Phân tích 4 câu đầu Việt Bắc (hay nhất)

Để tìm hiểu sâu hơn về trị giá tác phẩm Việt Bắc, mời các em tham khảo một số bài văn mẫu Phân tích 4 câu đầu Việt Bắc sau đây. Hi vọng với các bài văn mẫu rực rỡ này các em sẽ có thêm tài liệu, cách triển khai để hoàn thiện bài viết một cách tốt nhất!

Phân tích 4 câu đầu Việt Bắc – Bài mẫu 1

      Tố Hữu là thi sĩ trữ tình chính trị, tiêu biểu cho thơ ca cách mệnh Việt Nam. Thơ Tố Hữu trình bày lẽ sống lớn, tình cảm lớn của con người Cách mệnh. Thơ ông đặm đà tính dân tộc trong nội dung và hình thức trình bày. Bài thơ “Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp. “Việt Bắc” là một trong những bài thơ được xếp vào hạng những bài thơ “tống biệt” của Tố Hữu. Mặc dù là đề tài cũ, nhưng bài thơ vẫn mới mẻ bởi “Việt Bắc” ra đời trong cuộc chia tay đặc thù giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ kháng chiến vào tháng 10/1954. Ra đời trong hoàn cảnh đó, bài thơ ko mang cảnh trạng của một cuộc chia ly với nỗi buồn đầy nước mắt, nhưng là nỗi niềm chia ly trong tình cảm giữa cán bộ và nhân dân sâu đậm ân tình. Đoạn thơ mở đầu của bài thơ là sự trình bày tinh tế và thâm thúy những rung động trong trái tim của người đi và người ở trong giờ phút phân li.

      Bốn câu thơ đầu là lời của người ở lại nói với người ra đi:

– Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm đó thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ ko


Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn ?

      Tác giả mở đầu bằng một câu hỏi mang âm hưởng ca dao, tình yêu: “Mình về mình có nhớ ta”. “Mình về” là hoàn cảnh để người ở lại bộc lộ nỗi niềm. “Về” gợi tới sự chia li, đó là sự chia li của người ra đi và người ở lại. Về mặt kết cấu câu thơ thì “mình” đứng ở đầu câu, còn “ta” đứng ở cuối câu thơ. Nó gợi lên cái khoảng cách giữa “ta” và “mình”. Nỗi niềm gợi lên qua câu hỏi đó của người ở lại là nỗi nhớ, tình cảm của người ở lại hướng tới người ra đi. Đứng giữa câu thơ là một từ “nhớ”, nó làm cho “mình” và “ta” dường như được xích lại gần nhau hơn. Cơ sở tạo nên nỗi nhớ đó là: “Mười lăm năm đó thiết tha mặn nồng”. Câu thơ phảng phất âm hưởng của thơ Kiều, nhưng từ âm hưởng đó lại vang lên nỗi niềm tình cảm của những con người trong một thời kháng chiến. “Mười lăm năm đó” gợi tới một quãng thời gian lao khăn, một thời đau thương, mất mát. Tuy vậy, dường như tất cả mất mát đau thương đó chìm đi, đọng lại trong câu thơ chỉ còn là tình cảm “thiết tha mặn nồng”. Đó chính là sự gắn bó thân thiết, tình cảm chia bùi sẻ ngọt trong “mười lăm năm đó” giữa “ta” và “mình”. Bởi vậy, hỏi nhưng cũng chính là để bộc lộ tình cảm và hỏi chính là trình bày mong muốn người ra đi cũng có tình cảm như chính mình.

      Tới câu thơ thứ ba cũng là một câu hỏi. Câu hỏi: “Mình về mình có nhớ ko” cũng có sự lặp lại tương tự câu thơ đầu. Tuy vậy, nhân vật hỏi ko chỉ còn bó hẹp trong mối quan hệ giữa “ta – mình” và nỗi nhớ dường như ko còn chỉ hướng tới “ta”, nhưng nỗi nhớ đó đã hướng vào nhân vật rộng lớn hơn rất nhiều, đó chính là ko gian “núi rừng” và “sông nguồn”. Câu hỏi gợi về ko gian có “núi”, có “nguồn” ở núi rừng Việt Bắc. Đây chính là ko gian thân thuộc gắn với người ở lại và cũng gắn bó với cả người ra đi. Ko gian đó với người ra đi và người ở lại ko còn là ko gian vô hồn, vô cảm nhưng là ko gian chứa đầy kỉ niệm, nó góp phần tạo nên tình cảm cho người ra đi.

      Ở trong câu thơ xuất hiện nhiều lần hai động từ chỉ hành động “nhìn” và “nhớ”. Một hành động tác động vào thị giác, một hành động tác động vào tâm tưởng; một hành động hướng tới ngày nay, một hành động hướng về quá khứ. Sự đan xen giữa các hành động đó nhưng người ở lại đưa ra là để muốn nhắc nhở người ra đi sống ở ngày nay đừng quên về quá khứ, sống ở miền xuôi đừng quên miền ngược, đừng quên về những kỉ niệm của một thời đã qua. Đó chính là mong muốn của người ở lại nhắn nhủ tới người ra đi. Trước lúc mong muốn người ra đi để nhớ thì người ở lại đã trình bày nỗi nhớ của mình. Nỗi nhớ đó biểu đạt trực tiếp qua động từ “nhớ” xuất hiện nhiều lần ở khổ thơ, càng về cuối thì từ “nhớ” xuất hiện càng nhiều đã trình bày cường độ nhớ ngày một tăng và nó đã tạo nên âm hưởng chủ đạo cho bài thơ. Đó là âm hưởng thương nhớ, ân tình tha thiết.

      Bốn câu thơ đầu chỉ với hai câu hỏi, nhưng chủ yếu là để thổ lộ tình cảm và để mong muốn người ra đi cũng có tình cảm như chính mình, bởi giữa hai nhân vật đó có sự gắn bó mật thiết trong một thời kháng chiến và một vùng kháng chiến.

Phân tích 4 câu đầu Việt Bắc – Bài mẫu 2

      Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mệnh Việt Nam. Thơ ông mang thiên hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, đậm chất trữ tình. Trong sự nghiệp sáng tác của mình ông đã để lại nhiều tác phẩm có trị giá như tập thơ “Từ đó”, “Máu và hoa”… trong đó tiêu biểu nhất là bài thơ “Việt Bắc” trích trong tập thơ “Việt Bắc”. Bài thơ đã trình bày một cách thành công về nỗi nhớ nhung, tâm trạng bổi hổi, lưu luyến trong buổi chia tay của người Việt Bắc với cán bộ cách mệnh. Điều đó được trình bày rõ nhất trong đoạn thơ:

“Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm đó thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ ko

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

Tiếng người nào tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, thấp thỏm bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

      Việt Bắc là căn cứ địa cách mệnh, là cái nôi kháng chiến. Sau thắng lợi Điện Biên Phủ tháng 7 năm 1954, hiệp nghị Giơ ne vơ được kí kết. Tháng 10 năm 1954, Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt bắc trở về Hà Nội. Nhân sự kiện lịch sử đó Tố Hữu đã viết bài thơ “Việt Bắc”.

      Câu thơ mở đầu là một câu hỏi tu từ chứa nhiều xúc cảm:

“Mình về mình có nhớ ta”

      “Mình” là chỉ người ra đi – người chiến sĩ cách mệnh, “ta” chính là người Việt Bắc. Câu hỏi chính là lời của người ở lại hỏi người ra đi rằng lúc người chiến sĩ cách mệnh về xuôi rồi còn có nhớ tới người Việt Bắc hay ko? Với cách xưng hô “mình – ta” đậm chất ca dao cùng với điệp từ mình đã cho ta thấy được tình cảm gắn bó thân thiết đầy mến thương, làm cho nỗi nhớ càng trở thành day dứt khôn nguôi. Người Việt Bắc muốn hỏi người kháng chiến có nhớ:

“Mười lăm năm đó thiết tha mặn nồng”

      Mười lăm năm là từ chỉ thời kì, là khoảng thời kì gắn bó keo sơn giữa người chiến sĩ và người Việt Bắc. Đó là một khoảng thời kì dài cùng nhau đấu tranh, cùng nhau vượt qua biết bao khó khăn. Từ “đó” vang lên chứ tác giả ko sử dụng từ “đó” như để làm tăng thêm ý nghĩa của khoảng thời kì “mười lăm năm” đồng thời trình bày sự trân trọng của tác giả với những tháng ngày gắn bó. Những từ “thiết tha”, “mặn nồng” là những từ nhấn mạnh tình cảm gắn bó keo sơn giữa người Việt Bắc và người cách mệnh. Qua đó tác giả muốn nhấn mạnh hơn về tình nghĩa thủy chung son sắt luôn hướng tới cách mệnh, hướng tới những người chiến sĩ của người dân Việt Bắc.

      Câu thơ tiếp theo như một lời nhắc nhở đối với người chiến sĩ cách mệnh:

“Mình về mình có nhớ ko”

      Vẫn là câu hỏi tu từ, vẫn là cách xưng hô “mình” nhưng đây là câu hỏi vang lên như một lời nhắc nhở “có nhớ ko”. Người Việt Bắc muốn nhắc nhở người chiến sĩ cách mệnh về xuôi hãy nhớ tới Việt Bắc, hãy:

“Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”

      Lúc về tới Hà Nội, người cách mệnh lúc nhìn thấy cây ở Hà Nội phồn hoa thì hãy nhớ tới núi rừng nơi Việt Bắc. Hãy nhớ nơi gắn bó thủy chung, son sắc, nơi người cách mệnh và người Việt Bắc đã cùng đấu tranh, cùng nhau vượt qua bao khó khăn. Lúc nhìn thấy sông thì hãy nhớ tới nguồn, hãy nhớ tới núi sông Việt Bắc, nhớ tới những dòng sông cùng các chiến sĩ cách mệnh đấu tranh. Hay đó chính là lời nhắc nhở của người Việt Bắc đối với người chiến sĩ cách mệnh lúc trở về xuôi nhìn thấy cảnh vật nơi phồn hoa đô thị tươi đẹp đó thì hãy nhớ tới con người Việt Bắc, nhớ tới những tháng ngày đấu tranh khó khăn nơi núi rừng đầy hiểm trở, cheo leo.  Điệp từ “nhìn” và “nhớ” dường như đã nhấn mạnh ý hỏi của người ở lại. Mong muốn những người cách mệnh luôn nhớ về nơi Việt Bắc. Nơi có những con người sắt son, thủy chung, luôn mong nhớ về người cách mệnh.

      Bốn câu thơ trước hết là lời của người Việt Bắc hỏi người cán bộ về xuôi. Với lối đối đáp cách xưng hô “mình – ta”, điệp từ cùng với từ láy, đặc thù là liên kết với câu hỏi tu từ đã cho thấy được tình cảm gắn bó thiết tha, mặn nồng, thủy chung son sắt của người Việt Bắc. Qua đó ta có thể cảm thu được phẩm chất tốt đẹp của con người nơi đây. Dù phải sống trong khó khăn, đồi núi hiểm trở, thiếu thốn nhưng tình yêu của họ đối với người chiến sĩ là ko hề thay đổi, xoành xoạch cồn cào, da diết và mãnh liệt.

Ngoài ra, các em cùng giainhat.vn tham khảo thêm bài phân tích khổ 1 tác phẩm Việt Bắc nhé!

Phân tích tính dân tộc trong khổ 1 bài Việt Bắc

      Tố Hữu là thi sĩ trữ tình chính trị, là lá cờ đầu của thơ ca cách mệnh Việt Nam. Thơ ông chất phác, mộc mạc giàu chất trữ tình. Trong sự nghiệp sáng tác của mình ông đã để lại nhiều tác phẩm có trị giá tiêu biểu là bài thơ “Việt Bắc”. Nổi trội lên trong bài thơ là tám câu thơ đầu với lời của kẻ ở, người đi đầy lưu luyến xúc động

Mình về mình có nhớ ta?

Mười lăm năm đó thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ ko?

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

Tiếng người nào tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, thấp thỏm bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

      Việt Bắc là tác phẩm rực rỡ của Tố Hữu được sáng tác vào năm 1954 sau lúc hiệp nghị Giơ-ne-vơ được ký kết, chính phủ và chính quyền trung ương cách mệnh chuyển từ căn cứ Việt Bắc về Hà Nội. Nhân sự kiện đó Tố Hữu sáng tác bài Việt Bắc.

      Nỗi nhớ da diết của những người yêu nhau như thế nào thì nỗi nhớ của con người Việt Bắc với những người cách mệnh cũng tương tự:

Mình về mình có nhớ ta?

Mười lăm năm đó thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ ko?

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

      Mở đầu đoạn trích là cách xưng hô “mình” – “ta” đầy thân yêu thân thiện, “mình”-là người cách mệnh còn “ta” chính là người Việt Bắc. Người dân Việt Bắc hỏi rằng: “Mình về mình có nhớ ta” đọc câu thơ ta thấy ở trong đó có đầy tình cảm lưu luyến, nuối tiếc như một cặp tình nhân lúc phải xa nhau, cảm giác khổ đau, ko nỡ, nhưng tình yêu thì được tạo nên trong quãng thời kì rất ngắn còn tình người giữa Việt Bắc và cách mệnh lại là quãng thời kì “mười lăm năm”. “Mười lăm năm” – đó là một quãng thời kì ko hề ngắn , đặc thù trong mười lăm năm đó tình cảm nào có phai nhạt nhưng còn “thiết tha mặn nồng”.

      Nếu như hai câu đầu là tình cảm giữa người với người thì tới với hai câu sau chính là tình cảm giữa con người với tự nhiên:

Mình về mình có nhớ ko?

Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn.

      Người dân Việt Bắc ko biết rằng lúc về miền xuôi những người cán bộ cách mệnh có còn nhớ Việt Bắc nữa hay ko. “Mình về mình có nhớ ko” đọc câu thơ lên với giọng thơ nhẹ nhõm ta thấy rưng rưng nước mắt. Núi rừng Việt Bắc, núi sông Việt Bắc đẹp lắm, hùng vĩ lắm nhưng ở miền xuôi lại tấp nập đông đúc. Người dân Việt Bắc sợ, họ sợ những người cách mệnh quên mất Việt Bắc, quên mất những tháng ngày hái quả rừng, ăn rau rừng trên núi, quên mất dòng sông vẫn hàng ngày bắt cá. Trong suy nghĩ của họ, họ rất sợ. Từ “nhớ” trong câu thơ được lặp lại như muốn tô đậm thêm nỗi nhớ nhung da diết, ko nỡ rời xa, ko nỡ chia ly. Chỉ với bốn dòng thơ đầu Tố Hữu đã tái tạo lại quang cảnh của buổi chia ly thật xúc động, nghẹn ngào và đầy nước mắt.

      Trong quang cảnh núi rừng hùng vĩ, cái se lạnh của Việt Bắc những người cách mệnh chia tay Việt Bắc

Tiếng người nào tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, thấp thỏm bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

      Người cách mệnh rời xa Việt Bắc nhưng vẫn nhớ về tiếng nói tha thiết của người dân Việt Bắc lúc chia tay: “Tiếng người nào tha thiết bên cồn”. Người cách mệnh về xuôi sẽ còn nhớ lắm giọng nói của người dân Việt Bắc. Vì nhớ nên “Bâng khuâng trong dạ thấp thỏm bước đi” câu thơ lúc đọc lên ta thấy xúc cảm như dâng trào. “bâng khuâng” là từ láy chỉ trạng thái của con người nhưng cụ thể ở đây là người cách mệnh về xuôi, họ ra đi nhưng trong lòng cảm thấy lưu luyến ko nỡ rời xa. Xúc cảm nghẹn ngào ko nói nên lời tới cả bước đi cũng như nặng hơn. Người ko muốn đi nhưng chân cũng ko muốn bước, bước chân trở thành “thấp thỏm” như cũng muốn quay trở lại Việt Bắc, quay lại quê hương cái nôi của cách mệnh, nơi có những con người yêu nghĩa, thủy chung luôn chờ đón họ. Họ ko nỡ rời xa nhau nhưng trong phút chốc nghẹn ngào cuối cùng được ở gần nhau thì họ lại ko thể thốt nên lời:

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

      Màu áo “chàm” – màu áo đặc trưng của cách mệnh cũng góp chung vào nỗi nhớ của kẻ ở người đi, họ nhớ nhau nhớ cả màu áo của nhau. Họ cầm tay nhau tình cảm thắm thiết nhưng ko thể thốt nên lời. Tâm trạng trong câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” cũng làm cho xúc cảm của người đọc và theo xúc cảm của con người trong thơ: thấp thỏm, ko yên, day dứt, khó diễn tả. Họ chia tay chỉ muốn òa khóc, xúc động ko nói nên lời. họ ko còn gì để nói với nhau hay họ có quá nhiều xúc cảm muốn nói nhưng ko thể nói hết trong một khoảnh khắc ngắn ngủi này. Chỉ vẻn vẹn có bốn câu thơ với hai mươi tám chữ Tố Hữu đã cho người đọc hòa mình vào cuộc chia tay, cũng là lời của người ra đi nói với người ở lại đã làm cho người đọc xúc động nghẹn ngào

      Đoạn trích trên trong bài thơ “Việt Bắc” ko chỉ thành công ở nội dung nhưng còn thành công ở nghệ thuật với thể thơ lục bát, lối đối đáp, cách xưng hô mình ta, tiếng nói giàu sức gợi. đoạn trích tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu đặm đà tính dân tộc.

      Tóm lại, tám câu thơ trên trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu đã để lại trong lòng người đọc những xúc cảm khó phai mờ về tình cảm giữa người Việt Bắc và cách mệnh. Bài thơ nói chung và đoạn thơ nói riêng sẽ luôn sống mãi trong lòng chúng ta, trong trái tim người đọc Việt Nam.

Phân tích 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc

      Nhắc tới Tố Hữu, người ta sẽ nhớ ngay tới hình ảnh của một thi sĩ luôn tiên phong trong phong trào nghệ thuật vì nền cách mệnh nước nhà. Tuyến đường thơ ca của Tố Hữu luôn gắn liền với những hình ảnh, sự kiện nổi trội của dân tộc. Bằng giọng thơ giàu tình cảm, văn pháp tài tình liên kết giữa chính trị và nghệ thuật biểu thị, ông đã sáng tác bài thơ Việt Bắc được xem là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Đặc thù, chỉ qua khổ thơ thứ nhất, ông đã mang tới cho người đọc tới với vùng đất Việt Bắc đầy nắng gió, khó khăn những thấm đẫm tình nghĩa.

     Việt Bắc được sáng tác vào tháng 10/1954, đây là thời đoạn chuyển giao lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi, các cán bộ chiến sỹ rời chiến khu Việt Bắc quay trở lại thủ đô Hà Nội. Trận chiến tranh kết thúc với bao thú vui hoan hỉ vì nền độc lập hòa bình, thế nhưng đồng nghĩa với việc chia ly giữa cán bộ và đồng bào Việt Bắc. Nơi đó, nhân dân cán bộ đã trải qua cùng nhau bao khó khăn, kỉ niệm, san sẻ ngọt bùi cùng nhau. Bài thơ Việt Bắc ra đời để trình bày biết bao tâm tình của người đi kẻ ở.

      Mở đầu đoạn trích, tác giả đã thay lời muốn nói của những người ở lại để trình bày cho hết cung bậc thương nhớ, tình cảm:

“Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm đó thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ ko

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

      Mình – ta thường được dùng để trình bày mối quan hệ thân thiện như vợ chồng, lứa đôi. Thế nhưng tác giả đã dùng cặp từ đó cho đồng bài Việt Bắc với những người lính cán bộ. Chẳng phải vợ chồng nhưng tình nghĩa đôi bên cũng keo sơn, bền chặt tựa tương tự. Những câu hỏi dồn dập, nào là có nhớ ta, nhớ cây nhớ núi nhớ sông nhớ nguồn ko. Điệp từ “nhớ” được nhắc lại nhiều lần trong câu hỏi tu từ càng xoáy sâu vào trong lòng người đọc. “Mười lăm năm” là cụ thể thực chỉ độ dài từ những năm 1940 cho tới thời kì đó, hơn một thập kỷ chúng ta đã cùng nhau ăn, cùng nhau cười, cùng nhau đấu tranh. So với những cuộc kháng chiến khác, mười lăm năm đó chẳng phải là dài. Thế nhưng cái quan trọng ở đây, khoảng thời kì đó đã tích tụ, bồi đắp biết bao tình cảm, có thể đong đầy bằng cả đời người. Câu hỏi chất chứa tình cảm lưu luyến, bao lời dặn dò của người ở lại cho người ra đi. Trở về với phố hội phồn hoa, mong người đừng quên “cây núi sông nguồn chốn đây”. Những cảnh vật tuy vô tri vô giác, thế nhưng đã cùng “mình” với “ta” trong suốt bao năm qua lúc vui kể cả lúc buồn. Cây và sông là biểu tượng của ko gian miền xuôi, với vùng cao đầy núi và nguồn. Sự chia ly có thể bị ngăn trở bởi khoảng cách thế nhưng “ta” vẫn luôn hi vọng “mình” sẽ chẳng bao giờ quên những chốn kỉ niệm đó. Tố Hữu đặc thù sử dụng những từ “thiết tha”, “mặn nồng” càng làm tăng trị giá của những thứ tình cảm đó. Phải thật trân trọng, đáng quý xiết bao mới khiến con người ta ko khỏi nuối tiếc nếu phải đánh mất đi.

      Nếu như đối với người ở lại, những tình cảm đó chất chứa trong hàng nghìn lời nói thì người ra đi chỉ biết dùng hành động để trình bày nỗi lòng. Tình cảm đó, họ đã quá hiểu nhân dân Việt Bắc. Vì sự nghiệp quốc gia vẫn đang đợi chờ các anh nên buộc lòng các anh phải ra đi, tuy chẳng nỡ nhưng cũng đành xa cách:

“Tiếng người nào tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, thấp thỏm bước đi”

      Những cặp từ láy “bâng khuâng”, “thấp thỏm” diễn tả trạng thái tâm lý thương nhớ, luyến tiếc khiến lòng không thể yên. Như Tú Xương đã viết:

“Nhớ người nào người nào nhớ hiện thời nhớ người nào”…

      Tiếng “người nào” đó lại chất chứa biết bao mến thương, không thể chỉ cụ thể một người, bởi tình cảm đó là dành cho cả một đồng bào Việt Bắc. Tố Hữu đã khai thác tiếng “người nào” đó một cách xuất sắc, lúc để lại âm vang trong lòng người về. Nó làm cho tâm trạng con người càng trở thành nôn nao, những dòng xúc cảm cứ ào về ko thôi. Nhưng những tâm trạng thương nhớ đó chỉ biết kìm nén chặt trong lòng, không thể nào dùng lời lẽ bộc bạch, hay thét lên cho nguôi ngoai những nỗi buồn.

      Tâm trạng bâng khuâng thấp thỏm đó còn được trình bày hết sức tinh tế qua nhịp độ hai câu tiếp theo:

“Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

      Cặp thơ lục bát được tác giả góp thêm một tẹo nhịp độ, như một đảo phách trong âm nhạc. Màu “áo chàm” đặc trưng của những con người chất phác miền núi Tây Bắc. Hình ảnh thấy thật đơn sơ, mộc mạc của chốn quê nghèo, nghèo vật chất những luôn giàu tình cảm. Tấm áo đó đã chất chứa biết bao mồ hôi, khó khăn vất vả, một nắng hai sương để đấu tranh, nuôi dưỡng các anh lính cụ Hồ để các anh an tâm đánh giặc. Chẳng phải áo bào, áo gấm để tiễn đưa, cảm ơn công lao của các anh, chỉ là bóng vía của những con người lao động nhưng sao vẫn làm cho ta ko khỏi cảm kích, hàm ân. Tình cảm quyến luyến đó còn được trình bày qua hình ảnh “cầm tay”. Đôi bàn tay của những con người cầm súng ấm ấp, nâng niu đôi tay của những người lao động. Những đôi tay vất vả, sờn lên vì những trắc trở không giống nhau, nhưng giờ phút đó, đôi ta đều chung một nỗi tâm tình. Hình ảnh giàu tính gợi hình, gợi xúc cảm, chẳng cần phải thổ lộ nhiều vì có quá nhiều điều muốn nói, nhưng lại chẳng biết từ khi đâu. Nỗi lòng đó, xin người để “ta” chôn chặt trong tim nhưng tình cảm sẽ sống mãi trong khoảnh khắc “cầm tay” đó.

      Đoạn thơ mở đầu của bài Việt Bắc đã vẽ nên những cung bậc xúc cảm hết sức nhiều chủng loại, sâu lắng của người đi kẻ ở. Nhịp thơ nhẹ nhõm, du dương để diễn tả một cách trọn vẹn, khôn khéo những tình cảm thật tâm đó đã cho thấy tài năng nổi trội của Tố Hữu trong số những thi sỹ tài hoa của Việt Nam.

—/—

Trên đây là một số bài văn mẫu Phân tích 4 câu đầu Việt Bắc nhưng giainhat.vn đã biên soạn. Kỳ vọng sẽ giúp ích các em trong quá trình làm bài và ôn luyện cùng tác phẩm. Chúc các em có một bài văn thật tốt!

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

Hình Ảnh về: Phân tích 4 câu đầu Việt Bắc

(hay nhất)

Video về: Phân tích 4 câu đầu Việt Bắc

(hay nhất)

Wiki về Phân tích 4 câu đầu Việt Bắc

(hay nhất)

Phân tích 4 câu đầu Việt Bắc

(hay nhất) -

Để tìm hiểu sâu hơn về trị giá tác phẩm Việt Bắc, mời các em tham khảo một số bài văn mẫu Phân tích 4 câu đầu Việt Bắc sau đây. Hi vọng với các bài văn mẫu rực rỡ này các em sẽ có thêm tài liệu, cách triển khai để hoàn thiện bài viết một cách tốt nhất!

Phân tích 4 câu đầu Việt Bắc – Bài mẫu 1

      Tố Hữu là thi sĩ trữ tình chính trị, tiêu biểu cho thơ ca cách mệnh Việt Nam. Thơ Tố Hữu trình bày lẽ sống lớn, tình cảm lớn của con người Cách mệnh. Thơ ông đặm đà tính dân tộc trong nội dung và hình thức trình bày. Bài thơ “Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp. “Việt Bắc” là một trong những bài thơ được xếp vào hạng những bài thơ “tống biệt” của Tố Hữu. Mặc dù là đề tài cũ, nhưng bài thơ vẫn mới mẻ bởi “Việt Bắc” ra đời trong cuộc chia tay đặc thù giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ kháng chiến vào tháng 10/1954. Ra đời trong hoàn cảnh đó, bài thơ ko mang cảnh trạng của một cuộc chia ly với nỗi buồn đầy nước mắt, nhưng là nỗi niềm chia ly trong tình cảm giữa cán bộ và nhân dân sâu đậm ân tình. Đoạn thơ mở đầu của bài thơ là sự trình bày tinh tế và thâm thúy những rung động trong trái tim của người đi và người ở trong giờ phút phân li.

      Bốn câu thơ đầu là lời của người ở lại nói với người ra đi:

– Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm đó thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ ko


Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn ?

      Tác giả mở đầu bằng một câu hỏi mang âm hưởng ca dao, tình yêu: “Mình về mình có nhớ ta”. “Mình về” là hoàn cảnh để người ở lại bộc lộ nỗi niềm. “Về” gợi tới sự chia li, đó là sự chia li của người ra đi và người ở lại. Về mặt kết cấu câu thơ thì “mình” đứng ở đầu câu, còn “ta” đứng ở cuối câu thơ. Nó gợi lên cái khoảng cách giữa “ta” và “mình”. Nỗi niềm gợi lên qua câu hỏi đó của người ở lại là nỗi nhớ, tình cảm của người ở lại hướng tới người ra đi. Đứng giữa câu thơ là một từ “nhớ”, nó làm cho “mình” và “ta” dường như được xích lại gần nhau hơn. Cơ sở tạo nên nỗi nhớ đó là: “Mười lăm năm đó thiết tha mặn nồng”. Câu thơ phảng phất âm hưởng của thơ Kiều, nhưng từ âm hưởng đó lại vang lên nỗi niềm tình cảm của những con người trong một thời kháng chiến. “Mười lăm năm đó” gợi tới một quãng thời gian lao khăn, một thời đau thương, mất mát. Tuy vậy, dường như tất cả mất mát đau thương đó chìm đi, đọng lại trong câu thơ chỉ còn là tình cảm “thiết tha mặn nồng”. Đó chính là sự gắn bó thân thiết, tình cảm chia bùi sẻ ngọt trong “mười lăm năm đó” giữa “ta” và “mình”. Bởi vậy, hỏi nhưng cũng chính là để bộc lộ tình cảm và hỏi chính là trình bày mong muốn người ra đi cũng có tình cảm như chính mình.

      Tới câu thơ thứ ba cũng là một câu hỏi. Câu hỏi: “Mình về mình có nhớ ko” cũng có sự lặp lại tương tự câu thơ đầu. Tuy vậy, nhân vật hỏi ko chỉ còn bó hẹp trong mối quan hệ giữa “ta – mình” và nỗi nhớ dường như ko còn chỉ hướng tới “ta”, nhưng nỗi nhớ đó đã hướng vào nhân vật rộng lớn hơn rất nhiều, đó chính là ko gian “núi rừng” và “sông nguồn”. Câu hỏi gợi về ko gian có “núi”, có “nguồn” ở núi rừng Việt Bắc. Đây chính là ko gian thân thuộc gắn với người ở lại và cũng gắn bó với cả người ra đi. Ko gian đó với người ra đi và người ở lại ko còn là ko gian vô hồn, vô cảm nhưng là ko gian chứa đầy kỉ niệm, nó góp phần tạo nên tình cảm cho người ra đi.

      Ở trong câu thơ xuất hiện nhiều lần hai động từ chỉ hành động “nhìn” và “nhớ”. Một hành động tác động vào thị giác, một hành động tác động vào tâm tưởng; một hành động hướng tới ngày nay, một hành động hướng về quá khứ. Sự đan xen giữa các hành động đó nhưng người ở lại đưa ra là để muốn nhắc nhở người ra đi sống ở ngày nay đừng quên về quá khứ, sống ở miền xuôi đừng quên miền ngược, đừng quên về những kỉ niệm của một thời đã qua. Đó chính là mong muốn của người ở lại nhắn nhủ tới người ra đi. Trước lúc mong muốn người ra đi để nhớ thì người ở lại đã trình bày nỗi nhớ của mình. Nỗi nhớ đó biểu đạt trực tiếp qua động từ “nhớ” xuất hiện nhiều lần ở khổ thơ, càng về cuối thì từ “nhớ” xuất hiện càng nhiều đã trình bày cường độ nhớ ngày một tăng và nó đã tạo nên âm hưởng chủ đạo cho bài thơ. Đó là âm hưởng thương nhớ, ân tình tha thiết.

      Bốn câu thơ đầu chỉ với hai câu hỏi, nhưng chủ yếu là để thổ lộ tình cảm và để mong muốn người ra đi cũng có tình cảm như chính mình, bởi giữa hai nhân vật đó có sự gắn bó mật thiết trong một thời kháng chiến và một vùng kháng chiến.

Phân tích 4 câu đầu Việt Bắc – Bài mẫu 2

      Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mệnh Việt Nam. Thơ ông mang thiên hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, đậm chất trữ tình. Trong sự nghiệp sáng tác của mình ông đã để lại nhiều tác phẩm có trị giá như tập thơ “Từ đó”, “Máu và hoa”… trong đó tiêu biểu nhất là bài thơ “Việt Bắc” trích trong tập thơ “Việt Bắc”. Bài thơ đã trình bày một cách thành công về nỗi nhớ nhung, tâm trạng bổi hổi, lưu luyến trong buổi chia tay của người Việt Bắc với cán bộ cách mệnh. Điều đó được trình bày rõ nhất trong đoạn thơ:

“Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm đó thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ ko

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

Tiếng người nào tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, thấp thỏm bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

      Việt Bắc là căn cứ địa cách mệnh, là cái nôi kháng chiến. Sau thắng lợi Điện Biên Phủ tháng 7 năm 1954, hiệp nghị Giơ ne vơ được kí kết. Tháng 10 năm 1954, Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt bắc trở về Hà Nội. Nhân sự kiện lịch sử đó Tố Hữu đã viết bài thơ “Việt Bắc”.

      Câu thơ mở đầu là một câu hỏi tu từ chứa nhiều xúc cảm:

“Mình về mình có nhớ ta”

      “Mình” là chỉ người ra đi – người chiến sĩ cách mệnh, “ta” chính là người Việt Bắc. Câu hỏi chính là lời của người ở lại hỏi người ra đi rằng lúc người chiến sĩ cách mệnh về xuôi rồi còn có nhớ tới người Việt Bắc hay ko? Với cách xưng hô “mình – ta” đậm chất ca dao cùng với điệp từ mình đã cho ta thấy được tình cảm gắn bó thân thiết đầy mến thương, làm cho nỗi nhớ càng trở thành day dứt khôn nguôi. Người Việt Bắc muốn hỏi người kháng chiến có nhớ:

“Mười lăm năm đó thiết tha mặn nồng”

      Mười lăm năm là từ chỉ thời kì, là khoảng thời kì gắn bó keo sơn giữa người chiến sĩ và người Việt Bắc. Đó là một khoảng thời kì dài cùng nhau đấu tranh, cùng nhau vượt qua biết bao khó khăn. Từ “đó” vang lên chứ tác giả ko sử dụng từ “đó” như để làm tăng thêm ý nghĩa của khoảng thời kì “mười lăm năm” đồng thời trình bày sự trân trọng của tác giả với những tháng ngày gắn bó. Những từ “thiết tha”, “mặn nồng” là những từ nhấn mạnh tình cảm gắn bó keo sơn giữa người Việt Bắc và người cách mệnh. Qua đó tác giả muốn nhấn mạnh hơn về tình nghĩa thủy chung son sắt luôn hướng tới cách mệnh, hướng tới những người chiến sĩ của người dân Việt Bắc.

      Câu thơ tiếp theo như một lời nhắc nhở đối với người chiến sĩ cách mệnh:

“Mình về mình có nhớ ko”

      Vẫn là câu hỏi tu từ, vẫn là cách xưng hô “mình” nhưng đây là câu hỏi vang lên như một lời nhắc nhở “có nhớ ko”. Người Việt Bắc muốn nhắc nhở người chiến sĩ cách mệnh về xuôi hãy nhớ tới Việt Bắc, hãy:

“Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”

      Lúc về tới Hà Nội, người cách mệnh lúc nhìn thấy cây ở Hà Nội phồn hoa thì hãy nhớ tới núi rừng nơi Việt Bắc. Hãy nhớ nơi gắn bó thủy chung, son sắc, nơi người cách mệnh và người Việt Bắc đã cùng đấu tranh, cùng nhau vượt qua bao khó khăn. Lúc nhìn thấy sông thì hãy nhớ tới nguồn, hãy nhớ tới núi sông Việt Bắc, nhớ tới những dòng sông cùng các chiến sĩ cách mệnh đấu tranh. Hay đó chính là lời nhắc nhở của người Việt Bắc đối với người chiến sĩ cách mệnh lúc trở về xuôi nhìn thấy cảnh vật nơi phồn hoa đô thị tươi đẹp đó thì hãy nhớ tới con người Việt Bắc, nhớ tới những tháng ngày đấu tranh khó khăn nơi núi rừng đầy hiểm trở, cheo leo.  Điệp từ “nhìn” và “nhớ” dường như đã nhấn mạnh ý hỏi của người ở lại. Mong muốn những người cách mệnh luôn nhớ về nơi Việt Bắc. Nơi có những con người sắt son, thủy chung, luôn mong nhớ về người cách mệnh.

      Bốn câu thơ trước hết là lời của người Việt Bắc hỏi người cán bộ về xuôi. Với lối đối đáp cách xưng hô “mình – ta”, điệp từ cùng với từ láy, đặc thù là liên kết với câu hỏi tu từ đã cho thấy được tình cảm gắn bó thiết tha, mặn nồng, thủy chung son sắt của người Việt Bắc. Qua đó ta có thể cảm thu được phẩm chất tốt đẹp của con người nơi đây. Dù phải sống trong khó khăn, đồi núi hiểm trở, thiếu thốn nhưng tình yêu của họ đối với người chiến sĩ là ko hề thay đổi, xoành xoạch cồn cào, da diết và mãnh liệt.

Ngoài ra, các em cùng giainhat.vn tham khảo thêm bài phân tích khổ 1 tác phẩm Việt Bắc nhé!

Phân tích tính dân tộc trong khổ 1 bài Việt Bắc

      Tố Hữu là thi sĩ trữ tình chính trị, là lá cờ đầu của thơ ca cách mệnh Việt Nam. Thơ ông chất phác, mộc mạc giàu chất trữ tình. Trong sự nghiệp sáng tác của mình ông đã để lại nhiều tác phẩm có trị giá tiêu biểu là bài thơ “Việt Bắc”. Nổi trội lên trong bài thơ là tám câu thơ đầu với lời của kẻ ở, người đi đầy lưu luyến xúc động

Mình về mình có nhớ ta?

Mười lăm năm đó thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ ko?

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

Tiếng người nào tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, thấp thỏm bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

      Việt Bắc là tác phẩm rực rỡ của Tố Hữu được sáng tác vào năm 1954 sau lúc hiệp nghị Giơ-ne-vơ được ký kết, chính phủ và chính quyền trung ương cách mệnh chuyển từ căn cứ Việt Bắc về Hà Nội. Nhân sự kiện đó Tố Hữu sáng tác bài Việt Bắc.

      Nỗi nhớ da diết của những người yêu nhau như thế nào thì nỗi nhớ của con người Việt Bắc với những người cách mệnh cũng tương tự:

Mình về mình có nhớ ta?

Mười lăm năm đó thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ ko?

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

      Mở đầu đoạn trích là cách xưng hô “mình” – “ta” đầy thân yêu thân thiện, “mình”-là người cách mệnh còn “ta” chính là người Việt Bắc. Người dân Việt Bắc hỏi rằng: “Mình về mình có nhớ ta” đọc câu thơ ta thấy ở trong đó có đầy tình cảm lưu luyến, nuối tiếc như một cặp tình nhân lúc phải xa nhau, cảm giác khổ đau, ko nỡ, nhưng tình yêu thì được tạo nên trong quãng thời kì rất ngắn còn tình người giữa Việt Bắc và cách mệnh lại là quãng thời kì “mười lăm năm”. “Mười lăm năm” – đó là một quãng thời kì ko hề ngắn , đặc thù trong mười lăm năm đó tình cảm nào có phai nhạt nhưng còn “thiết tha mặn nồng”.

      Nếu như hai câu đầu là tình cảm giữa người với người thì tới với hai câu sau chính là tình cảm giữa con người với tự nhiên:

Mình về mình có nhớ ko?

Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn.

      Người dân Việt Bắc ko biết rằng lúc về miền xuôi những người cán bộ cách mệnh có còn nhớ Việt Bắc nữa hay ko. “Mình về mình có nhớ ko” đọc câu thơ lên với giọng thơ nhẹ nhõm ta thấy rưng rưng nước mắt. Núi rừng Việt Bắc, núi sông Việt Bắc đẹp lắm, hùng vĩ lắm nhưng ở miền xuôi lại tấp nập đông đúc. Người dân Việt Bắc sợ, họ sợ những người cách mệnh quên mất Việt Bắc, quên mất những tháng ngày hái quả rừng, ăn rau rừng trên núi, quên mất dòng sông vẫn hàng ngày bắt cá. Trong suy nghĩ của họ, họ rất sợ. Từ “nhớ” trong câu thơ được lặp lại như muốn tô đậm thêm nỗi nhớ nhung da diết, ko nỡ rời xa, ko nỡ chia ly. Chỉ với bốn dòng thơ đầu Tố Hữu đã tái tạo lại quang cảnh của buổi chia ly thật xúc động, nghẹn ngào và đầy nước mắt.

      Trong quang cảnh núi rừng hùng vĩ, cái se lạnh của Việt Bắc những người cách mệnh chia tay Việt Bắc

Tiếng người nào tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, thấp thỏm bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

      Người cách mệnh rời xa Việt Bắc nhưng vẫn nhớ về tiếng nói tha thiết của người dân Việt Bắc lúc chia tay: “Tiếng người nào tha thiết bên cồn”. Người cách mệnh về xuôi sẽ còn nhớ lắm giọng nói của người dân Việt Bắc. Vì nhớ nên “Bâng khuâng trong dạ thấp thỏm bước đi” câu thơ lúc đọc lên ta thấy xúc cảm như dâng trào. “bâng khuâng” là từ láy chỉ trạng thái của con người nhưng cụ thể ở đây là người cách mệnh về xuôi, họ ra đi nhưng trong lòng cảm thấy lưu luyến ko nỡ rời xa. Xúc cảm nghẹn ngào ko nói nên lời tới cả bước đi cũng như nặng hơn. Người ko muốn đi nhưng chân cũng ko muốn bước, bước chân trở thành “thấp thỏm” như cũng muốn quay trở lại Việt Bắc, quay lại quê hương cái nôi của cách mệnh, nơi có những con người yêu nghĩa, thủy chung luôn chờ đón họ. Họ ko nỡ rời xa nhau nhưng trong phút chốc nghẹn ngào cuối cùng được ở gần nhau thì họ lại ko thể thốt nên lời:

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

      Màu áo “chàm” – màu áo đặc trưng của cách mệnh cũng góp chung vào nỗi nhớ của kẻ ở người đi, họ nhớ nhau nhớ cả màu áo của nhau. Họ cầm tay nhau tình cảm thắm thiết nhưng ko thể thốt nên lời. Tâm trạng trong câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” cũng làm cho xúc cảm của người đọc và theo xúc cảm của con người trong thơ: thấp thỏm, ko yên, day dứt, khó diễn tả. Họ chia tay chỉ muốn òa khóc, xúc động ko nói nên lời. họ ko còn gì để nói với nhau hay họ có quá nhiều xúc cảm muốn nói nhưng ko thể nói hết trong một khoảnh khắc ngắn ngủi này. Chỉ vẻn vẹn có bốn câu thơ với hai mươi tám chữ Tố Hữu đã cho người đọc hòa mình vào cuộc chia tay, cũng là lời của người ra đi nói với người ở lại đã làm cho người đọc xúc động nghẹn ngào

      Đoạn trích trên trong bài thơ “Việt Bắc” ko chỉ thành công ở nội dung nhưng còn thành công ở nghệ thuật với thể thơ lục bát, lối đối đáp, cách xưng hô mình ta, tiếng nói giàu sức gợi. đoạn trích tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu đặm đà tính dân tộc.

      Tóm lại, tám câu thơ trên trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu đã để lại trong lòng người đọc những xúc cảm khó phai mờ về tình cảm giữa người Việt Bắc và cách mệnh. Bài thơ nói chung và đoạn thơ nói riêng sẽ luôn sống mãi trong lòng chúng ta, trong trái tim người đọc Việt Nam.

Phân tích 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc

      Nhắc tới Tố Hữu, người ta sẽ nhớ ngay tới hình ảnh của một thi sĩ luôn tiên phong trong phong trào nghệ thuật vì nền cách mệnh nước nhà. Tuyến đường thơ ca của Tố Hữu luôn gắn liền với những hình ảnh, sự kiện nổi trội của dân tộc. Bằng giọng thơ giàu tình cảm, văn pháp tài tình liên kết giữa chính trị và nghệ thuật biểu thị, ông đã sáng tác bài thơ Việt Bắc được xem là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Đặc thù, chỉ qua khổ thơ thứ nhất, ông đã mang tới cho người đọc tới với vùng đất Việt Bắc đầy nắng gió, khó khăn những thấm đẫm tình nghĩa.

     Việt Bắc được sáng tác vào tháng 10/1954, đây là thời đoạn chuyển giao lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi, các cán bộ chiến sỹ rời chiến khu Việt Bắc quay trở lại thủ đô Hà Nội. Trận chiến tranh kết thúc với bao thú vui hoan hỉ vì nền độc lập hòa bình, thế nhưng đồng nghĩa với việc chia ly giữa cán bộ và đồng bào Việt Bắc. Nơi đó, nhân dân cán bộ đã trải qua cùng nhau bao khó khăn, kỉ niệm, san sẻ ngọt bùi cùng nhau. Bài thơ Việt Bắc ra đời để trình bày biết bao tâm tình của người đi kẻ ở.

      Mở đầu đoạn trích, tác giả đã thay lời muốn nói của những người ở lại để trình bày cho hết cung bậc thương nhớ, tình cảm:

“Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm đó thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ ko

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

      Mình – ta thường được dùng để trình bày mối quan hệ thân thiện như vợ chồng, lứa đôi. Thế nhưng tác giả đã dùng cặp từ đó cho đồng bài Việt Bắc với những người lính cán bộ. Chẳng phải vợ chồng nhưng tình nghĩa đôi bên cũng keo sơn, bền chặt tựa tương tự. Những câu hỏi dồn dập, nào là có nhớ ta, nhớ cây nhớ núi nhớ sông nhớ nguồn ko. Điệp từ “nhớ” được nhắc lại nhiều lần trong câu hỏi tu từ càng xoáy sâu vào trong lòng người đọc. “Mười lăm năm” là cụ thể thực chỉ độ dài từ những năm 1940 cho tới thời kì đó, hơn một thập kỷ chúng ta đã cùng nhau ăn, cùng nhau cười, cùng nhau đấu tranh. So với những cuộc kháng chiến khác, mười lăm năm đó chẳng phải là dài. Thế nhưng cái quan trọng ở đây, khoảng thời kì đó đã tích tụ, bồi đắp biết bao tình cảm, có thể đong đầy bằng cả đời người. Câu hỏi chất chứa tình cảm lưu luyến, bao lời dặn dò của người ở lại cho người ra đi. Trở về với phố hội phồn hoa, mong người đừng quên “cây núi sông nguồn chốn đây”. Những cảnh vật tuy vô tri vô giác, thế nhưng đã cùng “mình” với “ta” trong suốt bao năm qua lúc vui kể cả lúc buồn. Cây và sông là biểu tượng của ko gian miền xuôi, với vùng cao đầy núi và nguồn. Sự chia ly có thể bị ngăn trở bởi khoảng cách thế nhưng “ta” vẫn luôn hi vọng “mình” sẽ chẳng bao giờ quên những chốn kỉ niệm đó. Tố Hữu đặc thù sử dụng những từ “thiết tha”, “mặn nồng” càng làm tăng trị giá của những thứ tình cảm đó. Phải thật trân trọng, đáng quý xiết bao mới khiến con người ta ko khỏi nuối tiếc nếu phải đánh mất đi.

      Nếu như đối với người ở lại, những tình cảm đó chất chứa trong hàng nghìn lời nói thì người ra đi chỉ biết dùng hành động để trình bày nỗi lòng. Tình cảm đó, họ đã quá hiểu nhân dân Việt Bắc. Vì sự nghiệp quốc gia vẫn đang đợi chờ các anh nên buộc lòng các anh phải ra đi, tuy chẳng nỡ nhưng cũng đành xa cách:

“Tiếng người nào tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, thấp thỏm bước đi”

      Những cặp từ láy “bâng khuâng”, “thấp thỏm” diễn tả trạng thái tâm lý thương nhớ, luyến tiếc khiến lòng không thể yên. Như Tú Xương đã viết:

“Nhớ người nào người nào nhớ hiện thời nhớ người nào”…

      Tiếng “người nào” đó lại chất chứa biết bao mến thương, không thể chỉ cụ thể một người, bởi tình cảm đó là dành cho cả một đồng bào Việt Bắc. Tố Hữu đã khai thác tiếng “người nào” đó một cách xuất sắc, lúc để lại âm vang trong lòng người về. Nó làm cho tâm trạng con người càng trở thành nôn nao, những dòng xúc cảm cứ ào về ko thôi. Nhưng những tâm trạng thương nhớ đó chỉ biết kìm nén chặt trong lòng, không thể nào dùng lời lẽ bộc bạch, hay thét lên cho nguôi ngoai những nỗi buồn.

      Tâm trạng bâng khuâng thấp thỏm đó còn được trình bày hết sức tinh tế qua nhịp độ hai câu tiếp theo:

“Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

      Cặp thơ lục bát được tác giả góp thêm một tẹo nhịp độ, như một đảo phách trong âm nhạc. Màu “áo chàm” đặc trưng của những con người chất phác miền núi Tây Bắc. Hình ảnh thấy thật đơn sơ, mộc mạc của chốn quê nghèo, nghèo vật chất những luôn giàu tình cảm. Tấm áo đó đã chất chứa biết bao mồ hôi, khó khăn vất vả, một nắng hai sương để đấu tranh, nuôi dưỡng các anh lính cụ Hồ để các anh an tâm đánh giặc. Chẳng phải áo bào, áo gấm để tiễn đưa, cảm ơn công lao của các anh, chỉ là bóng vía của những con người lao động nhưng sao vẫn làm cho ta ko khỏi cảm kích, hàm ân. Tình cảm quyến luyến đó còn được trình bày qua hình ảnh “cầm tay”. Đôi bàn tay của những con người cầm súng ấm ấp, nâng niu đôi tay của những người lao động. Những đôi tay vất vả, sờn lên vì những trắc trở không giống nhau, nhưng giờ phút đó, đôi ta đều chung một nỗi tâm tình. Hình ảnh giàu tính gợi hình, gợi xúc cảm, chẳng cần phải thổ lộ nhiều vì có quá nhiều điều muốn nói, nhưng lại chẳng biết từ khi đâu. Nỗi lòng đó, xin người để “ta” chôn chặt trong tim nhưng tình cảm sẽ sống mãi trong khoảnh khắc “cầm tay” đó.

      Đoạn thơ mở đầu của bài Việt Bắc đã vẽ nên những cung bậc xúc cảm hết sức nhiều chủng loại, sâu lắng của người đi kẻ ở. Nhịp thơ nhẹ nhõm, du dương để diễn tả một cách trọn vẹn, khôn khéo những tình cảm thật tâm đó đã cho thấy tài năng nổi trội của Tố Hữu trong số những thi sỹ tài hoa của Việt Nam.

—/—

Trên đây là một số bài văn mẫu Phân tích 4 câu đầu Việt Bắc nhưng giainhat.vn đã biên soạn. Kỳ vọng sẽ giúp ích các em trong quá trình làm bài và ôn luyện cùng tác phẩm. Chúc các em có một bài văn thật tốt!

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

[rule_{ruleNumber}]

Source: giainhat.vn
Categories: Giáo dục

Viết một bình luận