ông ko chịu khép mình trong quy tắc khắc nghiệt nhưng luôn muốn thoát ra khỏi vòng cương toả, sống “ngất ngưởng” với đời. “Bức chân dung” về bản thân đã được ông tự họa lại trong tác phẩm kiệt xuất Bài ca ngấtngưởng.

      Để họa bức chân dung đó, Nguyễn Công Trứ đã chọn một thể loại hết sức thích hợp, “hát nói”, một trình bày của ca trù. Sự lựa chọn một thể thơ tương đối tự do đó đã chứng tỏông là một con người sống rất phóng khoáng. Nhưng hơn thế, Nguyễn Công Trứ trong tác phẩm này cũng như ngoài đời sống còn là một Nguyễn Công Trứ ngông nghênh và “ngất ngưởng” ở các vị trí then chốt của bài thơ, một từở nhan đề, ba từở cuối mỗi khổ thơ, một từởcâu kết, câu thâu tóm ý toàn bài. Theo nghĩa thông thường, “ngất ngưởng” chỉ trạng thái của một có độ cao nhưng ko chịu giữ yên vị trí nhưng cứ lúc lắc, chông chênh chực như đổ xuống song lại ko đổ. Tuy nhiên, “ngất ngưởng” trong tác phẩm ko chỉ là một cử chỉ, hành động nhất thời nhưng chỉ một tư thế riêng, một phong cách sống, vượt lên trên thế tục, khác đời, khác người đối lập với xung quanh. Vì đã là phong cách sống nên Nguyễn Công Trứ xoành xoạch “ngất ngưởng” dù lúc ông làm quan đương triều hay lúc đã cáo lão về quê.

      Ngay từ thời trẻ trai, vị quan họ Nguyễn này đã khát khao lập công danh và coi đó là lẽ sống:

Đã mang tiếng ở trong trời đất,

Phải có danh gì với núi sông.

      Vì vậy lúc đã làm quan, ông luôn có ý thức về phận sự và trách nhiệm của mình trong cuộc đời:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự

(Trong vũ trụ ko có việc nào ko phải phận sự cua ta)

Bài văn mẫu 4 Phân tích bức chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng 

      Quan niệm này đã được ông nhắc tới nhiều lần trong các tác phẩm của mình như rong Gánh trung hiếu,ông viết “Vũ trụ chức vụ nội” và Luận kẻsĩ,”Vũ trụ giao ngô phận sự”. Nhưng câu thơ chữ Hán trang trọng này ko chỉ thuần tuý nói tới phận sự của bậc “tu mi nam tử” nhưng còn cao hơn, rộng hơn, nó cho ta thấy niềm tự hào của thi sĩ vềsựcó mặt của mình trong cuộc đời và sự tự hào lúc được đóng góp sức mình cho non sông. Suy nghĩ này đã khiến Nguyễn Công Trứ nói vềmình đầy tựhào ở câu sau:

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng.

      Cách xưng tên, biệt liệu đã được nhiều tác giả nhắc tới trong các tác phẩm của mình như Hồ Xuân Hương trong Tự tìnhhay Nguyễn Du trong Độc Tiểu Thanh kỷ… nhưng cách gọi mình đầy kính trọng “ông” thì ta mới chỉ gặp ở Nguyễn Công Trứ. Bản thân ông cho rằng mình có tài và các tài năng đó đã trở thành bộ dạng, phong cách được xếp vào lồng trời đất. Cái lối nói “phô trương” đó khiến nhiều người sẽ nghĩ ông là người “khoe mẽ” nhưng thực chất đó là tiếng nói thật tâm của một con người có ý thức thâm thúy về trị giá tư nhân, ở đây Nguyễn Công Trứ nói mình đã vào lồng. Điều này xem ra có phần khác so với thời trẻ trai:

Chí làm trai nam, bắc, đông, tây,

Cho thoả sức vẫy vùng bốn bể.

      Tuy nhiên, Nguyễn Công Trứ giờ đây đã là một vị quan từng trải đủ mọi phiền luỵchốn quan trường. “Lợm mùi giáng chức với thăng quan” nên suy nghĩ đó là ko tránh khỏi. Mặc dầu vậy, lúc nhắc tới những gì mình đã làm ông ko khỏi hạnh phúc, tự hào:

Lúc Thủ khoa, lúc Tham tán, lúc Tổng đốc Đông,

Lúc bình Táy, cờ đại tướng,

Có lúc về Phủ doãn Thừa Thiên.

      Một loạt những từ Hán Việt mang sắc thái trang trọng “Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc Đông, bình Tây, đại tướng, Phủdoãn” cùng với giải pháp hệt kê “lúc, lúc” đã chứng tỏông là một con người “văn võ toàn tài” và ông tự hào về điều đó:

Gồm thao lược dã nên tay ngất ngưởng

      Tay “ngất ngưởng” cho phép ta hiểu rằng mặc dầu đang làm quan bị trói mình trong phép “phụ tử, quân thần” Nguyễn Công Trứ vẫn luôn sống ngất ngưởng vượt lên trên, khác hẳn với lũ vua quan sa đoạ chỉ biết ăn chơi hưởng lạc “Trăm năm mặc kệ tiếng chê khen”. Nét lạ mắt ở cách nói này còn ở chỗông nói về mình nhưng lại đứng ngoài mình nhằm trình bày sự nhất trí của công luận.

      Lúc làm quan đã “ngất ngưởng” tương tự nhưng lúc về hưu ông cũng “ngất ngưởng” hơn. Mười ba câu trong mười chín câu thơ, ba trên năm từ “ngất ngưởng” của cả bài tập trung vào đoạn này đã trình bày điều đó. Có nhẽ lúc thoát khỏi chốn quan trường, ông càng có dịp bộc lộ mình hơn, sống thoải mái hơn. Như các vị quan khác, lúc cáo lão có vật phẩm vua ban, cưỡi ngựa về làng… thì vị quan họ Nguyên lại hoàn toàn khác. Ân tượng về ngày “đô môn giải tổ” còn đọng lại trong ông chỉcó một sự kiện:

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

      “Đạc ngựa” nhưng lại đi đeo cho bò vàng. Một thứ trang sức của một con vật quyền quý lại đem đeo cho một con vật tầm thường chứng tỏ Nguyễn Công Trứ là người ko quan tâm tới sự sang giàu. Hành động có phần ngông đó lại một lần nữa khẳng định ông “ngất ngưởng”.

      Là một con người phóng khoáng, ưa cuộc sống tận hưởng, việc giao tế sơn thuỷ vui thú tuổi già là ko có gì lạở một con người như Nguyễn Công Trứ:

Kìa núi nọ phau phau mây trắng

      Nhưng ở đây điều đáng nói là ông ko “ngao du” một cách tầm thường nhưng lại khác người, khác đời:

Tay kiếm xung nhưng nên dạng từ bi

Gót tiên theo lững thững một vài dì

      Nguyễn Công Trứ giờ đây ko còn là một vị quan một vị tướng quân từng dẹp loạn ở biên giới Tây Bắc hay đánh giặc ở biên giới Tây Nam nhưng là một cụ già trong dáng dấp tín đồ nhà Phật “từ bi” với “gót tiên”. Nhưng con người đấy lúc tới nơi thanh tịnh lại dắt theo một vài dì, lại làm một điều “chướng” bằng một phong cách khá “đủng đinh”. Ông bước từng bước chậm rãi ko hề giấu giếm những việc mình làm. Điều đó có nhẽ chưa có người nào dám làm ngoài Nguyễn Công Trứ. Trước hành động “ngông ngạo” đó, Bụt ko còn cách nào khác là phì cười. Nguyễn Công Trứ đã chứng tỏ mình ko chỉ ngông lúc làm quan, lúc ở làng quê nhưng cảở những nơi ít người ngờ tới nhất.; Sự “ngất ngưởng” đó của ông ko chỉ được người đời thừa nhận nhưng cả Bụt cũng vậy: “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”.

      Sự “ngông nghênh” của Nguyễn Công Trứ ko phải là một sự ngông nghênh vô lối, tự kiêu, tự đại, ông “ngất ngưởng” và thoát ra khỏi cái xã hội mục nát lúc bấy giờ. Ông theo đuổi kiểu sống tận hưởng nhưng vẫn đề ra và thực hiện triết lý sống của riêng mình:

Được mất dương dương người tái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

Lúc ca, lúc tửu, lúc cắc, lúc tùng,

Ko Phật, ko tiên, ko vướng tục.

      Đối với những người tầm thường, chuyện được, mất, khen, chê đã rất quan trọng với cuộc sống của họ. Nhưng cụ Nguyễn lại khác, ông coi đó như cơn gió thoảng qua và chẳng có gì đáng phải nói tới. Dù được hay mất thì ông vẫn cứ “dương dương” như người tái thượng hay “phơi phới” như ngọn gió đông. Ông vui thú với chén rượu, lời ca, tiếng trống chầu và những cuộc hành lạc. Ông khẳng định ông ko bị chi phối bởi tiên Phật cũng ko phạm vào thói tục, ông sống theo triết lý sống của riêng mình và vui thú với cách sống đó.

      Tuy nhiên, Nguyễn Công Trứ vẫn luôn mang nặng trong mình tư tưởng sống sao có ích, sao lưu lại tiếng thơm sao cho vẹn nghĩa quân thần:

Chẳng Trái, Nhạc cũng phường Hàn, Phú,

Nghĩa vua tôi trọn vẹn dạo sơ chung.

      Dù ông có “ngất ngưởng” hay vui chơi thoả chí, thoả thích thế nào đi chăng nữa, ông vẫn luôn lo lắng cho non sông, coi việc “kinh bang tế thế” phò vua là trách nhiệm, là điều phải làm. Ông là một con người “sơ chung” mãi mãi ko thay đổi tấm lòng son sắt đó.

Kết lại bài thơ là một câu nói đầy thử thách:

Trong triều người nào ngất ngưởng như ông!

      Đây là một câu hỏi cũng là một câu hỏi tu từ. Ông như thử thách với cả tập đoàn phong kiến bấy giờ: có người nào vừa vui chơi hưởng lạc vừa trọn nghĩa vua tôi như ông. Ông trở thành một tư nhân riêng lẻ tách hẳn với triều đình phong kiến. Đó là một tư thếsống rất đáng ca tụng vừa nghệsĩ, vừa thanh cao của kẻsĩ thời bấy giờ.

      Tóm lại, Nguyễn Công Trứ trong tác phẩm Bài ca ngất ngưởnglà một Nguyễn Công Trứ vừa “ngất ngưởng” vừa “vẹn nghĩa”. Có nhẽ đây cũng là điều nhưng những người muốn theo đuổi: lúc đã hiến dâng hết mình thì nên cho phép cho mình hưởng lạc. Qua đây chúng ta rút ra được bài học là mỗi người hãy rút ra triết lý sống tốt đẹp, tích cực cho bản thân và hãy sống và theo đuổi triết lý đó để sống đẹp và sống có ích hơn.

Trên đây là các bài văn mẫu Phân tích bức chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng do giainhat.vn sưu tầm và tổng hợp được, mong rằng với nội dung tham khảo này thì các em sẽ có thể hoàn thiện bài văn của mình tốt nhất!

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

Hình Ảnh về: Phân tích bức chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng

Video về: Phân tích bức chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng

Wiki về Phân tích bức chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng

Phân tích bức chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng -

Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề Phân tích bức chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng. Các bài văn mẫu được biên soạn, tổng hợp ngắn gọn, cụ thể, đầy đủ từ các bài viết hay, xuất sắc nhất của các bạn học trò trên cả nước. Mời các em cùng tham khảo nhé!

Bài văn mẫu 1 Phân tích bức chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng

      Từ xa xưa tới nay, thơ trước hết là tấm gương phản chiếu tâm hồn và tình cảm của chính thi sĩ. Ko những thế, qua thơ, người đọc còn thấy rất rõ cốt cách và phong thái của mỗi thi nhân. Người nào đó đã nói: văn là người. Điều đó thật đúng với những nhà văn, thi sĩ lớn. Ở họ, văn với người là một, con người trong văn học và con người ngoài đời tuy ko hẳn tương đồng, nhưng rất thống nhất. Nguyễn Công Trứ thuộc những nhà văn như thế. Cho nên, qua Bài ca ngất ngưởng, ta có thể tưởng tượng rất rõ chân dung một Nguyễn Công Trứ tự họa.

      Bao trùm lên toàn thể bài ca là hình tượng một con người ngất ngưởng. Nhưng đó ko phải là cái ngất ngưởng của một người gàn dở, tự hợm mình và hợm đời, nhưng là cái ngất ngưởng của một con người đầy tự tin và đầy khả năng. Con người đấy ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính mình. Cái ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ ko phải là kiểu sống ngất ngưởng thông thường nhưng là một lối sống lạ mắt, một vẻ đẹp ngang tàng, phóng túng của một tâm hồn lớn, một tư cách lớn.

Bài văn mẫu 2 Phân tích bức chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng

      Chẳng thế nhưng ngay từ câu đầu của bài ca, Nguyễn Công Trứ đã coi: mọi việc trong trời đất chẳng có việc nào ko phải là phận sự của ông Vũ trụ nội mạc phi phận sự. Câu thơ toàn là âm Hán, vang lên trang trọng, thiêng liêng, biểu lộ một thái độ đầy tự tin, tự hào và một ý thức rất thâm thúy về trách nhiệm của chính mình. Ko phải trùng hợp nhưng lúc đọc thơ của Nguyễn Công Trứ chúng ta thấy rất nhiều lần ông nhắc tới Chí nam nhi, Chí làm trai, Chí tang bồng, Phận sự làm trai, Nợ nam nhi, Nợ tang bồng… Phải chăng đó chính là lẽ sống nhập thế tích cực của một nhà Nho chân chính. Trong bài thơ này thái độ tự tin, tự hào đấy lại được trình bày bằng một giọng điệu ngất ngưởng, ngang tàng. Cứ xem cách xưng hô ở câu thứ hai, Nguyễn Công Trứ tự gọi mình là Ông Hi Văn, giới thiệu chính mình là người có tài lớn và coi việc ra làm quan như đã vào lồng, ta cũng đủ thấy rất rõ thái độ người viết vừa nghiêm trang, lại vừa như khôi hài.

      Thái độ ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ ko phải chỉ lúc làm quan đương nhiệm: Khỉ Thủ khoa, lúc tham tán, lúc Tổng đốc Đông. Hoặc Lúc bình Tây, cờ đại tướng; có lúc về Phủ Doãn Thừa Thiên nhưng sau lúc về hưu, ko làm quan nữa, thái độ đấy càng thêm đậm nét, tính cách ngất ngưởng càng thêm ổn đinh. Phải chăng lúc đã thoát ra khỏi chốn quan trường, lúc đã tháo cũi, sổ lồng, ko chịu một sự ràng buộc nào nên ông càng trở thành ngất ngưởng. Ông ngất ngưởng trong cung cách sống. Một cách sống có vẻ khác người, ngược đời: người đời thường cưỡi ngựa, Nguyễn Công Trứ cưỡi bò, đeo nhạc ngựa và ung dung trong tư thế:


Tay kiếm cung nhưng nên dạng từ bi

Gót tiên theo lững thững một vài dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

      Ko chỉ mình cung cách sống, thái độ ngất ngưởng của ông còn trình bày rất rõ trong quan niệm được mất và sự sáng sủa, thản nhiên trước cuộc đời:

Được mất dương dương người thái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

      Cũng giống như chuyện ông già biên cửa ải mất ngựa (Tái ông thất mã), Nguyễn Công Trứ quan niệm được mất là lẽ thường tình; ở đời may rủi hay sướng khổ đều như nhau, vì thế ko có gì phải vội vã hốt hoảng. Cũng như khen chê là chuyện binh thường, có gì nhưng phải bi quan sầu muộn, hãy phơi phới như ngọn đông phong; hãy quẳng gánh lo đi nhưng vui sống (Lâm Ngữ Đường):

Lúc ca, lúc tửu, lúc cắc, lúc tùng

Ko Phật, ko Tiên, ko vướng tục.

      Trong xã hội phong kiến, một xã hội đầy những khuôn mẫu, lễ thức và nhiều điều lệ hết sức chặt chẽ, khắc nghiệt, quan niệm và cách sống ngất ngưởng, ngông nghênh kiểu Nguyễn Công Trứ như trên quả là một sự thử thách, một sự chòng ghẹo cuộc đời. Thực ra thái độ và cách sống đấy của ông được bắt nguồn, từ một khả năng và một ý thức muốn khẳng định cái tư nhân lạ mắt của mình. Hình như ông muốn chống lại sự vùi dập và bóp nghẹt cái tôi tư nhân của xã hội phong kiến thời bấy giờ. Mặt khác, quan niệm và cách sống đấy cũng bắt nguồn từ sự tự ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính bản thân mình. Chẳng thế nhưng ông tự ví mình với bao danh tướng từ đời Hán tới đời Tống của Trung Hoa: Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú. Chẳng thế nhưng ông đau đáu một tấm lòng trước sau thủy chung như nhất: Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung. Câu thơ rưng rưng một niềm cảm động và vang lên như một lời thề son sắt. Sinh ra và lớn lên vào buổi giao thời cuối Lê đầu Nguyễn, ông đỗ đạt và làm quan vào thời kì nhưng nhà Nguyễn Mới thống nhất non sông, xong xuôi nội chiến, củng cố quân quyền và phục hưng nho học. Hoàn cảnh lịch sử đấy là cơ sở ý thức cho cả một từng lớp Nho sĩ đang hăm hở bước vào một triều đại mới với một lẽ sống mới, quyết tâm vươn lên trong một vận hội mới để khẳng định mình. Chính Nguyễn Công Trứ từng tự vấn:

      Đã sinh ra ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông.

      Ông tâm niệm thế và đã làm được hơn thế. Tên tuổi của ông đã được non sông ghi nhận. Hình bóng và phong cách của Nguyễn Công Trứ vẫn còn in đậm trong mỗi trang thơ của chính ông.

      Kết thúc bài ca. Nguyễn Công Trứ viết Trong triều người nào ngất ngưởng như ông! Câu thơ buông lấp lửng: vừa như hỏi vừa khẳng định; vừa như tự hào, ngợi ca, vừa tự giễu mình một cách thấm thìa; vừa như tự bạch của ông, lại vừa như một nhận xét bình giá của người đời. Đúng là câu thơ và cả bài thơ cũng ngất ngưởng như ông vậy. Cái vẻ đẹp ngất ngưởng từ bài ca và cuộc đời Nguyền Công Trứ đã trở thành một cách sống, một mẫu hình in đậm trong hàng loạt nhà nho tài tử sau này. Ta như còn gặp lại hình bóng và cốt cách đấy của ông ở một Tú Xương, một Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu và phần nào ở nhà văn Nguyễn Tuân.

Bài văn mẫu 3 Phân tích bức chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng


      Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) sinh ra và lớn lên trong bối cảnh lịch sử đó. Là một con người tài năng, đức độ luôn khát khao lập công danh sự nghiệp, Nguyễn Công Trứ đã theo đuổi sự nghiệp quan trường. Tuy nhiên với lối sống phóng khoáng, ông ko chịu khép mình trong quy tắc khắc nghiệt nhưng luôn muốn thoát ra khỏi vòng cương toả, sống “ngất ngưởng” với đời. “Bức chân dung” về bản thân đã được ông tự họa lại trong tác phẩm kiệt xuất Bài ca ngấtngưởng.

      Để họa bức chân dung đó, Nguyễn Công Trứ đã chọn một thể loại hết sức thích hợp, “hát nói”, một trình bày của ca trù. Sự lựa chọn một thể thơ tương đối tự do đó đã chứng tỏông là một con người sống rất phóng khoáng. Nhưng hơn thế, Nguyễn Công Trứ trong tác phẩm này cũng như ngoài đời sống còn là một Nguyễn Công Trứ ngông nghênh và “ngất ngưởng” ở các vị trí then chốt của bài thơ, một từở nhan đề, ba từở cuối mỗi khổ thơ, một từởcâu kết, câu thâu tóm ý toàn bài. Theo nghĩa thông thường, “ngất ngưởng” chỉ trạng thái của một có độ cao nhưng ko chịu giữ yên vị trí nhưng cứ lúc lắc, chông chênh chực như đổ xuống song lại ko đổ. Tuy nhiên, “ngất ngưởng” trong tác phẩm ko chỉ là một cử chỉ, hành động nhất thời nhưng chỉ một tư thế riêng, một phong cách sống, vượt lên trên thế tục, khác đời, khác người đối lập với xung quanh. Vì đã là phong cách sống nên Nguyễn Công Trứ xoành xoạch “ngất ngưởng” dù lúc ông làm quan đương triều hay lúc đã cáo lão về quê.

      Ngay từ thời trẻ trai, vị quan họ Nguyễn này đã khát khao lập công danh và coi đó là lẽ sống:

Đã mang tiếng ở trong trời đất,

Phải có danh gì với núi sông.

      Vì vậy lúc đã làm quan, ông luôn có ý thức về phận sự và trách nhiệm của mình trong cuộc đời:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự

(Trong vũ trụ ko có việc nào ko phải phận sự cua ta)

Bài văn mẫu 4 Phân tích bức chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng 

      Quan niệm này đã được ông nhắc tới nhiều lần trong các tác phẩm của mình như rong Gánh trung hiếu,ông viết “Vũ trụ chức vụ nội” và Luận kẻsĩ,”Vũ trụ giao ngô phận sự”. Nhưng câu thơ chữ Hán trang trọng này ko chỉ thuần tuý nói tới phận sự của bậc “tu mi nam tử” nhưng còn cao hơn, rộng hơn, nó cho ta thấy niềm tự hào của thi sĩ vềsựcó mặt của mình trong cuộc đời và sự tự hào lúc được đóng góp sức mình cho non sông. Suy nghĩ này đã khiến Nguyễn Công Trứ nói vềmình đầy tựhào ở câu sau:

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng.

      Cách xưng tên, biệt liệu đã được nhiều tác giả nhắc tới trong các tác phẩm của mình như Hồ Xuân Hương trong Tự tìnhhay Nguyễn Du trong Độc Tiểu Thanh kỷ… nhưng cách gọi mình đầy kính trọng “ông” thì ta mới chỉ gặp ở Nguyễn Công Trứ. Bản thân ông cho rằng mình có tài và các tài năng đó đã trở thành bộ dạng, phong cách được xếp vào lồng trời đất. Cái lối nói “phô trương” đó khiến nhiều người sẽ nghĩ ông là người “khoe mẽ” nhưng thực chất đó là tiếng nói thật tâm của một con người có ý thức thâm thúy về trị giá tư nhân, ở đây Nguyễn Công Trứ nói mình đã vào lồng. Điều này xem ra có phần khác so với thời trẻ trai:

Chí làm trai nam, bắc, đông, tây,

Cho thoả sức vẫy vùng bốn bể.

      Tuy nhiên, Nguyễn Công Trứ giờ đây đã là một vị quan từng trải đủ mọi phiền luỵchốn quan trường. “Lợm mùi giáng chức với thăng quan” nên suy nghĩ đó là ko tránh khỏi. Mặc dầu vậy, lúc nhắc tới những gì mình đã làm ông ko khỏi hạnh phúc, tự hào:

Lúc Thủ khoa, lúc Tham tán, lúc Tổng đốc Đông,

Lúc bình Táy, cờ đại tướng,

Có lúc về Phủ doãn Thừa Thiên.

      Một loạt những từ Hán Việt mang sắc thái trang trọng “Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc Đông, bình Tây, đại tướng, Phủdoãn” cùng với giải pháp hệt kê “lúc, lúc” đã chứng tỏông là một con người “văn võ toàn tài” và ông tự hào về điều đó:

Gồm thao lược dã nên tay ngất ngưởng

      Tay “ngất ngưởng” cho phép ta hiểu rằng mặc dầu đang làm quan bị trói mình trong phép “phụ tử, quân thần” Nguyễn Công Trứ vẫn luôn sống ngất ngưởng vượt lên trên, khác hẳn với lũ vua quan sa đoạ chỉ biết ăn chơi hưởng lạc “Trăm năm mặc kệ tiếng chê khen”. Nét lạ mắt ở cách nói này còn ở chỗông nói về mình nhưng lại đứng ngoài mình nhằm trình bày sự nhất trí của công luận.

      Lúc làm quan đã “ngất ngưởng” tương tự nhưng lúc về hưu ông cũng “ngất ngưởng” hơn. Mười ba câu trong mười chín câu thơ, ba trên năm từ “ngất ngưởng” của cả bài tập trung vào đoạn này đã trình bày điều đó. Có nhẽ lúc thoát khỏi chốn quan trường, ông càng có dịp bộc lộ mình hơn, sống thoải mái hơn. Như các vị quan khác, lúc cáo lão có vật phẩm vua ban, cưỡi ngựa về làng… thì vị quan họ Nguyên lại hoàn toàn khác. Ân tượng về ngày “đô môn giải tổ” còn đọng lại trong ông chỉcó một sự kiện:

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

      “Đạc ngựa” nhưng lại đi đeo cho bò vàng. Một thứ trang sức của một con vật quyền quý lại đem đeo cho một con vật tầm thường chứng tỏ Nguyễn Công Trứ là người ko quan tâm tới sự sang giàu. Hành động có phần ngông đó lại một lần nữa khẳng định ông “ngất ngưởng”.

      Là một con người phóng khoáng, ưa cuộc sống tận hưởng, việc giao tế sơn thuỷ vui thú tuổi già là ko có gì lạở một con người như Nguyễn Công Trứ:

Kìa núi nọ phau phau mây trắng

      Nhưng ở đây điều đáng nói là ông ko “ngao du” một cách tầm thường nhưng lại khác người, khác đời:

Tay kiếm xung nhưng nên dạng từ bi

Gót tiên theo lững thững một vài dì

      Nguyễn Công Trứ giờ đây ko còn là một vị quan một vị tướng quân từng dẹp loạn ở biên giới Tây Bắc hay đánh giặc ở biên giới Tây Nam nhưng là một cụ già trong dáng dấp tín đồ nhà Phật “từ bi” với “gót tiên”. Nhưng con người đấy lúc tới nơi thanh tịnh lại dắt theo một vài dì, lại làm một điều “chướng” bằng một phong cách khá “đủng đinh”. Ông bước từng bước chậm rãi ko hề giấu giếm những việc mình làm. Điều đó có nhẽ chưa có người nào dám làm ngoài Nguyễn Công Trứ. Trước hành động “ngông ngạo” đó, Bụt ko còn cách nào khác là phì cười. Nguyễn Công Trứ đã chứng tỏ mình ko chỉ ngông lúc làm quan, lúc ở làng quê nhưng cảở những nơi ít người ngờ tới nhất.; Sự “ngất ngưởng” đó của ông ko chỉ được người đời thừa nhận nhưng cả Bụt cũng vậy: “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”.

      Sự “ngông nghênh” của Nguyễn Công Trứ ko phải là một sự ngông nghênh vô lối, tự kiêu, tự đại, ông “ngất ngưởng” và thoát ra khỏi cái xã hội mục nát lúc bấy giờ. Ông theo đuổi kiểu sống tận hưởng nhưng vẫn đề ra và thực hiện triết lý sống của riêng mình:

Được mất dương dương người tái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

Lúc ca, lúc tửu, lúc cắc, lúc tùng,

Ko Phật, ko tiên, ko vướng tục.

      Đối với những người tầm thường, chuyện được, mất, khen, chê đã rất quan trọng với cuộc sống của họ. Nhưng cụ Nguyễn lại khác, ông coi đó như cơn gió thoảng qua và chẳng có gì đáng phải nói tới. Dù được hay mất thì ông vẫn cứ “dương dương” như người tái thượng hay “phơi phới” như ngọn gió đông. Ông vui thú với chén rượu, lời ca, tiếng trống chầu và những cuộc hành lạc. Ông khẳng định ông ko bị chi phối bởi tiên Phật cũng ko phạm vào thói tục, ông sống theo triết lý sống của riêng mình và vui thú với cách sống đó.

      Tuy nhiên, Nguyễn Công Trứ vẫn luôn mang nặng trong mình tư tưởng sống sao có ích, sao lưu lại tiếng thơm sao cho vẹn nghĩa quân thần:

Chẳng Trái, Nhạc cũng phường Hàn, Phú,

Nghĩa vua tôi trọn vẹn dạo sơ chung.

      Dù ông có “ngất ngưởng” hay vui chơi thoả chí, thoả thích thế nào đi chăng nữa, ông vẫn luôn lo lắng cho non sông, coi việc “kinh bang tế thế” phò vua là trách nhiệm, là điều phải làm. Ông là một con người “sơ chung” mãi mãi ko thay đổi tấm lòng son sắt đó.

Kết lại bài thơ là một câu nói đầy thử thách:

Trong triều người nào ngất ngưởng như ông!

      Đây là một câu hỏi cũng là một câu hỏi tu từ. Ông như thử thách với cả tập đoàn phong kiến bấy giờ: có người nào vừa vui chơi hưởng lạc vừa trọn nghĩa vua tôi như ông. Ông trở thành một tư nhân riêng lẻ tách hẳn với triều đình phong kiến. Đó là một tư thếsống rất đáng ca tụng vừa nghệsĩ, vừa thanh cao của kẻsĩ thời bấy giờ.

      Tóm lại, Nguyễn Công Trứ trong tác phẩm Bài ca ngất ngưởnglà một Nguyễn Công Trứ vừa “ngất ngưởng” vừa “vẹn nghĩa”. Có nhẽ đây cũng là điều nhưng những người muốn theo đuổi: lúc đã hiến dâng hết mình thì nên cho phép cho mình hưởng lạc. Qua đây chúng ta rút ra được bài học là mỗi người hãy rút ra triết lý sống tốt đẹp, tích cực cho bản thân và hãy sống và theo đuổi triết lý đó để sống đẹp và sống có ích hơn.

Trên đây là các bài văn mẫu Phân tích bức chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng do giainhat.vn sưu tầm và tổng hợp được, mong rằng với nội dung tham khảo này thì các em sẽ có thể hoàn thiện bài văn của mình tốt nhất!

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

[rule_{ruleNumber}]

Source: giainhat.vn
Categories: Giáo dục

Viết một bình luận