Lập dàn ý phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi (hay nhất)

Hướng dẫn lập dàn ý phân tích bài thơ Non sông của Nguyễn Đình Thi ngắn gọn, cụ thể, hay nhất. Với các bài dàn ý và văn mẫu được tổng hợp và biên soạn dưới đây, các em sẽ có thêm nhiều tài liệu hữu ích phục vụ cho việc học môn văn. Cùng tham khảo nhé! 

Lập dàn ý bài thơ Non sông của Nguyễn Đình Thi 

1. Bài thơ Non sông được Nguyễn Đình Thi ấp ủ trong nhiều năm kháng chiến chống Pháp (1948 – 1955). Phần chú thích SGK Văn 12 đã trình diễn quá trình thi sĩ suy ngẫm về non sông và con người Việt Nam từ Sáng mát trong như sáng năm xưa (1948) và Đêm mít tinh (1949) tới Non sông (1955). Mặc dầu vậy, đây vẫn là một chỉnh thể nghệ thuật được cấu tứ công phu bằng hàng loạt hình ảnh vừa có tính nói chung cao vừa có sức gợi cảm sâu xa, tác động mạnh mẽ tới suy nghĩ và tình cảm của người đọc.

2. Trong đoạn đầu, Hà Nội xuất hiện trong tâm tưởng của người thanh niên trí thức phải xa thủ đô để đi theo tiếng gọi của cách mệnh (ở đây là chính thi sĩ). Vì vậy, cảnh ở đây chất chứa tâm trạng.

– Cảnh Hà Nội còn dưới ách thực dân đẹp nhưng buồn và yên ắng, trình bày cái cảm giác xao xuyến bâng khuâng của người ra đi, choáng ngợp cả ko gian và thời kì: “Sáng chớm lạnh”, “phố dài xao xác hơi may”, “Thềm nắng lá rơi đầy”.

– Hình ảnh người ra đi: Tư thế và dáng đi tỏ ra kiên quyết (đầu ko ngoảnh lại) nhưng tâm hồn thấm thía cái “chớm lạnh” của khoảnh khắc đầu thu, in sâu những gì thơ mộng của thủ đô dấu yêu đang lùi phía sau.


– Hà Nội được tái tạo trong suy tư của người đã hòa nhập vào cuộc sống kháng chiến. Vì vậy, lời thơ hoài niệm tuy còn chút bâng khuâng, vẫn toát lên niềm tự hào của con người đã biết vượt lên chính mình: Lúc Tổ quốc kêu gọi, sẳn sàng từ biệt căn nhà góc phố thân yêu, ra đi làm nghĩa vụ của một công dân.

3. Khổ thơ đầu của đoạn 2 diễn tả niềm tự hào được làm chủ bầu trời xanh này, núi rừng Việt Bắc này. Chú ý cụm từ của chúng ta được láy lại như một sự khẳng định chủ quyền chính đáng với non sông mình. Chú ý điệp từ những được đặt ở đầu các dòng thơ để chỉ ko gian rộng lớn của quê hương đất nữớc Việt Nam từ “mùa thu nay” cũng thuộc về chúng ta.

– Từ niềm hoan hỉ tới say mê vô tận tương tự, thi sĩ như lắng lại để suy ngẫm trầm lặng về xuất xứ sâu xa của sức mạnh ý thức đã tạo nên sự thay đổi lớn lao đó:

Nước chúng ta

Nước của những người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về

4. Đoạn cuối có nhiều hình ảnh lạ mắt có tính thông minh mang ý nghĩa nói chung. Cần chọn ra một số hình ảnh vừa có ý nghĩa lại vừa gợi cảm. Ví dụ:

a)

Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều

Đó là hình ảnh non sông đau thương, con người uất hận vì bọn thực dân xâm lược. Đây là bức tranh đặc tả một Việt Nam có chiến tranh. Nó vừa cụ thể tới nhức nhối (đâm nát, chảy máu) vừa thật nói chung, vừa hư vừa thực: Cánh đồng quê một buổi chiều sẫm màu máu, dây thép gai của đồn thù tua tủa mọc lên như chọc nát bầu trời bình yên của Tổ quốc.

Ẩn sau bức tranh là tình yêu quê hương xa xót (yêu những gì thân yêu với cuộc sống con người: bầu trời cho ko khí, cánh đồng cho hạt lúa, củ khoai) và lòng căm thù quân xâm lược đã xáo trộn cuộc sống bình yên.

b)

Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu

Đã bật lên những tiếng căm hờn

Đó là hình ảnh có tính biểu tượng của một non sông quật khởi, con người vùng lên. Câu thơ đã nói chung sự chuyển biến trong nhận thức của con người Việt Nam, một sự chuyển biến mang tính quy luật ở một non sông của những con người hiền lành rất mực. Chú ý động từ bật lên, sự đối lập ko chỉ thuần túy về ngữ nghĩa (hồn hậu – căm thù). Đó là sự thông nhất biện chứng của hai phẩm chất ko hề đối lập nhau: giặc tới xâm lược quê hương non sông mình, những con người hiền lành hồn hậu đó đã trở thành những con người cháy bỏng căm thù.

c)

Ôm non sông những người áo vải

Đã đứng lên thành những người hùng

Đó là hình ảnh sinh động về chủ nghĩa người hùng Việt Nam: Những người người hùng áo vải, những nông dân mặc áo lính đứng lên bảo .vệ non sông vô cùng dấu yêu. Chú ý động từ ôm trình bày tình yêu trìu mến của con người Việt Nam đối với Tổ quốc mình.

d)

Súng nổ rung trời tức giận

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa

Đây là khổ thơ cuối kết thúc bài thơ với nhịp độ chắc khỏe, tự tin. Hình ảnh gây ấn tượng mạnh, mang tính tạo hình. Nó tái tạo một sự thực đã diễn ra ở chiến dịch Điện Biên Phủ nhưng mà chính thi sĩ đã chứng kiến: dưới mưa bom lửa đạn của thực dân Pháp, quân nhân ta đào hào chiến đấu để tiến công đồn thù. Bọn giặc điên cuồng chống trả nhưng ko cản nổi bước tiến của quân dân ta. Chiến dịch kéo dài 56 ngày đêm khó khăn. Người trước ngã xuống nhưng người sau vẫn tiến lên. Lúc hào chiến đấu “bò” tới sát đồn địch, các chiến sĩ từ lòng hào rũ bùn nhảy lên trên mặt đất chói lòa ánh sáng xung phong công đồn.

Phân tích bài thơ Non sông của Nguyễn Đình Thi – Bài mẫu


    Có nhẽ ko có một thi sĩ nào trên thế gian này, trở thành một thi sĩ chân chính nhưng mà lại ko có một vần thơ, một bài thơ viết về non sông, về quê hương. Bởi vì non sông là nguồn cảm hứng vô tận đối với thi sĩ muôn thuở.

    Nhưng tình cảm non sông ở mỗi con người lại tạo nên theo một trục đường riêng, mang nội dung màu sắc riêng và dựa trên những cảm nhận riêng.

    Nguyễn Đình Thi là một thi sĩ viết nhiều về non sông. Nhưng có nhẽ chưa ở đâu, trong thơ và trong văn của ông, cảm hứng về non sông lại nổi trội, tập trung rực rỡ như ở bài thơ Non sông.

    Bài thơ Non sông của Nguyễn Đình Thi được sáng tác từ năm 1948 tới năm 1955 mới hoàn thành, so với Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Non sông của Nguyễn Đình Thi ngắn hơn, thế nhưng mà Hoàng cầm sáng tác chỉ trong một đêm, còn Nguyễn Đình Thi đã viết trong bảy tám năm ròng rã. So sánh tương tự để thấy cảm hứng về non sông của hai thi sĩ ngay ở mặt này đã có cái gì rất không giống nhau: Bên kia sông Đuống là cảm hứng tuôn tràn, Non sông là tình cảm nung nấu:

Những đêm dài hành quân nung nấu

    Lần giở lại “tiền sử” của bài thơ và đọc kĩ phần thứ nhất Non sông, ta càng thấy rõ đó là một tình cảm nung nấu, nung nấu nỗi nhớ, nung nấu thú vui, niềm tin yêu của người làm chủ.

    Là một thanh niên sống và hoạt động ở Hà Nội, Nguyễn Đình Thi viết về non sông, trước hết là viết về Hà Nội, thủ đô của non sông, thủ đô của trái tim ông, Hà Nội với hương sắc xao động long lanh trong nắng gió mùa thu.

Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Tôi nhớ những ngày thu đã xa.

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

Những phố dài xao xác hơi may

Người ra tiên phong ko ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

Mùa thu nay khác rồi,

Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi

Gió thổi rừng tre phất phới

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha…

    Chẳng phải tình cờ chút nào lúc nói tới non sông là nói tới Hà Nội và nói tới Hà Nội lại nói tới mùa thu. Non sông ta tươi đẹp bốn mùa nhưng đẹp nhất là vào mùa thu và có mùa thu ở đâu lại đẹp, lại “mát trong” hơn mùa thu Hà Nội? Nhất là mùa thu nơi đây lại từng điểm một cái mốc vàng son vào lịch sử – “Thủ đô hoa vàng nắng Ba Đình” giữa “Tháng Tám mùa thu xanh thẳm” (Tố Hữu).

    Cho nên, chẳng phải chờ tới bốn câu tuyệt tác, ngay từ những đòng đầu đã có cái gì xôn xao, xào xạc trong hồn:

Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Tôi nhớ những ngày thu đã xa

    Non sông gắn với nỗi nhớ, nỗi nhớ khởi từ mùa thu, mùa thu “đã xa” được gợi lại từ “mùa thu nay”. Rõ ràng là có hai mùa thu như đang soi chiếu vào nhau làm cho mỗi phía đều long lanh nhấp nhánh hơn lên trong tâm hồn thi sĩ. Cái cảm giác “mát trong” là chung, là muôn thuở đối với mọi mùa thu Việt Nam, mùa thu Hà Nội. Cái riêng lẻ cái “đã xa” đã “khóe rồi” giữa hai mùa thu, còn lại là gì? Trong những ngày thu đã xa Hà Nội “mát trong” vẫn “mát trong” vẫn đẹp và thơ mộng. Nhưng đó là cái đẹp buồn. Phố xá vắng vẻ, xao xác, sân thềm đầy nắng, đầy lá vàng rơi. Gió heo may mang theo khí lạnh đầu mùa thổi dài theo những dãy phố cổ vắng người. Có một cái gì buồn, thật trang trọng trong thời khắc chuyển mùa, thời khắc chia xa.

    Mùa thu nay vẫn “mát trong” như “sáng năm xưa” đó nhưng cũng “đã khác rồi”. Khác rồi bởi cái “Người ra tiên phong ko ngoảnh lại” của “những ngày thu đã xa”, giờ đây đã “đứng giữa núi đồi”, đúng từ một tầm cao của chiến khu kháng chiến Việt Bắc để nhưng mà “nhớ’ nhưng mà “nghe”. Lòng người đã đổi nên ngọn gió cũng đổi, âm thanh cũng đổi, sắc hương cũng đổi:

Gió thổi rừng tre phất phới

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha.

    Đó là cơn gió thổi, sắc áo mới, tiếng nói cười giữa một cuộc hồi sinh.

    Có một thay đổi nhỏ trong cách xưng hô ở trên là “tôi nhớ”, “tôi đứng vui nghe”. Tới đoạn thơ tiếp theo, đất trời mùa thu lại vang vọng tiếng “nói cười thiết tha” của “chúng ta”.

Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Nước chúng ta…

Mấy chữ “của chúng ta”, “chúng ta” đó vang lên thật rắn rỏi, tự hào tin yêu, “chúng ta” tự hào về “nước chúng ta” có chủ quyền, tự hào vì “nước chúng ta” giàu đẹp rộng lớn.

Những cánh đồng thơm mát

Những ngả đường mênh mông

Những dòng sông đỏ nặng phù sa…

    Tự hào vì truyền thống “ko bao giờ khuất” của ông cha mình:

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về

    Ở trên, ta nghe một “tiếng nói cười thiết tha” vọng lên đâu đó giữa tầng trời “trong biếc”, ơ đây trong những dòng khép lại phần thứ nhất bài thơ, ta lại nghe tiếng nói thiêng vọng lên từ lòng đất thiêng nhưng mà thi sĩ gọi là “tiếng đất”.

    Tương tự, cảm hứng về non sông của Nguyễn Đình Thi trong phần thứ nhất của bài thơ là thú vui của người làm chủ. Đó là thú vui, là nỗi nhớ vừa sâu lắng vừa nô nức trong lòng, một thứ nỗi niềm vọng trong tiềm thức thành một thứ tiếng nói riêng, “tiếng thu” riêng, nghe mênh mang sâu thẳm: sâu thẳm giữa bầu trời, sâu thẳm trong lòng đất và sâu thẳm giữa hồn người đi kháng chiến.

    Như trên đã nói, Non sông được Nguyễn Đình Thi sáng tác từ năm 1948 tới 1955 mới hoàn thành. Phần thứ nhất được hoàn thành năm 1948 (“Sáng mát trong như sáng năm xưa”), (“Đêm mít tinh”) phần thứ hai, được viết tiếp từ 1949 tới 1955. Nguyễn Đình Thi hình như chờ cho lịch sử viết xong thiên sử thi của dân tộc mình, rồi mới theo đó nhưng mà viết nốt phần thứ hai này. Có nhẽ vì vậy nhưng mà dù thiên về xây dựng những hình ảnh có tính biểu tượng nói chung, lời thơ vẫn âm vang những tiếng vọng của cuộc sống hào hùng của một non sông tranh đấu và thắng lợi, ơ đó, có âm vang của phong trào phát động quần chúng trong cải cách ruộng đất:

Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu

Đã bật lên những tiếng căm hờn

    Có âm vang nhịp bước vào công – nông – binh “liên minh” kháng chiến:

Khói nhà máy cuộn trong sương núi

Kèn gọi quân vang vọng cánh đồng

Ôm non sông những người áo vải

Đã đứng lên thành những người hùng

    Nhưng nếu như những biểu tượng nói chung trên đây chỉ được xây dựng bằng giác quan lịch sử, bằng sự kiện thì Non sông của Nguyễn Đình Thi đã ko làm xôn xao lòng người tới thế. Rất nhiều những biểu tượng đã kết tinh từ những kĩ niệm riêng, từ chính quan sát, trải nghiệm của một nghệ sĩ từng sống lăn lộn trong kháng chiến. Cho nên, Non sông của Nguyễn Đình Thi có nhiều khổ, nhiều dòng nhấp nhánh cái chất sống của thi sĩ và của nhân dân.

    Lúc ông viết:

Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều

Những đêm dài hành quân nung nấu

Bỗng ngay ngáy nhớ mắt người yêu

    Thì ta hiểu đó là nỗi đau chung quyện vào những nỗi đau riêng, và nỗi đau đó nung nấu thêm vì một nỗi nhớ xao xuyến chay lòng. Trong đó có kỉ niệm về một buổi chiều hành quân ở Bắc Giang: Nhìn lên đồi cao, dây thép gai đồn giặc hằn lên như cào cấu “đâm nát trời chiều”. Ráng chiều đỏ bầm lại, rãnh cày đồng quê như “chảy máu”. Những cụ thể rất thực, rất sống sít đó đã vào thơ và trở thành biểu tượng đau thương của non sông trong kháng chiến chống Pháp. Đó ko còn là hình ảnh của một thời nhưng mà là hình ảnh của mọi thời giặc giã, ko còn là hình ảnh của một vùng quê Bắc Giang nhưng mà hiển thân của mọi vùng quê, mọi non sông dưới gót giày quân xâm lược.

    Những hình ảnh đau thương quặn lòng đó sẽ còn “nung nấu” những “đêm dài hành quân” nhưng cũng từ miền đau thương sâu thẳm đó, mọc lên những ngôi sao thương nhớ nhấp nhánh, thao thức ngay ngáy. Đó là ánh mắt “người yêu” là nỗi nhớ ngay ngáy và cũng chính là sự thôi thúc, là niềm tin.

    Trong thơ Nguyễn Đình Thi, nỗi “nhớ mắt người yêu” như nhớ một ánh sao nhấp nhánh đó thường trở đi trở lại nhiều lần (Trong Bài thơ viết cạnh đồn Tây: “Nhớ em đôi mắt hay cười”, Trong Em bảo anh: “Tia lửa nơi ta bay lên cao – Trong mắt người yêu thành trời sao”, trong Nhớ: “Ngôi sao nhớ người nào nhưng mà sao nhấp nhánh – Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây”…) Nhưng đặc trưng ở “Non sông”, “Mắt người yêu” gợi một nỗi nhớ lớn lao sâu thẳm, vượt lên trên cả tình yêu lứa đôi, vượt lên trên nỗi nhớ người yêu. Bởi thứ ánh sáng bỗng dưng bừng lên trong tâm hồn đó có cả nỗi đau, nỗi nhớ, có cả buồn vui, cả tin yêu kỳ vọng, cả riêng và chung.

    Bài thơ khép lại băng một cảnh tượng hào hùng, tráng lệ:

Súng nổ rung trời tức giận

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa

    Cảnh tượng lớn lao này cũng là một biểu tượng nói chung về sự vững mạnh quật cường của non sông từ trong đau thương khó khăn. Nhưng đó là một bức tranh sống động. Cảm hứng hiện thực lấy từ thắng lợi Điện Biên Phủ: Đoàn quân “áo vải”, “đứng lên thành những người hùng” phất cao cờ thắng lợi trên nóc hầm viên tướng chiến bại Đờ Caxtơri chiều mùng 7 tháng 5 lịch sử. Cảnh tượng đó đã được nhiều nhà quay phim, chụp ảnh ghi lại, nhưng hiếm có ở đâu gợi cho ta thật nhiều ấn tượng như ở đây, có cái gì rung rinh như một cơn trở dạ lớn lao của trời đất, của lịch sử. Trước mắt ta lồng lộng, chói lòa một “Nước Việt Nam từ máu lửa – Rũ bùn đứng dậy…” Đó là cái “rũ bùn đứng dậy” của Phù Đổng Thiên Vương thời đánh Pháp.

    Non sông của Nguyễn Đình Thi là một bài thơ rực rỡ về đề tài này. Rực rỡ nhất là ở cảm hứng rất riêng về non sông của ông: Một non sông gắn liền với mùa thu, gắn liền với thú vui nỗi nhớ của con người làm chủ, một non sông thật đẹp ngay trong cảnh khó khăn đau thương. Chính thi sĩ đã từng viết:

Anh yêu em như yêu non sông

Vất vả đau thương, tươi thắm vô ngần

                          (Nhớ)

    Có nhẽ vì vậy nhưng mà giữa bao nhiêu bài thơ hay về non sông của bao nhiêu thi sĩ, người đọc vẫn ko thể quên được những câu thơ tuyệt tác của ông về phố Hà Nội, về “Những cánh đồng quê chảy máu – Dây thép gai đâm nát trời chiều” và về “Nước Việt Nam từ máu lửa – Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”.

Thông qua dàn ý và một số bài văn mẫu phân tích bài thơ Non sông của Nguyễn Đình Thi tiêu biểu được giainhat.vn tuyển chọn từ những bài viết xuất sắc của các bạn học trò. Mong rằng các em sẽ có khoảng thời kì vui vẻ và hữu ích lúc học môn Văn!

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

Hình Ảnh về: Lập dàn ý phân tích bài thơ Non sông của Nguyễn Đình Thi

(hay nhất)

Video về: Lập dàn ý phân tích bài thơ Non sông của Nguyễn Đình Thi

(hay nhất)

Wiki về Lập dàn ý phân tích bài thơ Non sông của Nguyễn Đình Thi

(hay nhất)

Lập dàn ý phân tích bài thơ Non sông của Nguyễn Đình Thi

(hay nhất) -

Hướng dẫn lập dàn ý phân tích bài thơ Non sông của Nguyễn Đình Thi ngắn gọn, cụ thể, hay nhất. Với các bài dàn ý và văn mẫu được tổng hợp và biên soạn dưới đây, các em sẽ có thêm nhiều tài liệu hữu ích phục vụ cho việc học môn văn. Cùng tham khảo nhé! 

Lập dàn ý bài thơ Non sông của Nguyễn Đình Thi 

1. Bài thơ Non sông được Nguyễn Đình Thi ấp ủ trong nhiều năm kháng chiến chống Pháp (1948 – 1955). Phần chú thích SGK Văn 12 đã trình diễn quá trình thi sĩ suy ngẫm về non sông và con người Việt Nam từ Sáng mát trong như sáng năm xưa (1948) và Đêm mít tinh (1949) tới Non sông (1955). Mặc dầu vậy, đây vẫn là một chỉnh thể nghệ thuật được cấu tứ công phu bằng hàng loạt hình ảnh vừa có tính nói chung cao vừa có sức gợi cảm sâu xa, tác động mạnh mẽ tới suy nghĩ và tình cảm của người đọc.

2. Trong đoạn đầu, Hà Nội xuất hiện trong tâm tưởng của người thanh niên trí thức phải xa thủ đô để đi theo tiếng gọi của cách mệnh (ở đây là chính thi sĩ). Vì vậy, cảnh ở đây chất chứa tâm trạng.

– Cảnh Hà Nội còn dưới ách thực dân đẹp nhưng buồn và yên ắng, trình bày cái cảm giác xao xuyến bâng khuâng của người ra đi, choáng ngợp cả ko gian và thời kì: “Sáng chớm lạnh”, “phố dài xao xác hơi may”, “Thềm nắng lá rơi đầy”.

– Hình ảnh người ra đi: Tư thế và dáng đi tỏ ra kiên quyết (đầu ko ngoảnh lại) nhưng tâm hồn thấm thía cái “chớm lạnh” của khoảnh khắc đầu thu, in sâu những gì thơ mộng của thủ đô dấu yêu đang lùi phía sau.


– Hà Nội được tái tạo trong suy tư của người đã hòa nhập vào cuộc sống kháng chiến. Vì vậy, lời thơ hoài niệm tuy còn chút bâng khuâng, vẫn toát lên niềm tự hào của con người đã biết vượt lên chính mình: Lúc Tổ quốc kêu gọi, sẳn sàng từ biệt căn nhà góc phố thân yêu, ra đi làm nghĩa vụ của một công dân.

3. Khổ thơ đầu của đoạn 2 diễn tả niềm tự hào được làm chủ bầu trời xanh này, núi rừng Việt Bắc này. Chú ý cụm từ của chúng ta được láy lại như một sự khẳng định chủ quyền chính đáng với non sông mình. Chú ý điệp từ những được đặt ở đầu các dòng thơ để chỉ ko gian rộng lớn của quê hương đất nữớc Việt Nam từ “mùa thu nay” cũng thuộc về chúng ta.

– Từ niềm hoan hỉ tới say mê vô tận tương tự, thi sĩ như lắng lại để suy ngẫm trầm lặng về xuất xứ sâu xa của sức mạnh ý thức đã tạo nên sự thay đổi lớn lao đó:

Nước chúng ta

Nước của những người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về

4. Đoạn cuối có nhiều hình ảnh lạ mắt có tính thông minh mang ý nghĩa nói chung. Cần chọn ra một số hình ảnh vừa có ý nghĩa lại vừa gợi cảm. Ví dụ:

a)

Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều

Đó là hình ảnh non sông đau thương, con người uất hận vì bọn thực dân xâm lược. Đây là bức tranh đặc tả một Việt Nam có chiến tranh. Nó vừa cụ thể tới nhức nhối (đâm nát, chảy máu) vừa thật nói chung, vừa hư vừa thực: Cánh đồng quê một buổi chiều sẫm màu máu, dây thép gai của đồn thù tua tủa mọc lên như chọc nát bầu trời bình yên của Tổ quốc.

Ẩn sau bức tranh là tình yêu quê hương xa xót (yêu những gì thân yêu với cuộc sống con người: bầu trời cho ko khí, cánh đồng cho hạt lúa, củ khoai) và lòng căm thù quân xâm lược đã xáo trộn cuộc sống bình yên.

b)

Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu

Đã bật lên những tiếng căm hờn

Đó là hình ảnh có tính biểu tượng của một non sông quật khởi, con người vùng lên. Câu thơ đã nói chung sự chuyển biến trong nhận thức của con người Việt Nam, một sự chuyển biến mang tính quy luật ở một non sông của những con người hiền lành rất mực. Chú ý động từ bật lên, sự đối lập ko chỉ thuần túy về ngữ nghĩa (hồn hậu – căm thù). Đó là sự thông nhất biện chứng của hai phẩm chất ko hề đối lập nhau: giặc tới xâm lược quê hương non sông mình, những con người hiền lành hồn hậu đó đã trở thành những con người cháy bỏng căm thù.

c)

Ôm non sông những người áo vải

Đã đứng lên thành những người hùng

Đó là hình ảnh sinh động về chủ nghĩa người hùng Việt Nam: Những người người hùng áo vải, những nông dân mặc áo lính đứng lên bảo .vệ non sông vô cùng dấu yêu. Chú ý động từ ôm trình bày tình yêu trìu mến của con người Việt Nam đối với Tổ quốc mình.

d)

Súng nổ rung trời tức giận

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa

Đây là khổ thơ cuối kết thúc bài thơ với nhịp độ chắc khỏe, tự tin. Hình ảnh gây ấn tượng mạnh, mang tính tạo hình. Nó tái tạo một sự thực đã diễn ra ở chiến dịch Điện Biên Phủ nhưng mà chính thi sĩ đã chứng kiến: dưới mưa bom lửa đạn của thực dân Pháp, quân nhân ta đào hào chiến đấu để tiến công đồn thù. Bọn giặc điên cuồng chống trả nhưng ko cản nổi bước tiến của quân dân ta. Chiến dịch kéo dài 56 ngày đêm khó khăn. Người trước ngã xuống nhưng người sau vẫn tiến lên. Lúc hào chiến đấu “bò” tới sát đồn địch, các chiến sĩ từ lòng hào rũ bùn nhảy lên trên mặt đất chói lòa ánh sáng xung phong công đồn.

Phân tích bài thơ Non sông của Nguyễn Đình Thi – Bài mẫu


    Có nhẽ ko có một thi sĩ nào trên thế gian này, trở thành một thi sĩ chân chính nhưng mà lại ko có một vần thơ, một bài thơ viết về non sông, về quê hương. Bởi vì non sông là nguồn cảm hứng vô tận đối với thi sĩ muôn thuở.

    Nhưng tình cảm non sông ở mỗi con người lại tạo nên theo một trục đường riêng, mang nội dung màu sắc riêng và dựa trên những cảm nhận riêng.

    Nguyễn Đình Thi là một thi sĩ viết nhiều về non sông. Nhưng có nhẽ chưa ở đâu, trong thơ và trong văn của ông, cảm hứng về non sông lại nổi trội, tập trung rực rỡ như ở bài thơ Non sông.

    Bài thơ Non sông của Nguyễn Đình Thi được sáng tác từ năm 1948 tới năm 1955 mới hoàn thành, so với Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Non sông của Nguyễn Đình Thi ngắn hơn, thế nhưng mà Hoàng cầm sáng tác chỉ trong một đêm, còn Nguyễn Đình Thi đã viết trong bảy tám năm ròng rã. So sánh tương tự để thấy cảm hứng về non sông của hai thi sĩ ngay ở mặt này đã có cái gì rất không giống nhau: Bên kia sông Đuống là cảm hứng tuôn tràn, Non sông là tình cảm nung nấu:

Những đêm dài hành quân nung nấu

    Lần giở lại “tiền sử” của bài thơ và đọc kĩ phần thứ nhất Non sông, ta càng thấy rõ đó là một tình cảm nung nấu, nung nấu nỗi nhớ, nung nấu thú vui, niềm tin yêu của người làm chủ.

    Là một thanh niên sống và hoạt động ở Hà Nội, Nguyễn Đình Thi viết về non sông, trước hết là viết về Hà Nội, thủ đô của non sông, thủ đô của trái tim ông, Hà Nội với hương sắc xao động long lanh trong nắng gió mùa thu.

Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Tôi nhớ những ngày thu đã xa.

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

Những phố dài xao xác hơi may

Người ra tiên phong ko ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

Mùa thu nay khác rồi,

Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi

Gió thổi rừng tre phất phới

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha…

    Chẳng phải tình cờ chút nào lúc nói tới non sông là nói tới Hà Nội và nói tới Hà Nội lại nói tới mùa thu. Non sông ta tươi đẹp bốn mùa nhưng đẹp nhất là vào mùa thu và có mùa thu ở đâu lại đẹp, lại “mát trong” hơn mùa thu Hà Nội? Nhất là mùa thu nơi đây lại từng điểm một cái mốc vàng son vào lịch sử – “Thủ đô hoa vàng nắng Ba Đình” giữa “Tháng Tám mùa thu xanh thẳm” (Tố Hữu).

    Cho nên, chẳng phải chờ tới bốn câu tuyệt tác, ngay từ những đòng đầu đã có cái gì xôn xao, xào xạc trong hồn:

Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Tôi nhớ những ngày thu đã xa

    Non sông gắn với nỗi nhớ, nỗi nhớ khởi từ mùa thu, mùa thu “đã xa” được gợi lại từ “mùa thu nay”. Rõ ràng là có hai mùa thu như đang soi chiếu vào nhau làm cho mỗi phía đều long lanh nhấp nhánh hơn lên trong tâm hồn thi sĩ. Cái cảm giác “mát trong” là chung, là muôn thuở đối với mọi mùa thu Việt Nam, mùa thu Hà Nội. Cái riêng lẻ cái “đã xa” đã “khóe rồi” giữa hai mùa thu, còn lại là gì? Trong những ngày thu đã xa Hà Nội “mát trong” vẫn “mát trong” vẫn đẹp và thơ mộng. Nhưng đó là cái đẹp buồn. Phố xá vắng vẻ, xao xác, sân thềm đầy nắng, đầy lá vàng rơi. Gió heo may mang theo khí lạnh đầu mùa thổi dài theo những dãy phố cổ vắng người. Có một cái gì buồn, thật trang trọng trong thời khắc chuyển mùa, thời khắc chia xa.

    Mùa thu nay vẫn “mát trong” như “sáng năm xưa” đó nhưng cũng “đã khác rồi”. Khác rồi bởi cái “Người ra tiên phong ko ngoảnh lại” của “những ngày thu đã xa”, giờ đây đã “đứng giữa núi đồi”, đúng từ một tầm cao của chiến khu kháng chiến Việt Bắc để nhưng mà “nhớ’ nhưng mà “nghe”. Lòng người đã đổi nên ngọn gió cũng đổi, âm thanh cũng đổi, sắc hương cũng đổi:

Gió thổi rừng tre phất phới

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha.

    Đó là cơn gió thổi, sắc áo mới, tiếng nói cười giữa một cuộc hồi sinh.

    Có một thay đổi nhỏ trong cách xưng hô ở trên là “tôi nhớ”, “tôi đứng vui nghe”. Tới đoạn thơ tiếp theo, đất trời mùa thu lại vang vọng tiếng “nói cười thiết tha” của “chúng ta”.

Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Nước chúng ta…

Mấy chữ “của chúng ta”, “chúng ta” đó vang lên thật rắn rỏi, tự hào tin yêu, “chúng ta” tự hào về “nước chúng ta” có chủ quyền, tự hào vì “nước chúng ta” giàu đẹp rộng lớn.

Những cánh đồng thơm mát

Những ngả đường mênh mông

Những dòng sông đỏ nặng phù sa…

    Tự hào vì truyền thống “ko bao giờ khuất” của ông cha mình:

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về

    Ở trên, ta nghe một “tiếng nói cười thiết tha” vọng lên đâu đó giữa tầng trời “trong biếc”, ơ đây trong những dòng khép lại phần thứ nhất bài thơ, ta lại nghe tiếng nói thiêng vọng lên từ lòng đất thiêng nhưng mà thi sĩ gọi là “tiếng đất”.

    Tương tự, cảm hứng về non sông của Nguyễn Đình Thi trong phần thứ nhất của bài thơ là thú vui của người làm chủ. Đó là thú vui, là nỗi nhớ vừa sâu lắng vừa nô nức trong lòng, một thứ nỗi niềm vọng trong tiềm thức thành một thứ tiếng nói riêng, “tiếng thu” riêng, nghe mênh mang sâu thẳm: sâu thẳm giữa bầu trời, sâu thẳm trong lòng đất và sâu thẳm giữa hồn người đi kháng chiến.

    Như trên đã nói, Non sông được Nguyễn Đình Thi sáng tác từ năm 1948 tới 1955 mới hoàn thành. Phần thứ nhất được hoàn thành năm 1948 (“Sáng mát trong như sáng năm xưa”), (“Đêm mít tinh”) phần thứ hai, được viết tiếp từ 1949 tới 1955. Nguyễn Đình Thi hình như chờ cho lịch sử viết xong thiên sử thi của dân tộc mình, rồi mới theo đó nhưng mà viết nốt phần thứ hai này. Có nhẽ vì vậy nhưng mà dù thiên về xây dựng những hình ảnh có tính biểu tượng nói chung, lời thơ vẫn âm vang những tiếng vọng của cuộc sống hào hùng của một non sông tranh đấu và thắng lợi, ơ đó, có âm vang của phong trào phát động quần chúng trong cải cách ruộng đất:

Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu

Đã bật lên những tiếng căm hờn

    Có âm vang nhịp bước vào công – nông – binh “liên minh” kháng chiến:

Khói nhà máy cuộn trong sương núi

Kèn gọi quân vang vọng cánh đồng

Ôm non sông những người áo vải

Đã đứng lên thành những người hùng

    Nhưng nếu như những biểu tượng nói chung trên đây chỉ được xây dựng bằng giác quan lịch sử, bằng sự kiện thì Non sông của Nguyễn Đình Thi đã ko làm xôn xao lòng người tới thế. Rất nhiều những biểu tượng đã kết tinh từ những kĩ niệm riêng, từ chính quan sát, trải nghiệm của một nghệ sĩ từng sống lăn lộn trong kháng chiến. Cho nên, Non sông của Nguyễn Đình Thi có nhiều khổ, nhiều dòng nhấp nhánh cái chất sống của thi sĩ và của nhân dân.

    Lúc ông viết:

Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều

Những đêm dài hành quân nung nấu

Bỗng ngay ngáy nhớ mắt người yêu

    Thì ta hiểu đó là nỗi đau chung quyện vào những nỗi đau riêng, và nỗi đau đó nung nấu thêm vì một nỗi nhớ xao xuyến chay lòng. Trong đó có kỉ niệm về một buổi chiều hành quân ở Bắc Giang: Nhìn lên đồi cao, dây thép gai đồn giặc hằn lên như cào cấu “đâm nát trời chiều”. Ráng chiều đỏ bầm lại, rãnh cày đồng quê như “chảy máu”. Những cụ thể rất thực, rất sống sít đó đã vào thơ và trở thành biểu tượng đau thương của non sông trong kháng chiến chống Pháp. Đó ko còn là hình ảnh của một thời nhưng mà là hình ảnh của mọi thời giặc giã, ko còn là hình ảnh của một vùng quê Bắc Giang nhưng mà hiển thân của mọi vùng quê, mọi non sông dưới gót giày quân xâm lược.

    Những hình ảnh đau thương quặn lòng đó sẽ còn “nung nấu” những “đêm dài hành quân” nhưng cũng từ miền đau thương sâu thẳm đó, mọc lên những ngôi sao thương nhớ nhấp nhánh, thao thức ngay ngáy. Đó là ánh mắt “người yêu” là nỗi nhớ ngay ngáy và cũng chính là sự thôi thúc, là niềm tin.

    Trong thơ Nguyễn Đình Thi, nỗi “nhớ mắt người yêu” như nhớ một ánh sao nhấp nhánh đó thường trở đi trở lại nhiều lần (Trong Bài thơ viết cạnh đồn Tây: “Nhớ em đôi mắt hay cười”, Trong Em bảo anh: “Tia lửa nơi ta bay lên cao – Trong mắt người yêu thành trời sao”, trong Nhớ: “Ngôi sao nhớ người nào nhưng mà sao nhấp nhánh – Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây”…) Nhưng đặc trưng ở “Non sông”, “Mắt người yêu” gợi một nỗi nhớ lớn lao sâu thẳm, vượt lên trên cả tình yêu lứa đôi, vượt lên trên nỗi nhớ người yêu. Bởi thứ ánh sáng bỗng dưng bừng lên trong tâm hồn đó có cả nỗi đau, nỗi nhớ, có cả buồn vui, cả tin yêu kỳ vọng, cả riêng và chung.

    Bài thơ khép lại băng một cảnh tượng hào hùng, tráng lệ:

Súng nổ rung trời tức giận

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa

    Cảnh tượng lớn lao này cũng là một biểu tượng nói chung về sự vững mạnh quật cường của non sông từ trong đau thương khó khăn. Nhưng đó là một bức tranh sống động. Cảm hứng hiện thực lấy từ thắng lợi Điện Biên Phủ: Đoàn quân “áo vải”, “đứng lên thành những người hùng” phất cao cờ thắng lợi trên nóc hầm viên tướng chiến bại Đờ Caxtơri chiều mùng 7 tháng 5 lịch sử. Cảnh tượng đó đã được nhiều nhà quay phim, chụp ảnh ghi lại, nhưng hiếm có ở đâu gợi cho ta thật nhiều ấn tượng như ở đây, có cái gì rung rinh như một cơn trở dạ lớn lao của trời đất, của lịch sử. Trước mắt ta lồng lộng, chói lòa một “Nước Việt Nam từ máu lửa – Rũ bùn đứng dậy…” Đó là cái “rũ bùn đứng dậy” của Phù Đổng Thiên Vương thời đánh Pháp.

    Non sông của Nguyễn Đình Thi là một bài thơ rực rỡ về đề tài này. Rực rỡ nhất là ở cảm hứng rất riêng về non sông của ông: Một non sông gắn liền với mùa thu, gắn liền với thú vui nỗi nhớ của con người làm chủ, một non sông thật đẹp ngay trong cảnh khó khăn đau thương. Chính thi sĩ đã từng viết:

Anh yêu em như yêu non sông

Vất vả đau thương, tươi thắm vô ngần

                          (Nhớ)

    Có nhẽ vì vậy nhưng mà giữa bao nhiêu bài thơ hay về non sông của bao nhiêu thi sĩ, người đọc vẫn ko thể quên được những câu thơ tuyệt tác của ông về phố Hà Nội, về “Những cánh đồng quê chảy máu – Dây thép gai đâm nát trời chiều” và về “Nước Việt Nam từ máu lửa – Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”.

Thông qua dàn ý và một số bài văn mẫu phân tích bài thơ Non sông của Nguyễn Đình Thi tiêu biểu được giainhat.vn tuyển chọn từ những bài viết xuất sắc của các bạn học trò. Mong rằng các em sẽ có khoảng thời kì vui vẻ và hữu ích lúc học môn Văn!

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

[rule_{ruleNumber}]

Source: giainhat.vn
Categories: Giáo dục

Viết một bình luận