Phân tích Bài ca ngất ngưởng học sinh giỏi

Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề Phân tích Bài ca ngất ngưởng học trò giỏi. Các bài văn mẫu được biên soạn, tổng hợp tăng lên, cụ thể từ các bài viết hay, xuất sắc nhất của các bạn học trò chuyên văn. Mời các em cùng tham khảo nhé! 

Phân tích Bài ca ngất ngưởng học trò giỏi – Bài mẫu 1

            Nguyễn Công Trứ tự là Tồn Chất, hiệu là Hi Văn, sinh năm 1778, người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông cha là Nguyễn Công Tấn, đậu hương cống, từng làm tri phủ Tiên Hưng (Thái Bình), sau đó do hưởng ứng phong trào phò Lê chống lại Tây Sơn, nên được triều Lê phong tước Đức Nghi Hầu.

Nguyễn Công Trứ là một người tài năng hiếm có về nhiều mặt, đã sớm xác định trục đường tiến thân bằng khoa giáp công danh. Thời trẻ, Nguyền Công Trứ học hành cần mẫn, nhưng thi cử long đong, mãi tới năm 42 tuổi mới đỗ hương nguyên. Cuộc đời làm quan của ông lên xuống thất thường, vậy nhưng mà lúc nào ông cũng ôm ấp chí lớn và giữ đạo tôi trung Nguyễn Công Trứ tích cực thi hành chức trách, phận sự, kể cả việc nhiều lần đánh dẹp nông dân khởi nghĩa, nhưng ko thể mất yếu tố tiến bộ của nhà nho chân chính. Lúc làm quan, ông nổi tiếng thanh liêm. Trong việc khai phá đất hoang, đắp đê lấn biển. Nguyễn Công Trứ đã Đem lại lợi ích cho nhân dân ở nhiều nơi, đáng kể là vùng Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình). Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, mặc dù đã 80 tuổi. Nguyễn Công Trứ vẫn dâng sớ xin cầm quân đánh giặc. Cũng năm đó, ông tạ thế.

Nguyễn Công Trứ là hiện tượng đặc thù về một kẻ sĩ nhưng mà lại có cuộc sống phóng túng và phong cách tự do, lạ mắt.

Thơ ca còn lại của Nguyền Công Trứ gồm khoảng 50 bài thơ, trên 60 bài ca trù, một bài phúng, đều viết bằng chữ Nôm. Ngoài ra còn có một số bài thơ chữ Mán, một số câu đối Nôm.

Bài ca ngất ngưởng là tác phẩm được viết vào sau năm 1848, lúc Nguyễn Công Trứ cáo quan về hưu. Đây là tiếng nói của Hi Văn sau quãng đời thiến lộ lồi lõm. Thời kì suy vong của cơ chế phong kiến Việt Nam được ghi lại bằng sự xuất hiện của con người khát vọng tự do (như Chim trong lồng của Nguvền Hữu Cầu), người người hùng “phản nghịch” (như Từ Hải trong Truyện Kiều), người phụ nữ “nổi loạn” (trong thơ Hồ Xuân Hương)… Cũng là sự phản ứng với hoàn cảnh, nhưng ở Nguyễn Công Trứ, sự biểu lộ chủ yếu trên phương diện quan niệm và lối sống bằng hình thức phóng to hình ảnh con người tư nhân tới mức khôi hài. Dưới con mắt của người đời và sự tôn xưng của Hi Văn thì đó là sự ngất ngưởng.


Bài thơ được viết theo thể ca trù hay còn gọi là hát nói, một lối thơ tự do về nhịp độ, câu chữ. Ở đây, thể tài thích hợp với nội dung xúc cảm của bài thơ.

Kết cấu bài thơ gần như kết câu một bài thơ hát nói, chia làm nhiều đoạn gọi là khổ). Mỗi đoạn được kết bằng câu có từ “ngất ngưởng”, soi sáng những góc độ không giống nhau của hình tượng nhân vật trữ tình, trên cơ sở cảm hứng chủ đạo mang tính nhân văn và ý nghĩa chống phong kiến.

Con người ngất ngưởng của Nguyền Công Trứ trước hết là con người tài năng, danh vọng.

Câu thơ chữ Hán mở đầu cô đúc quan niệm lập thân của Nguyễn Công Trứ: “Vũ trụ nội mạc phi phận sự”.

Đây là quan niệm nhưng mà ông đã nói nhiều bài thơ, cho rằng con người sinh ra do “ý của trời đất” (“Thiên địa sinh ngô nguyên hữu ý” – Trời đất sinh ra ta là có ý), nên phải có trách nhiệm, phải gánh vác việc đời (Vũ trụ giai ngô phận sự” – Những việc trong vũ trụ đều thuộc trong phận sự của ta). Trong Nguyễn Công Trứ, quan niệm đó gắn liền với ý tưởng “tu, tề, trị, bình”, với chí làm trai và chủ nghĩa người hùng nhưng mà ông theo đuổi với tất cả lòng tin tưởng, sáng sủa trong suốt cuộc đời.

Sau quan niệm đó là sự hiện diện một con người tài năng xuất chúng và danh vọng vẻ vang:

“Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng…

… có lúc về Phủ doãn Thừa Thiên”

Tính tự thuật qua các nhân vật từ nhân xưng về tên hiệu, quan chức, tài năng đã khắc họa con người tư nhân tự ý thức về mình, mức độ lộ ra ngoài bộ dạng: “Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”. Câu thơ còn có ý vị trào phúng: một con người tầm cỡ thế nhưng mà lại chịu đặt mình vào chiếc lồng hạn hẹp. Nhưng chút cười đùa này thực ra là để khẳng định lòng tự tin của Nguyễn Công Trứ.

Ông ko phải ko biết chốn quan trường đầy rẫy những dây nhợ nào buộc trói được.

Trong hình thức biểu lộ có sự liên kết hệ thống từ Hán – Việt và từ Nôm: những từ Hán Việt về quan chức, danh vị trình bày một tài năng thành đạt gắn liền với xã hội phong kiến; còn từ Nôm là những từ thông dụng được sử dụng linh hoạt trong các câu thơ dài ngắn xen nhau, nhịp độ nhịp nhàng, tới dàn trải thế hiện con người tư nhân tự do, đồng thời ghi rõ các gốc sự ngất ngưởng ở con người đó là gì: “Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng”. Tương tự con người ngất ngưởng ở đây là con người cũng là cơ sở để tư nhân vượt lên khỏi mọi ràng buộc.

Cái ngất ngưởng trong thơ Nguyền Công Trứ là sự ngất ngưởng trước cuộc đời được mất.

Cuộc đời Nguyễn Công Trứ được ghi nhận bằng những chiến tích, những lần thăng quan tiến chức.

“Lúc bình Tây, cờ đại tưởng

Có lúc về Phủ doãn Thừa Thiên”.

Nhưng cũng có những bước thụt lùi, đắng cay. Theo sử sách ghi thì Nguyễn Công Trứ làm đại tướng, lúc bị cách tuột làm lính thú, thăng quan hẳn là do tài năng hơn người của ông. Nhưng còn những lần bị giáng chức? Và tồn tại những lời thẩm bình của dư luận. Nguyễn Công Trứ thấy rõ đằng sau sự bất công nhưng mà ông phải chịu là mặt trái của xã hội phong kiến. Lúc cần ông tố cáo gay gắt:

“Thế thái tình nhân gớm chết thay

Lạt nồng trông chiếc túi vơi đầy.

(Vịnh nhân tinh thế thái)

Tuy vậy, cách biểu lộ thái độ nhưng mà Nguyễn Cõng Trứ đặc thù lựa chọn là đem đối lập con người mình với thói tục bằng một tư thái ngông nghênh và tiếng cười đắc ý. Sách vở chép rằng lúc về hưu Nguyễn Công Trứ thường cưỡi bò vàng có đeo nhạc ngựa, còn đem một mo cau buộc chỗ đuôi bò, nói là để che mồm thế gian. Và ông cho việc làm đó là sự ngất ngưởng:

“Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”.

Bên trong tiếng cười và điệu bộ đó là triết lí tự nhiên về sự được mất: “Được mất dương dương người tái thượng”. Nguyền Công Trứ đã thông qua điển tích “Tái ông thất mã” để phơi bày thực chất xã hội và đưa ra cách nhìn nhận của mình. Xã hội đầy biến động thời Nguyễn Cóng Trứ vô số cảnh “lên voi xuống chó” và đó là mảnh đất sản sinh quan niệm về sự rủi may. Có điều là ở con người khả năng cứng cỏi và niềm tin ở bản thản như Nguyễn Công Trứ thì quan niệm đó ko thể trở thành tư tưởng hoài nghi làm con người nhụt chí hay bị xô đẩy tới chủ nghĩa “vô vi” của Lão Trang. Trái lại, nó mang đến lí lẽ để ông ko phải bận tâm với chuyện đời “nóng lạnh” và thêm vẻ “dương dương”.

Tuy nhiên, đương đầu với sự “được mất” cũng có nghĩa đương đầu với sự giàu nghèo,  vinh nhục vốn là những trị giá vật chất ý thức truyền thống. Hiểu như thế chúng ta sẽ thấy con người “dương dương”, “ngất ngưởng” thực sự là con người có tài năng, phẩm chất vượt lên trên những thế lực xưa nay ngự trị trong cuộc sống con người.

Ngất ngưởng còn biểu lộ trong phong cách, lối sống.

Ở Nguyễn Còng Trứ có con người lí tưởng của chí làm trai thời phong kiến. Nhưng cũng có con người tư nhân sống hết mình; có con người hành động hăm hở, sáng sủa và con người vui chơi bám đuổi theo thị hiếu: “Tay kiếm cung… một vài dì” Nguyễn Công Trứ đã đem hết tài nàng và cảm hứng để vẽ bức tranh về cuộc sống riêng của mình: những từ láy đặc tả màu sắc, đường nét {“phau phau”, “đủng đinh”, “phơi phới”), những điệp từ liên kết với nhịp thơ phóng khoáng (“Lúc ca, lúc tửu… ko Phật, ko Tiên…”) Khả năng biểu cảm dồi dào của tiếng Việt đã trình bày rực rỡ cái phóng túng, ham mê của con người Nguyễn Công Trứ. Tuy nhiên đây ko thuần tuý là một nhu cầu hưởng lạc được thi vị hóa. Nguyễn Công Trứ đã nâng được những gì được mô tả thành một phong cách, thành lối sống, và dụng ý nghệ thuật của thi sĩ là đã biến nó thành hình ảnh trái ngược với những tính giáo điều phong kiến. Hệ tư tưởng Nho giáo yêu cầu ở mỗi con người trách nhiệm đổi với số đông, nhưng lại phủ nhận “cái tôi”, áp đặt lên con người một cuộc sống khắc nghiệt, phi nhân tính. Còn đạo Phật, đạo Giáo thì hướng con người tới trục đường thoát tục và giảng giải việc phục vụ những nhu cầu cuộc sống con người là nguyên nhân của sự khổ đau. Từ cuộc sống nhưng mà mình làm chủ Nguyễn Công Trứ tìm tới “non tiên’’, “cảnh phật” vì thấy ở đó một toàn cầu tự nhiên tươi đẹp gắn với những tư tưởng phong kiến siêu hình vươn lên một cuộc sống thực sự của con người.

Phần kết cra bài thơ Nguyễn Công Trứ nói chung về con người mình với đặc điểm: một tài năng, hoài bão lớn, sống trong xầ hội phong kiến ko thể ko thấy trục đường, lí tưởng của xã hội để thi thố tài năng, làm nên sự nghiệp; một tư cách và ý thức tư nhân mạnh mẽ, tự tin có đủ điều kiện chủ quan và tiền đề xã hội để đối lập với hoàn cảnh và giải phóng phong cách. Tổng hòa các mặt đó ở một con người, tạo nên phong cách sông ngất ngưởng. Từ “tay ngất ngưởng”, “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng” tới “trong triều người nào ngất ngưởng như ông” bài thơ đã nâng lên sự khẳng định, đúng hơn là tự khẳng định một con người tiêu biểu cho một kiểu người có tính chất phi chính thống mang đậm sắc “cái tôi” hiện đại ngang nhiên tồn tại trong lòng xã hội phong kiến.

Phân tích Bài ca ngất ngưởng học trò giỏi – Bài mẫu 2

           Lúc đã nghỉ hưu ở quê nhà, Nguyễn Công Trứ viết Bài ca ngất ngưởng trình bày phong cách sống của ông. Đây là triết lí sống trong cuộc đời lúc còn là một thư sinh, lúc xuất chính hay lúc đã về hưu của ông. Ngất ngưởng là từ tượng hình có trị giá biểu đạt, diễn tả ở một vị trí cao cheo leo, ko ổn định, liên hệ vào con người là một lối sống khác người: ngông nghênh, thử thách với mọi người, vượt lên thế tục tầm thường!

           Mở đầu là câu thơ chữ Hán trình bày lí tưởng của nhà Nho: phận sự của kẻ sĩ là phải coi việc gánh vác trong vũ trụ là phận sự của mình.

           Thi sĩ tự xưng mình là ông – Ông Hi Văn – tuần tự làm các việc: thi đỗ thủ khoa, lúc làm quan Tham tán vụ bộ Hình, lúc làm Tổng đốc Hải An, lúc làm Đại tướng Bình Tây, lúc làm Phủ doãn Thừa Thiên, nhưng ông ko ở lâu chức vụ nào vì bị giáng chức.

           Sự nghiệp như thế thật ko hổ thẹn với chí lớn kẻ làm trai. Mặc dù trên đường công danh có những lúc thăng trầm nhưng cuối cùng ông cũng ở được phẩm tước khá cao dù cái xã hội đó, ông gọi là cái lồng.

           Cuộc đời lập nghiệp công danh kéo dài từ năm 1820 tới năm 1848, ông đã tự chứng tỏ cái tài song toàn về văn võ một cách hiển hách nổi tiếng, tới nỗi ông ko che dấu lúc tự thuật về mình. Một tay ngất ngưởng trên hoan lộ:

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng!

           Sau lúc làm xong phận sự, ông ko ngần ngại cởi trả áo mão triều đình cáo lão về hưu.

           Quãng đời sau cuối của Nguyễn Công Trứ là quãng đời ko màng lợi danh, hoàn toàn hưởng nhàn theo thị hiếu tư nhân. Với một tâm hồn tự do và một cuộc sống độc lập, ông thả phanh ngất ngưởng cỡi bò vàng đeo nhạc ngựa tiêu diêu đây đó, lúc chùa, lúc núi, lại đèo theo lững thững một vài dì. Cách hưởng nhàn hành lạc của ông ở đây thật tới quá quắt, nhưng mà có nhẽ khôi hài lập dị của một trang nam tử có một thị hiếu riêng, tới nỗi:

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng!

           Lối hưởng lạc này có một sinh khí và một tính cách riêng, đó là lối hưởng lạc nhập tục theo chiều hướng phóng khoáng tư nhân, ko giống một người nào, ko Tiên ko Phật cũng ko tục, nhưng vẫn trọn nghĩa vua tôi:

Lúc ca, lúc tửu, lúc các, lúc tùng

Ko Phật, ko Tiên, ko vướng tục.

           Hướng nhàn hành lạc chỉ là thời kì sau cuối của ông lúc làm xong phận sự. Ông muốn mọi người hiểu rằng cuộc đời là trung nghĩa. Biết bao lần lên bổng xuống trầm trên hoan lộ, vì ghét ghen, vì vu cáo, thế nhưng mà vẫn giữ vững đức trung quân, ái quốc, ko hề có một ý tưởng bất mãn.

           Bởi vậy lúc về hưu vui thú tuổi già, ông sống với một cõi lòng yên vui điềm nhiên; trên ko lỗi với vua, dưới ko phật lòng quần chúng. Cho nên lúc Tiền Hải, Kim Sơn, lúc chống gậy tới chốn triều đình nghị quốc quân đại sự. Năm Tự Đức thứ 12, ông nghe tin liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công cửa bể Đà Nẵng, ko quản ngại thân già, ông chống gậy tới chốn triều đình dâng sớ xin vua cầm quân đánh giặc; nhưng vua ko chấp thuận vì thấy ông tuổi tác đã già nua.

           Tự xét hiểu mình như thế, nên ông tự hào tự ghi nhận về mình:

Chẳng Trái Nhạc cũng vào phường Hàn Phú,

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung,

Trong triều người nào ngất ngưởng như ông!

           Phải chăng đó là lối sống mang cái chí khí ngất ngưởng. Không những ông ko sợ người nào cười chê nhưng mà còn đầy lòng tự hào về cái đạo sống ngất ngưởng đó. Tóm tắt lại có bốn cái ngất ngưởng nổi trội trong đời ông:

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng!

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng!

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng!

Trọng triều người nào ngất ngưởng như ông!

Phân tích Bài ca ngất ngưởng học trò giỏi – Bài mẫu 3

           Nguyễn Công Trứ, cái tên thật sự thân thuộc và thân thiện nhưng mà từ xưa tới nay vẫn được bao người dân Việt Nam nhắc tới như một sự hàm ơn trân trọng về công lao khai phá ra hai vùng đất trù phú: Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình). Song ko vì thế nhưng mà ta có thể quên đi một Nguyễn Công Trứ, nghệ sĩ tài hoa, một tư cách đã khẳng định được cái bản ngã của chính mình, để từ đó định hình nên một tính cách, một khả năng trong cuộc sống và thông minh nghệ thuật. Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Cõng Trứ sẽ cho ta thấy rõ cái khả năng riêng ko thể trộn lẫn đó của ông.

           Theo Tự điển Tiếng Việt, ngất ngưởng được hiểu là ở thế ko vững lắc lư, nghiêng ngả như chực ngã. Tuy nhiên hai chữ ngất ngưởng trong bài thơ này của Nguyễn Công Trứ cần được hiểu theo một cách khác, ở đây ngất ngưởng cần hiểu gắn với một cách sống, một thái độ sống. Có tương tự ta mới có thể hiểu được về con người Nguyễn Công Trứ – một con người có lối sống khác người, bất chấp mọi thế lực ở đời, một lối sống được khắng định bằng chính tài năng và bản ngã.

           Toàn thể bài thơ ko chỉ là sự giải nghĩa lí giải về cái sự ngất ngưởng của chính mình, nhưng mà nó còn được xem như là một lời tự thuật về cuộc đời, là niềm tự hào về tài năng, công danh, đồng thời cho ta thấy một phong cách lối sống tài tử phóng khoáng của Nguyễn Công Trứ.

           Mở đầu bài thơ là lời khẳng định về quan niệm sống của một đấng làm trai:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự.

(Mọi việc trong vũ trụ chẳng có việc nào ko là phận sự của ta).

Câu thơ vang lên cứng ngắc, khẳng định một cách mạnh mẽ và tự hào về quan niệm làm trai của Nguyễn Công Trứ. Đây là một quan niệm cho thấy Nguyễn Công Trứ xoành xoạch ý thức được về bản thân mình, đồng thời luôn xác định được vị trí của mình trong cuộc đời. Điều này có được từ một kẻ sĩ có tài năng. Tuyên ngôn này của Nguyễn Công Trứ đã được khẳng định như một chân lí và trở đi trở lại như một mệnh đề thân thuộc trong thơ ông.

Vũ trụ giai ngô phận sự

(Những việc trong vũ trụ đều thuộc phận sự của ta – Nợ tang bồng).

           Hay trong bài Gánh trung hiếu, Nguyễn Công trứ cũng đã khẳng định:

Vũ trụ chức vụ nộ

(Việc trong vũ trụ là chức vụ của ta)

           Nói như vặy để ta khẳng định rằng Nguvền Công Trứ xoành xoạch xác định cho mình một quan niệm sống tích cực, đồng thời càng cho thấy rõ sự tự ý thức về bản thân của chính tác giả.

           Chính vì xoành xoạch có ý thức về vị trí của chính mình trong trời đất nhưng mà Nguyễn Công Trứ ko ngại ngùng khẳng định tài năng về chí làm trai, tác giả tuần tự chứng minh cho người đọc thấy được tài năng và bản ngã của chính mình:

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

Lúc thủ khoa, lúc Tham tán, lúc Tổng đốc Đông

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

           Nguyễn Công Trứ đã tự xưng danh, đồng thời khẳng định tài bộ (tài năng lớn, nhiều mặt) của mình. Và trên thực tiễn với những thực danh: Thủ khoa, tham tán, Tổng đốc Đông đã chứng minh cho tài năng lớn của Nguyễn Công Trứ. Câu thơ được ngắt nhịp ngắn đều, chậm rãi cùng với việc sử dụng điệp từ lúc tạo nên một lối nói khẳng định đầy sự tự hào.

           Tuy nhiên hiện lên trong bài thơ ko chỉ là một Nguyễn Công Trứ tài năng, nhưng mà còn là một Nguyễn Công Trứ có tài kinh bang tế thế:

Lúc bình Tây, cờ đại tướng,

Có lúc về Phủ doãn Thừa Thiên.

           Tương tự tới đây chúng ta có đầy đủ cơ sở để khẳng định một con người có tài năng thực sự và xoành xoạch ý thức được về tài năng của chính bản thân mình. Đây cũng chính là sự khẳng định bản ngã của Nguyễn Công Trứ, là một phần trong phẩm chất nhưng mà ông tự hào gọi là tay ngất ngưởng. Để từ đó ta có thể hiểu ngất ngưởng theo một nghĩa tích cực, trong đó có sự khẳng định bản ngã của chính mình.

           Một Nguyễn Công Trứ có tài, có thực danh tương tự, đó nhưng mà lúc trờ về đời thường lại là một tay ngạo nghễ giễu đời:

Đô môn giải tổ chi niên

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.

Cho nên ông ko ngại ngùng bộc bạch một cách sống thật khác người, khác đời:

Kìa núi nọ phau phau mây trắng

Tay kiếm cung nhưng mà nên dạng từ bi

Gót tiên theo đủng đinh một vài dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.

           Là một nhà nho, từng là một danh tướng, từng xông pha trận mạc đó vậy nhưng mà lại sống cuộc sống bình dị nên dạng từ bi. Tuy nhiên cái lối sống đó của Nguyễn Công Trứ lại chẳng tầm thường một tẹo nào: đi vãng cảnh chùa nhưng mà: gót tiên theo lững thững một vài dì phải chăng ông đang bất chấp cuộc sống, đang giễu cợt sự đời, có nhẽ hiểu biết tương tự còn phiến diện. Bởi sinh tiền Nguyễn Công Trứ là một người biết chơi theo quan niệm sống hết mình và chơi cũng hết mình. Trong trần hoàn mấy mặt làng chơi… Biết mùi chơi chưa dễ mấy người hay ông từng tuyên bố Nếu ko chơi thiệt đó người nào bù… Vậy cũng có thể hiểu đây là một lối sống phóng túng, ko chịu gò bó. Câu thơ được Nguyễn Công Trứ mô tả bằng nụ cười hóm hỉnh, nhiều tự hào của tác giả, phải chăng là cười cho sự khen chê cùa người đời, có nhẽ là cả hai điều đó, bởi một điều thật đơn giản.

Được mất dương dương người thái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong

           Với Nguyễn Công Trứ một lúc đã thoát khỏi vòng lợi danh thì những chuyện được mất, khen chê ở đời xin bỏ ngoài tai, như ngọn gió đông thổi qua nhưng mà thôi. Điều này chỉ có được lúc người ta có khả năng tự tin về tài năng của mình. Đó cũng chính là cái ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ trong đó chứa đựng hạt nhân của phong cách sống phóng túng, hiếm thấy của ông. Chính vì vậy nhưng mà ông có được cuộc sống thanh cao vui vẻ:

Lúc ca, lúc tửu, lúc cắc, lúc tùng

Ko Phật, ko Tiên, ko vướng tục.

           Câu thơ được ngắt nhịp hai, liên kết với lối diễn tả trùng điệp tạo cho câu thơ chậm rãi, qua đó lột tả được phong thái ung dung yêu đời, thanh cao của nhà nho Nguyễn Công Trứ.

           Thái độ sống tương tự của ông có được từ con người luôn tự tin vào bản thân mình, luôn ý thức được bản ngã của chính mình.

           Sự phô bày bản ngã được bộc lộ rõ nét một cách tột cùng ở khổ thơ cuối:

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo xơ chung

Trong triều người nào ngất ngưởng như ông!

           Nguyễn Công Trứ đã tự khẳng định mình là con người trung thần, làm tròn đạo vua tôi, điều này góp phần khẳng định thêm quan niệm về chí làm trai của tác giả ở đầu bài thơ. Bằng lối so sánh với những bậc người hùng như Nhạc Phi, Hàn Kì, Phú Bật… của đời Hán, Tống bên Trung Quốc. Tác giả đã khẳng định tài năng và công lao của mình một cách đĩnh đạc hào hùng. Cùng có thể xem đó là những lời nói đầy tự hào về bản thân của chính tác giả. Để từ đó Nguyễn Công Trứ ngạo nghễ tuyên bố:

Trong triều người nào ngất ngưởng như ông!

           Tương tự tới đây hẳn chúng ta đã hiểu cái ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ. Đó chẳng phải là cái gì khác nhưng mà chính là thái độ, cách sống của một nhà nho tài tử. Nguyễn Công Trứ có được điều đó xuất phát từ tài năng, thực danh, từ sự làm tròn phận sự. Vậy cái ngất ngưởng của ông ko phải tiêu cực nhưng mà sự khẳng định bản ngã của mình, là khả năng dám sống ở đời, và một phong cách sống tài hoa tài tử.

           Cùng với những bài thơ khác như Đi thi tự vịnh, Chí làm trai, Nợ tang bồng, Gánh trung hiếu… Bài thơ Bài ca ngất ngưởng đã một lần nữa vẽ rõ nét chân dung của thi sĩ. Đây chính là phong cách sống, phong cách nghệ thuật của con người và của thơ Nguyễn Công Trứ.

Phân tích Bài ca ngất ngưởng học trò giỏi – Bài mẫu 4

           Nguyễn Công Trứ (1778 – 1859) là một ông quan lớn văn võ toàn tài dưới triều Nguyễn. Nhắc tới ông người ta nhớ tới công lao khai phá đất hoang, lấn biển, lập nên hai xã Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình). Người ta cũng ko quên một thi sĩ với những vần thơ đầy khẩu khí của một bậc chính nhân quân tử về chí nam nhi phụng sự tổ quốc, về cái tôi ngất ngưởng của một con người hiểu rõ về mình, về xã hội nhưng mà mình đang sống. Nếu như Chí người hùng tràn đầy khí phách của người tuổi xanh, thì Bài ca ngất ngưởng, được viết lúc ông đã thành danh, là bài thơ tổng kết về cuộc đời và khẳng định cái tôi (bản ngã) của cụ Thượng Trứ.

           Để làm rõ được cái tôi ngất ngưởng của mình, thi sĩ đã chọn thể hát nói bằng chữ Nôm – một thể thơ tài tử của dân tộc tương đối tự do, viết ra ko phải để đọc nhưng mà để ngâm nga, hát xướng. Người trình bày có thể theo đà xúc cảm nhưng mà luyến láy cho thích hợp. Bài thơ vì vậy nhưng mà đầy âm sắc, nhạc điệu.

           Nếu tính cả nhan đề, bài thơ có tới năm lần dùng từ “ngất ngưởng”, được đặt ở cuối mỗi đoạn như nốt nhấn của bài ca. Đây là cái dáng vẻ của một ý thức ngạo nghễ, tự coi mình, hơn người, trên người đời. Đây cũng là tư thế chung của toàn bài.

           Mở bài ta bắt gặp sự khác đời trong cách tự giới thiệu về mình:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự.

           Câu thơ chữ Hán tạm dịch là: Phàm những việc trong trời đất này ko có việc gì ko phải là phận sự của ta – Tiếp theo tác giả dùng một loạt từ Hán – Việt cùng thủ pháp liệt kê, kể cụ thể những chức tước danh phận của mình: Lúc Thủ khoa, lúc Tham tán, lúc Tổng đốc Đông…/ Lúc bình Tây, cờ đại tướng/ Có lúc về Phủ doãn Thừa Thiên… Nhịp thơ trầm bổng nhấn nhá của lối ca trù nghe thật êm đềm nhẹ nhõm như mặt sông mùa xuân. Một sự khẳng định tài năng kiệt xuất của mình thật khéo nhưng mà cũng thật kiêu ngạo khác đời. Nguyễn Công Trứ dám nói thẳng ko hề tránh né. Ngay cả cách đưa tên hiệu “ông Hi Văn” vào bài cũng chẳng giống người nào. Hi Văn – chữ Hán có tức là nhà văn hiếm. Tự gọi mình một cách trang trọng là ông và nhận mình tương tự thì chỉ có ông. Nguvễn Công Trứ đã phá vỡ tính phi ngã của thi pháp trung đại, ko chịu ép mình vào cái ta chung của số đông, xã hội. (Ở câu cuối ta thấy ông còn tự tách mình ra, đối lập mình với cả từng lớp phong kiến). Tất nhiên ông có cái thế của một bậc đại nhân quân tử để viết tương tự. Nhưng nói được như ông ở thơ văn trung đại ko nhiều. Nếu có chăng, trước đó có Nguyễn Trãi với một tình yêu lãng mạn ở Cây chuối, Phạm Thái đớn đau xót xa tới vô vọng trước cái chết của người yêu trong Văn tế Trương Quỳnh Như. Gần nhất có cách xưng danh khắng định mình của Hồ Xuân Hương (Này của Xuân Hương mới quệt rồi – Mời trầu), hay Nguyễn Du (Người đời người nào người khóc Tố Như – Độc Tiểu Thanh kí). Các nhà văn đó vẫn còn nhún nhường, khép nép hoặc còn xa xôi, chung chung.

           Cái ngất ngưởng còn ở lối sống, cách sống khác đời. Nguyễn Công Trứ là người biết sống. Lúc trẻ trai, hoạt động tích cực hết mình theo quan niệm nhập thế hành đạo tích cực của nho gia, Trở về già thì sống nhàn hạ hưởng lạc. Một trong những thú vui của ông là nghe hát đào nương (còn gọi là ca trù). Người ta lên xe xuống ngựa xênh xang thì cụ Thượng Trứ ngao du sơn thủy, thưởng lãm chùa chiền cùng các cô đầu bằng xe bò. Nhưng mà là bò cái vàng với cái mo cau che sau đuôi. Cụ giảng giải: Để che mồm thế gian:

Điển viên dạo chiếc xe bò cái

Sẵn chiếc mo che mồm thế gian

           Sự ngông ngạo này chính ông đã nhận xét: Bụt cũng nực cười… Nguyễn Công Trứ đã vượt ra khỏi lẽ sống được tầm thường ở đời:

Được mất dương dương người tái thượng

Khen che phơi phới ngọn đông phong

Lúc cơ, lúc tửu, lúc cắc lúc tùng

Ko phật, ko tiên, ko vướng tục

           Như trên đã nói, Nguyễn Công Trứ tự tách mình ra khỏi cái trật tự xã hội nhố nhăng, ô uế, dơ dáy, nhiều kẻ vỗ ngực là quân tử nhưng thực chất chỉ là hạng cây vông: Tuổi tác càng già càng xốp xáp/ Ruột gan ko có, có gai chông (Vịnh cây vông).

           Ngông ngạo nhưng ở hai bài này Nguyễn Công Trứ ko rơi vào tình thế bi quan tuyệt vọng hay phá phách bất cần đời như một số nhà văn lãng mạn sau này. Mục tiêu sống của ông rất rõ ràng: Phò vua giúp nước:

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

Hay như có lần đối lại ý của một nhà sư ông hóm hỉnh nêu:

Hay tám vạn nghìn tư mặc kệ

Ko quân thần phụ tử đếch nên người.

           Nói khác đi, sự ngất ngưởng của ông ta là để nhằm lật tung cái trật tự xã hội phong kiến đương thời tưởng như yên ả bằng vận nhưng thực chất thối nát, mục ruỗng tới cùng cực. Ông ko muốn mình bị “đồng hóa” cùng hội cùng thuyền với lũ thăm quan vô lại.

           Vì vậy tiếng cười tự trào của Nguyễn Khuyến có ngạo nghễ nhưng ko ngoa ngôn, lộng ngữ, vừa cụ thể lại vừa có tính biểu tượng, vừa có chút trào phúng lại vừa mang tính triết lý, trình bày quan niệm sống của thi sĩ.

           Thơ văn Nguyễn Công Trứ vốn phóng khoáng ngang tàng như thực chất con người ông. Bài ca ngất ngưởng là một trong những bài thơ hay được nhiều người nhắc tới với sự tán thưởng thích thú. Một phần bởi bài thơ giàu tính nhạc, nhưng phần lớn bởi khả năng vững vàng cứng cỏi của con người tài năng xuất chúng này. Nguyễn Công Trứ đã thổi một luồng sinh khí mới lạ cho văn học tiên tiến, đưa yếu tố tư nhân, cái tôi cần được thổ lộ vào trực tiếp trong văn học. Đó cũng là một trong những bước đệm quan trọng để văn học Việt Nam thời đoạn đầu thế kỷ XX có những bước chuyến mình vượt trội, bước qua cái ta, giải phóng yếu tố tư nhân, cho văn học Việt Nam tiến kịp nền thơ ca nói riêng và văn học nghệ thuật hiện đại toàn cầu nói chung.

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

Hình Ảnh về: Phân tích Bài ca ngất ngưởng học trò giỏi

Video về: Phân tích Bài ca ngất ngưởng học trò giỏi

Wiki về Phân tích Bài ca ngất ngưởng học trò giỏi

Phân tích Bài ca ngất ngưởng học trò giỏi -

Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề Phân tích Bài ca ngất ngưởng học trò giỏi. Các bài văn mẫu được biên soạn, tổng hợp tăng lên, cụ thể từ các bài viết hay, xuất sắc nhất của các bạn học trò chuyên văn. Mời các em cùng tham khảo nhé! 

Phân tích Bài ca ngất ngưởng học trò giỏi – Bài mẫu 1

            Nguyễn Công Trứ tự là Tồn Chất, hiệu là Hi Văn, sinh năm 1778, người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông cha là Nguyễn Công Tấn, đậu hương cống, từng làm tri phủ Tiên Hưng (Thái Bình), sau đó do hưởng ứng phong trào phò Lê chống lại Tây Sơn, nên được triều Lê phong tước Đức Nghi Hầu.

Nguyễn Công Trứ là một người tài năng hiếm có về nhiều mặt, đã sớm xác định trục đường tiến thân bằng khoa giáp công danh. Thời trẻ, Nguyền Công Trứ học hành cần mẫn, nhưng thi cử long đong, mãi tới năm 42 tuổi mới đỗ hương nguyên. Cuộc đời làm quan của ông lên xuống thất thường, vậy nhưng mà lúc nào ông cũng ôm ấp chí lớn và giữ đạo tôi trung Nguyễn Công Trứ tích cực thi hành chức trách, phận sự, kể cả việc nhiều lần đánh dẹp nông dân khởi nghĩa, nhưng ko thể mất yếu tố tiến bộ của nhà nho chân chính. Lúc làm quan, ông nổi tiếng thanh liêm. Trong việc khai phá đất hoang, đắp đê lấn biển. Nguyễn Công Trứ đã Đem lại lợi ích cho nhân dân ở nhiều nơi, đáng kể là vùng Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình). Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, mặc dù đã 80 tuổi. Nguyễn Công Trứ vẫn dâng sớ xin cầm quân đánh giặc. Cũng năm đó, ông tạ thế.

Nguyễn Công Trứ là hiện tượng đặc thù về một kẻ sĩ nhưng mà lại có cuộc sống phóng túng và phong cách tự do, lạ mắt.

Thơ ca còn lại của Nguyền Công Trứ gồm khoảng 50 bài thơ, trên 60 bài ca trù, một bài phúng, đều viết bằng chữ Nôm. Ngoài ra còn có một số bài thơ chữ Mán, một số câu đối Nôm.

Bài ca ngất ngưởng là tác phẩm được viết vào sau năm 1848, lúc Nguyễn Công Trứ cáo quan về hưu. Đây là tiếng nói của Hi Văn sau quãng đời thiến lộ lồi lõm. Thời kì suy vong của cơ chế phong kiến Việt Nam được ghi lại bằng sự xuất hiện của con người khát vọng tự do (như Chim trong lồng của Nguvền Hữu Cầu), người người hùng “phản nghịch” (như Từ Hải trong Truyện Kiều), người phụ nữ “nổi loạn” (trong thơ Hồ Xuân Hương)… Cũng là sự phản ứng với hoàn cảnh, nhưng ở Nguyễn Công Trứ, sự biểu lộ chủ yếu trên phương diện quan niệm và lối sống bằng hình thức phóng to hình ảnh con người tư nhân tới mức khôi hài. Dưới con mắt của người đời và sự tôn xưng của Hi Văn thì đó là sự ngất ngưởng.


Bài thơ được viết theo thể ca trù hay còn gọi là hát nói, một lối thơ tự do về nhịp độ, câu chữ. Ở đây, thể tài thích hợp với nội dung xúc cảm của bài thơ.

Kết cấu bài thơ gần như kết câu một bài thơ hát nói, chia làm nhiều đoạn gọi là khổ). Mỗi đoạn được kết bằng câu có từ “ngất ngưởng”, soi sáng những góc độ không giống nhau của hình tượng nhân vật trữ tình, trên cơ sở cảm hứng chủ đạo mang tính nhân văn và ý nghĩa chống phong kiến.

Con người ngất ngưởng của Nguyền Công Trứ trước hết là con người tài năng, danh vọng.

Câu thơ chữ Hán mở đầu cô đúc quan niệm lập thân của Nguyễn Công Trứ: “Vũ trụ nội mạc phi phận sự”.

Đây là quan niệm nhưng mà ông đã nói nhiều bài thơ, cho rằng con người sinh ra do “ý của trời đất” (“Thiên địa sinh ngô nguyên hữu ý” – Trời đất sinh ra ta là có ý), nên phải có trách nhiệm, phải gánh vác việc đời (Vũ trụ giai ngô phận sự” – Những việc trong vũ trụ đều thuộc trong phận sự của ta). Trong Nguyễn Công Trứ, quan niệm đó gắn liền với ý tưởng “tu, tề, trị, bình”, với chí làm trai và chủ nghĩa người hùng nhưng mà ông theo đuổi với tất cả lòng tin tưởng, sáng sủa trong suốt cuộc đời.

Sau quan niệm đó là sự hiện diện một con người tài năng xuất chúng và danh vọng vẻ vang:

“Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng…

… có lúc về Phủ doãn Thừa Thiên”

Tính tự thuật qua các nhân vật từ nhân xưng về tên hiệu, quan chức, tài năng đã khắc họa con người tư nhân tự ý thức về mình, mức độ lộ ra ngoài bộ dạng: “Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”. Câu thơ còn có ý vị trào phúng: một con người tầm cỡ thế nhưng mà lại chịu đặt mình vào chiếc lồng hạn hẹp. Nhưng chút cười đùa này thực ra là để khẳng định lòng tự tin của Nguyễn Công Trứ.

Ông ko phải ko biết chốn quan trường đầy rẫy những dây nhợ nào buộc trói được.

Trong hình thức biểu lộ có sự liên kết hệ thống từ Hán – Việt và từ Nôm: những từ Hán Việt về quan chức, danh vị trình bày một tài năng thành đạt gắn liền với xã hội phong kiến; còn từ Nôm là những từ thông dụng được sử dụng linh hoạt trong các câu thơ dài ngắn xen nhau, nhịp độ nhịp nhàng, tới dàn trải thế hiện con người tư nhân tự do, đồng thời ghi rõ các gốc sự ngất ngưởng ở con người đó là gì: “Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng”. Tương tự con người ngất ngưởng ở đây là con người cũng là cơ sở để tư nhân vượt lên khỏi mọi ràng buộc.

Cái ngất ngưởng trong thơ Nguyền Công Trứ là sự ngất ngưởng trước cuộc đời được mất.

Cuộc đời Nguyễn Công Trứ được ghi nhận bằng những chiến tích, những lần thăng quan tiến chức.

“Lúc bình Tây, cờ đại tưởng

Có lúc về Phủ doãn Thừa Thiên”.

Nhưng cũng có những bước thụt lùi, đắng cay. Theo sử sách ghi thì Nguyễn Công Trứ làm đại tướng, lúc bị cách tuột làm lính thú, thăng quan hẳn là do tài năng hơn người của ông. Nhưng còn những lần bị giáng chức? Và tồn tại những lời thẩm bình của dư luận. Nguyễn Công Trứ thấy rõ đằng sau sự bất công nhưng mà ông phải chịu là mặt trái của xã hội phong kiến. Lúc cần ông tố cáo gay gắt:

“Thế thái tình nhân gớm chết thay

Lạt nồng trông chiếc túi vơi đầy.

(Vịnh nhân tinh thế thái)

Tuy vậy, cách biểu lộ thái độ nhưng mà Nguyễn Cõng Trứ đặc thù lựa chọn là đem đối lập con người mình với thói tục bằng một tư thái ngông nghênh và tiếng cười đắc ý. Sách vở chép rằng lúc về hưu Nguyễn Công Trứ thường cưỡi bò vàng có đeo nhạc ngựa, còn đem một mo cau buộc chỗ đuôi bò, nói là để che mồm thế gian. Và ông cho việc làm đó là sự ngất ngưởng:

“Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”.

Bên trong tiếng cười và điệu bộ đó là triết lí tự nhiên về sự được mất: “Được mất dương dương người tái thượng”. Nguyền Công Trứ đã thông qua điển tích “Tái ông thất mã” để phơi bày thực chất xã hội và đưa ra cách nhìn nhận của mình. Xã hội đầy biến động thời Nguyễn Cóng Trứ vô số cảnh “lên voi xuống chó” và đó là mảnh đất sản sinh quan niệm về sự rủi may. Có điều là ở con người khả năng cứng cỏi và niềm tin ở bản thản như Nguyễn Công Trứ thì quan niệm đó ko thể trở thành tư tưởng hoài nghi làm con người nhụt chí hay bị xô đẩy tới chủ nghĩa “vô vi” của Lão Trang. Trái lại, nó mang đến lí lẽ để ông ko phải bận tâm với chuyện đời “nóng lạnh” và thêm vẻ “dương dương”.

Tuy nhiên, đương đầu với sự “được mất” cũng có nghĩa đương đầu với sự giàu nghèo,  vinh nhục vốn là những trị giá vật chất ý thức truyền thống. Hiểu như thế chúng ta sẽ thấy con người “dương dương”, “ngất ngưởng” thực sự là con người có tài năng, phẩm chất vượt lên trên những thế lực xưa nay ngự trị trong cuộc sống con người.

Ngất ngưởng còn biểu lộ trong phong cách, lối sống.

Ở Nguyễn Còng Trứ có con người lí tưởng của chí làm trai thời phong kiến. Nhưng cũng có con người tư nhân sống hết mình; có con người hành động hăm hở, sáng sủa và con người vui chơi bám đuổi theo thị hiếu: “Tay kiếm cung… một vài dì” Nguyễn Công Trứ đã đem hết tài nàng và cảm hứng để vẽ bức tranh về cuộc sống riêng của mình: những từ láy đặc tả màu sắc, đường nét {“phau phau”, “đủng đinh”, “phơi phới”), những điệp từ liên kết với nhịp thơ phóng khoáng (“Lúc ca, lúc tửu… ko Phật, ko Tiên…”) Khả năng biểu cảm dồi dào của tiếng Việt đã trình bày rực rỡ cái phóng túng, ham mê của con người Nguyễn Công Trứ. Tuy nhiên đây ko thuần tuý là một nhu cầu hưởng lạc được thi vị hóa. Nguyễn Công Trứ đã nâng được những gì được mô tả thành một phong cách, thành lối sống, và dụng ý nghệ thuật của thi sĩ là đã biến nó thành hình ảnh trái ngược với những tính giáo điều phong kiến. Hệ tư tưởng Nho giáo yêu cầu ở mỗi con người trách nhiệm đổi với số đông, nhưng lại phủ nhận “cái tôi”, áp đặt lên con người một cuộc sống khắc nghiệt, phi nhân tính. Còn đạo Phật, đạo Giáo thì hướng con người tới trục đường thoát tục và giảng giải việc phục vụ những nhu cầu cuộc sống con người là nguyên nhân của sự khổ đau. Từ cuộc sống nhưng mà mình làm chủ Nguyễn Công Trứ tìm tới “non tiên’’, “cảnh phật” vì thấy ở đó một toàn cầu tự nhiên tươi đẹp gắn với những tư tưởng phong kiến siêu hình vươn lên một cuộc sống thực sự của con người.

Phần kết cra bài thơ Nguyễn Công Trứ nói chung về con người mình với đặc điểm: một tài năng, hoài bão lớn, sống trong xầ hội phong kiến ko thể ko thấy trục đường, lí tưởng của xã hội để thi thố tài năng, làm nên sự nghiệp; một tư cách và ý thức tư nhân mạnh mẽ, tự tin có đủ điều kiện chủ quan và tiền đề xã hội để đối lập với hoàn cảnh và giải phóng phong cách. Tổng hòa các mặt đó ở một con người, tạo nên phong cách sông ngất ngưởng. Từ “tay ngất ngưởng”, “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng” tới “trong triều người nào ngất ngưởng như ông” bài thơ đã nâng lên sự khẳng định, đúng hơn là tự khẳng định một con người tiêu biểu cho một kiểu người có tính chất phi chính thống mang đậm sắc “cái tôi” hiện đại ngang nhiên tồn tại trong lòng xã hội phong kiến.

Phân tích Bài ca ngất ngưởng học trò giỏi – Bài mẫu 2

           Lúc đã nghỉ hưu ở quê nhà, Nguyễn Công Trứ viết Bài ca ngất ngưởng trình bày phong cách sống của ông. Đây là triết lí sống trong cuộc đời lúc còn là một thư sinh, lúc xuất chính hay lúc đã về hưu của ông. Ngất ngưởng là từ tượng hình có trị giá biểu đạt, diễn tả ở một vị trí cao cheo leo, ko ổn định, liên hệ vào con người là một lối sống khác người: ngông nghênh, thử thách với mọi người, vượt lên thế tục tầm thường!

           Mở đầu là câu thơ chữ Hán trình bày lí tưởng của nhà Nho: phận sự của kẻ sĩ là phải coi việc gánh vác trong vũ trụ là phận sự của mình.

           Thi sĩ tự xưng mình là ông – Ông Hi Văn – tuần tự làm các việc: thi đỗ thủ khoa, lúc làm quan Tham tán vụ bộ Hình, lúc làm Tổng đốc Hải An, lúc làm Đại tướng Bình Tây, lúc làm Phủ doãn Thừa Thiên, nhưng ông ko ở lâu chức vụ nào vì bị giáng chức.

           Sự nghiệp như thế thật ko hổ thẹn với chí lớn kẻ làm trai. Mặc dù trên đường công danh có những lúc thăng trầm nhưng cuối cùng ông cũng ở được phẩm tước khá cao dù cái xã hội đó, ông gọi là cái lồng.

           Cuộc đời lập nghiệp công danh kéo dài từ năm 1820 tới năm 1848, ông đã tự chứng tỏ cái tài song toàn về văn võ một cách hiển hách nổi tiếng, tới nỗi ông ko che dấu lúc tự thuật về mình. Một tay ngất ngưởng trên hoan lộ:

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng!

           Sau lúc làm xong phận sự, ông ko ngần ngại cởi trả áo mão triều đình cáo lão về hưu.

           Quãng đời sau cuối của Nguyễn Công Trứ là quãng đời ko màng lợi danh, hoàn toàn hưởng nhàn theo thị hiếu tư nhân. Với một tâm hồn tự do và một cuộc sống độc lập, ông thả phanh ngất ngưởng cỡi bò vàng đeo nhạc ngựa tiêu diêu đây đó, lúc chùa, lúc núi, lại đèo theo lững thững một vài dì. Cách hưởng nhàn hành lạc của ông ở đây thật tới quá quắt, nhưng mà có nhẽ khôi hài lập dị của một trang nam tử có một thị hiếu riêng, tới nỗi:

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng!

           Lối hưởng lạc này có một sinh khí và một tính cách riêng, đó là lối hưởng lạc nhập tục theo chiều hướng phóng khoáng tư nhân, ko giống một người nào, ko Tiên ko Phật cũng ko tục, nhưng vẫn trọn nghĩa vua tôi:

Lúc ca, lúc tửu, lúc các, lúc tùng

Ko Phật, ko Tiên, ko vướng tục.

           Hướng nhàn hành lạc chỉ là thời kì sau cuối của ông lúc làm xong phận sự. Ông muốn mọi người hiểu rằng cuộc đời là trung nghĩa. Biết bao lần lên bổng xuống trầm trên hoan lộ, vì ghét ghen, vì vu cáo, thế nhưng mà vẫn giữ vững đức trung quân, ái quốc, ko hề có một ý tưởng bất mãn.

           Bởi vậy lúc về hưu vui thú tuổi già, ông sống với một cõi lòng yên vui điềm nhiên; trên ko lỗi với vua, dưới ko phật lòng quần chúng. Cho nên lúc Tiền Hải, Kim Sơn, lúc chống gậy tới chốn triều đình nghị quốc quân đại sự. Năm Tự Đức thứ 12, ông nghe tin liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công cửa bể Đà Nẵng, ko quản ngại thân già, ông chống gậy tới chốn triều đình dâng sớ xin vua cầm quân đánh giặc; nhưng vua ko chấp thuận vì thấy ông tuổi tác đã già nua.

           Tự xét hiểu mình như thế, nên ông tự hào tự ghi nhận về mình:

Chẳng Trái Nhạc cũng vào phường Hàn Phú,

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung,

Trong triều người nào ngất ngưởng như ông!

           Phải chăng đó là lối sống mang cái chí khí ngất ngưởng. Không những ông ko sợ người nào cười chê nhưng mà còn đầy lòng tự hào về cái đạo sống ngất ngưởng đó. Tóm tắt lại có bốn cái ngất ngưởng nổi trội trong đời ông:

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng!

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng!

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng!

Trọng triều người nào ngất ngưởng như ông!

Phân tích Bài ca ngất ngưởng học trò giỏi – Bài mẫu 3

           Nguyễn Công Trứ, cái tên thật sự thân thuộc và thân thiện nhưng mà từ xưa tới nay vẫn được bao người dân Việt Nam nhắc tới như một sự hàm ơn trân trọng về công lao khai phá ra hai vùng đất trù phú: Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình). Song ko vì thế nhưng mà ta có thể quên đi một Nguyễn Công Trứ, nghệ sĩ tài hoa, một tư cách đã khẳng định được cái bản ngã của chính mình, để từ đó định hình nên một tính cách, một khả năng trong cuộc sống và thông minh nghệ thuật. Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Cõng Trứ sẽ cho ta thấy rõ cái khả năng riêng ko thể trộn lẫn đó của ông.

           Theo Tự điển Tiếng Việt, ngất ngưởng được hiểu là ở thế ko vững lắc lư, nghiêng ngả như chực ngã. Tuy nhiên hai chữ ngất ngưởng trong bài thơ này của Nguyễn Công Trứ cần được hiểu theo một cách khác, ở đây ngất ngưởng cần hiểu gắn với một cách sống, một thái độ sống. Có tương tự ta mới có thể hiểu được về con người Nguyễn Công Trứ – một con người có lối sống khác người, bất chấp mọi thế lực ở đời, một lối sống được khắng định bằng chính tài năng và bản ngã.

           Toàn thể bài thơ ko chỉ là sự giải nghĩa lí giải về cái sự ngất ngưởng của chính mình, nhưng mà nó còn được xem như là một lời tự thuật về cuộc đời, là niềm tự hào về tài năng, công danh, đồng thời cho ta thấy một phong cách lối sống tài tử phóng khoáng của Nguyễn Công Trứ.

           Mở đầu bài thơ là lời khẳng định về quan niệm sống của một đấng làm trai:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự.

(Mọi việc trong vũ trụ chẳng có việc nào ko là phận sự của ta).

Câu thơ vang lên cứng ngắc, khẳng định một cách mạnh mẽ và tự hào về quan niệm làm trai của Nguyễn Công Trứ. Đây là một quan niệm cho thấy Nguyễn Công Trứ xoành xoạch ý thức được về bản thân mình, đồng thời luôn xác định được vị trí của mình trong cuộc đời. Điều này có được từ một kẻ sĩ có tài năng. Tuyên ngôn này của Nguyễn Công Trứ đã được khẳng định như một chân lí và trở đi trở lại như một mệnh đề thân thuộc trong thơ ông.

Vũ trụ giai ngô phận sự

(Những việc trong vũ trụ đều thuộc phận sự của ta – Nợ tang bồng).

           Hay trong bài Gánh trung hiếu, Nguyễn Công trứ cũng đã khẳng định:

Vũ trụ chức vụ nộ

(Việc trong vũ trụ là chức vụ của ta)

           Nói như vặy để ta khẳng định rằng Nguvền Công Trứ xoành xoạch xác định cho mình một quan niệm sống tích cực, đồng thời càng cho thấy rõ sự tự ý thức về bản thân của chính tác giả.

           Chính vì xoành xoạch có ý thức về vị trí của chính mình trong trời đất nhưng mà Nguyễn Công Trứ ko ngại ngùng khẳng định tài năng về chí làm trai, tác giả tuần tự chứng minh cho người đọc thấy được tài năng và bản ngã của chính mình:

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

Lúc thủ khoa, lúc Tham tán, lúc Tổng đốc Đông

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

           Nguyễn Công Trứ đã tự xưng danh, đồng thời khẳng định tài bộ (tài năng lớn, nhiều mặt) của mình. Và trên thực tiễn với những thực danh: Thủ khoa, tham tán, Tổng đốc Đông đã chứng minh cho tài năng lớn của Nguyễn Công Trứ. Câu thơ được ngắt nhịp ngắn đều, chậm rãi cùng với việc sử dụng điệp từ lúc tạo nên một lối nói khẳng định đầy sự tự hào.

           Tuy nhiên hiện lên trong bài thơ ko chỉ là một Nguyễn Công Trứ tài năng, nhưng mà còn là một Nguyễn Công Trứ có tài kinh bang tế thế:

Lúc bình Tây, cờ đại tướng,

Có lúc về Phủ doãn Thừa Thiên.

           Tương tự tới đây chúng ta có đầy đủ cơ sở để khẳng định một con người có tài năng thực sự và xoành xoạch ý thức được về tài năng của chính bản thân mình. Đây cũng chính là sự khẳng định bản ngã của Nguyễn Công Trứ, là một phần trong phẩm chất nhưng mà ông tự hào gọi là tay ngất ngưởng. Để từ đó ta có thể hiểu ngất ngưởng theo một nghĩa tích cực, trong đó có sự khẳng định bản ngã của chính mình.

           Một Nguyễn Công Trứ có tài, có thực danh tương tự, đó nhưng mà lúc trờ về đời thường lại là một tay ngạo nghễ giễu đời:

Đô môn giải tổ chi niên

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.

Cho nên ông ko ngại ngùng bộc bạch một cách sống thật khác người, khác đời:

Kìa núi nọ phau phau mây trắng

Tay kiếm cung nhưng mà nên dạng từ bi

Gót tiên theo đủng đinh một vài dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.

           Là một nhà nho, từng là một danh tướng, từng xông pha trận mạc đó vậy nhưng mà lại sống cuộc sống bình dị nên dạng từ bi. Tuy nhiên cái lối sống đó của Nguyễn Công Trứ lại chẳng tầm thường một tẹo nào: đi vãng cảnh chùa nhưng mà: gót tiên theo lững thững một vài dì phải chăng ông đang bất chấp cuộc sống, đang giễu cợt sự đời, có nhẽ hiểu biết tương tự còn phiến diện. Bởi sinh tiền Nguyễn Công Trứ là một người biết chơi theo quan niệm sống hết mình và chơi cũng hết mình. Trong trần hoàn mấy mặt làng chơi… Biết mùi chơi chưa dễ mấy người hay ông từng tuyên bố Nếu ko chơi thiệt đó người nào bù… Vậy cũng có thể hiểu đây là một lối sống phóng túng, ko chịu gò bó. Câu thơ được Nguyễn Công Trứ mô tả bằng nụ cười hóm hỉnh, nhiều tự hào của tác giả, phải chăng là cười cho sự khen chê cùa người đời, có nhẽ là cả hai điều đó, bởi một điều thật đơn giản.

Được mất dương dương người thái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong

           Với Nguyễn Công Trứ một lúc đã thoát khỏi vòng lợi danh thì những chuyện được mất, khen chê ở đời xin bỏ ngoài tai, như ngọn gió đông thổi qua nhưng mà thôi. Điều này chỉ có được lúc người ta có khả năng tự tin về tài năng của mình. Đó cũng chính là cái ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ trong đó chứa đựng hạt nhân của phong cách sống phóng túng, hiếm thấy của ông. Chính vì vậy nhưng mà ông có được cuộc sống thanh cao vui vẻ:

Lúc ca, lúc tửu, lúc cắc, lúc tùng

Ko Phật, ko Tiên, ko vướng tục.

           Câu thơ được ngắt nhịp hai, liên kết với lối diễn tả trùng điệp tạo cho câu thơ chậm rãi, qua đó lột tả được phong thái ung dung yêu đời, thanh cao của nhà nho Nguyễn Công Trứ.

           Thái độ sống tương tự của ông có được từ con người luôn tự tin vào bản thân mình, luôn ý thức được bản ngã của chính mình.

           Sự phô bày bản ngã được bộc lộ rõ nét một cách tột cùng ở khổ thơ cuối:

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo xơ chung

Trong triều người nào ngất ngưởng như ông!

           Nguyễn Công Trứ đã tự khẳng định mình là con người trung thần, làm tròn đạo vua tôi, điều này góp phần khẳng định thêm quan niệm về chí làm trai của tác giả ở đầu bài thơ. Bằng lối so sánh với những bậc người hùng như Nhạc Phi, Hàn Kì, Phú Bật… của đời Hán, Tống bên Trung Quốc. Tác giả đã khẳng định tài năng và công lao của mình một cách đĩnh đạc hào hùng. Cùng có thể xem đó là những lời nói đầy tự hào về bản thân của chính tác giả. Để từ đó Nguyễn Công Trứ ngạo nghễ tuyên bố:

Trong triều người nào ngất ngưởng như ông!

           Tương tự tới đây hẳn chúng ta đã hiểu cái ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ. Đó chẳng phải là cái gì khác nhưng mà chính là thái độ, cách sống của một nhà nho tài tử. Nguyễn Công Trứ có được điều đó xuất phát từ tài năng, thực danh, từ sự làm tròn phận sự. Vậy cái ngất ngưởng của ông ko phải tiêu cực nhưng mà sự khẳng định bản ngã của mình, là khả năng dám sống ở đời, và một phong cách sống tài hoa tài tử.

           Cùng với những bài thơ khác như Đi thi tự vịnh, Chí làm trai, Nợ tang bồng, Gánh trung hiếu… Bài thơ Bài ca ngất ngưởng đã một lần nữa vẽ rõ nét chân dung của thi sĩ. Đây chính là phong cách sống, phong cách nghệ thuật của con người và của thơ Nguyễn Công Trứ.

Phân tích Bài ca ngất ngưởng học trò giỏi – Bài mẫu 4

           Nguyễn Công Trứ (1778 – 1859) là một ông quan lớn văn võ toàn tài dưới triều Nguyễn. Nhắc tới ông người ta nhớ tới công lao khai phá đất hoang, lấn biển, lập nên hai xã Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình). Người ta cũng ko quên một thi sĩ với những vần thơ đầy khẩu khí của một bậc chính nhân quân tử về chí nam nhi phụng sự tổ quốc, về cái tôi ngất ngưởng của một con người hiểu rõ về mình, về xã hội nhưng mà mình đang sống. Nếu như Chí người hùng tràn đầy khí phách của người tuổi xanh, thì Bài ca ngất ngưởng, được viết lúc ông đã thành danh, là bài thơ tổng kết về cuộc đời và khẳng định cái tôi (bản ngã) của cụ Thượng Trứ.

           Để làm rõ được cái tôi ngất ngưởng của mình, thi sĩ đã chọn thể hát nói bằng chữ Nôm – một thể thơ tài tử của dân tộc tương đối tự do, viết ra ko phải để đọc nhưng mà để ngâm nga, hát xướng. Người trình bày có thể theo đà xúc cảm nhưng mà luyến láy cho thích hợp. Bài thơ vì vậy nhưng mà đầy âm sắc, nhạc điệu.

           Nếu tính cả nhan đề, bài thơ có tới năm lần dùng từ “ngất ngưởng”, được đặt ở cuối mỗi đoạn như nốt nhấn của bài ca. Đây là cái dáng vẻ của một ý thức ngạo nghễ, tự coi mình, hơn người, trên người đời. Đây cũng là tư thế chung của toàn bài.

           Mở bài ta bắt gặp sự khác đời trong cách tự giới thiệu về mình:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự.

           Câu thơ chữ Hán tạm dịch là: Phàm những việc trong trời đất này ko có việc gì ko phải là phận sự của ta – Tiếp theo tác giả dùng một loạt từ Hán – Việt cùng thủ pháp liệt kê, kể cụ thể những chức tước danh phận của mình: Lúc Thủ khoa, lúc Tham tán, lúc Tổng đốc Đông…/ Lúc bình Tây, cờ đại tướng/ Có lúc về Phủ doãn Thừa Thiên… Nhịp thơ trầm bổng nhấn nhá của lối ca trù nghe thật êm đềm nhẹ nhõm như mặt sông mùa xuân. Một sự khẳng định tài năng kiệt xuất của mình thật khéo nhưng mà cũng thật kiêu ngạo khác đời. Nguyễn Công Trứ dám nói thẳng ko hề tránh né. Ngay cả cách đưa tên hiệu “ông Hi Văn” vào bài cũng chẳng giống người nào. Hi Văn – chữ Hán có tức là nhà văn hiếm. Tự gọi mình một cách trang trọng là ông và nhận mình tương tự thì chỉ có ông. Nguvễn Công Trứ đã phá vỡ tính phi ngã của thi pháp trung đại, ko chịu ép mình vào cái ta chung của số đông, xã hội. (Ở câu cuối ta thấy ông còn tự tách mình ra, đối lập mình với cả từng lớp phong kiến). Tất nhiên ông có cái thế của một bậc đại nhân quân tử để viết tương tự. Nhưng nói được như ông ở thơ văn trung đại ko nhiều. Nếu có chăng, trước đó có Nguyễn Trãi với một tình yêu lãng mạn ở Cây chuối, Phạm Thái đớn đau xót xa tới vô vọng trước cái chết của người yêu trong Văn tế Trương Quỳnh Như. Gần nhất có cách xưng danh khắng định mình của Hồ Xuân Hương (Này của Xuân Hương mới quệt rồi – Mời trầu), hay Nguyễn Du (Người đời người nào người khóc Tố Như – Độc Tiểu Thanh kí). Các nhà văn đó vẫn còn nhún nhường, khép nép hoặc còn xa xôi, chung chung.

           Cái ngất ngưởng còn ở lối sống, cách sống khác đời. Nguyễn Công Trứ là người biết sống. Lúc trẻ trai, hoạt động tích cực hết mình theo quan niệm nhập thế hành đạo tích cực của nho gia, Trở về già thì sống nhàn hạ hưởng lạc. Một trong những thú vui của ông là nghe hát đào nương (còn gọi là ca trù). Người ta lên xe xuống ngựa xênh xang thì cụ Thượng Trứ ngao du sơn thủy, thưởng lãm chùa chiền cùng các cô đầu bằng xe bò. Nhưng mà là bò cái vàng với cái mo cau che sau đuôi. Cụ giảng giải: Để che mồm thế gian:

Điển viên dạo chiếc xe bò cái

Sẵn chiếc mo che mồm thế gian

           Sự ngông ngạo này chính ông đã nhận xét: Bụt cũng nực cười… Nguyễn Công Trứ đã vượt ra khỏi lẽ sống được tầm thường ở đời:

Được mất dương dương người tái thượng

Khen che phơi phới ngọn đông phong

Lúc cơ, lúc tửu, lúc cắc lúc tùng

Ko phật, ko tiên, ko vướng tục

           Như trên đã nói, Nguyễn Công Trứ tự tách mình ra khỏi cái trật tự xã hội nhố nhăng, ô uế, dơ dáy, nhiều kẻ vỗ ngực là quân tử nhưng thực chất chỉ là hạng cây vông: Tuổi tác càng già càng xốp xáp/ Ruột gan ko có, có gai chông (Vịnh cây vông).

           Ngông ngạo nhưng ở hai bài này Nguyễn Công Trứ ko rơi vào tình thế bi quan tuyệt vọng hay phá phách bất cần đời như một số nhà văn lãng mạn sau này. Mục tiêu sống của ông rất rõ ràng: Phò vua giúp nước:

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

Hay như có lần đối lại ý của một nhà sư ông hóm hỉnh nêu:

Hay tám vạn nghìn tư mặc kệ

Ko quân thần phụ tử đếch nên người.

           Nói khác đi, sự ngất ngưởng của ông ta là để nhằm lật tung cái trật tự xã hội phong kiến đương thời tưởng như yên ả bằng vận nhưng thực chất thối nát, mục ruỗng tới cùng cực. Ông ko muốn mình bị “đồng hóa” cùng hội cùng thuyền với lũ thăm quan vô lại.

           Vì vậy tiếng cười tự trào của Nguyễn Khuyến có ngạo nghễ nhưng ko ngoa ngôn, lộng ngữ, vừa cụ thể lại vừa có tính biểu tượng, vừa có chút trào phúng lại vừa mang tính triết lý, trình bày quan niệm sống của thi sĩ.

           Thơ văn Nguyễn Công Trứ vốn phóng khoáng ngang tàng như thực chất con người ông. Bài ca ngất ngưởng là một trong những bài thơ hay được nhiều người nhắc tới với sự tán thưởng thích thú. Một phần bởi bài thơ giàu tính nhạc, nhưng phần lớn bởi khả năng vững vàng cứng cỏi của con người tài năng xuất chúng này. Nguyễn Công Trứ đã thổi một luồng sinh khí mới lạ cho văn học tiên tiến, đưa yếu tố tư nhân, cái tôi cần được thổ lộ vào trực tiếp trong văn học. Đó cũng là một trong những bước đệm quan trọng để văn học Việt Nam thời đoạn đầu thế kỷ XX có những bước chuyến mình vượt trội, bước qua cái ta, giải phóng yếu tố tư nhân, cho văn học Việt Nam tiến kịp nền thơ ca nói riêng và văn học nghệ thuật hiện đại toàn cầu nói chung.

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

[rule_{ruleNumber}]

Source: giainhat.vn
Categories: Giáo dục

Viết một bình luận