Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn, chi tiết, hay nhất

Tổng hợp Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn, cụ thể, hay nhất do giainhat.vn sưu tầm và biên soạn. Qua dàn ý và các bài văn mẫu được biên soạn ngắn gọn, cụ thể, hay nhất dưới đây sẽ giúp các bạn có thêm tài liệu, các cách hành văn không giống nhau, qua đó có thể tiếp cận tác phẩm với cái nhìn đa chiều, mới mẻ hơn. Mời các bạn cùng xem!

Hướng dẫn lập dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng

1. Phân tích đề

– Yêu cầu của đề bài: phân tích nội dung, nghệ thuật của bài thơ Bài ca ngất ngưởng

– Phạm vi tư liệu, dẫn chứng : từ ngữ, cụ thể, hình ảnh,… tiêu biểu trong phạm vi bài thơ Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ.

– Phương pháp lập luận chính : phân tích.

2. Xác lập luận điểm, luận cứ

– Luận điểm 1: Ý kiến sống ngất ngưởng trên tuyến đường công danh, sự nghiệp


+ Tuyên ngôn về chí làm trai

+ Nhập thế là việc làm trói buộc nhưng là điều kiện để bộc lộ tài năng

+ Tự khẳng định tài năng và lí tưởng của mình

– Luận điểm 2: Ý kiến sống ngất ngưởng trong lối sống, suy nghĩ

+ Ngất ngưởng lúc cáo quan

+ Ngất ngưởng trong thú chơi, trong quan niệm sống, trong lối sống

– Luận điểm 3: Lời khẳng định về sự ngất ngưởng vô địch

+ Tự khẳng định mình là trung thần

+ Ngất ngưởng phải có thực danh và thực tài

Các mẫu dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn, cụ thể, hay nhất


Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng cụ thể nhất

1. Mở bài

– Đôi nét về tác giả Nguyễn Công Trứ: một nhân vật lịch sử nổi tiếng in đậm dấu ấn ko chỉ trong văn học nhưng còn trong nhiều lĩnh vực khác, thơ văn ông phản ánh nhân sinh và thế sự thâm thúy

– Bài ca ngất ngưởng là một trong số những bài hát nói tiêu biểu trình bày tài năng, chí khí và ý thức tư nhân của Nguyễn Công Trứ

2. Thân bài

a. Cảm hứng chủ đạo

– “ ngất ngưởng” : thế cao cheo leo, ko vững, nghiêng ngã.

⇒ tư thế, thái độ cách sống ngang tàng, vượt thế tục của con người.

⇒ Phong cách sống nhất quán của Nguyễn Công Trứ, Tác giả có ý thức rất rõ về tài năng và khả năng của mình, kể cả lúc làm quan, ra vào nơi triều đình và lúc đã nghỉ hưu.

b. 6 câu đầu

– “ Vũ trụ nội mạc phi phận sự”: thái độ tự tin khẳng định mọi việc trong trời đất đều là phận sự của tác giả ⇒ Tuyên ngôn về chí làm trai của thi sĩ.

– “Ông Hi Văn…vào lồng”: Coi nhập thế là việc làm trói buộc nhưng đó cũng là điều kiện để bộc lộ tài năng

– Nêu những việc mình đã làm ở chốn quan trường và tài năng của mình:

    + Tài năng: Giỏi văn học (lúc thủ khoa), Tài thao lược (thao lược)

⇒ Tài năng lỗi lạc xuất chúng: văn võ song toàn

    + Khoe danh vị, xã hội hơn người:Tham tán, Tổng đốc, Đại tướng (bình định Trấn Tây), Phủ doãn Thừa Thiên

⇒ Tự hào mình là một người tài năng lỗi lạc, danh vị vẻ vang văn hoa toàn tài.

⇒ 6 câu thơ đầu là lời từ thuật của thi sĩ lúc làm quan, khẳng định tài năng và lí tưởng phóng khoáng khác đời ngạo nghễ của một người có khả năng xuất chúng

c. 10 câu tiếp

– Cách sống theo ý chí và thị hiếu tư nhân:

    + Cưỡi bò đeo đạc ngựa.

    + Đi chùa có gót tiên theo sau.

⇒ Thị hiếu kì lạ, khác thường, thậm chí có phần bất cần và ngất ngưởng

    + Bụt cũng nực cười: trình bày hành động của tác giả là những hành động khác thường, ngược đời, đối nghịch với ý kiến của các nhà nho phong kiến.

⇒ Phong cách người nghệ sĩ mong muốn sống theo cách riêng

– Quan niệm sống:

    + “ Được mất … ngọn đông phong”: Tự tin đặt mình sánh với “thái thượng”, tức sống ung dung tự tại, ko quan tâm tới chuyện khen chê được mất của thế gian

    + “Lúc ca… lúc tùng” : tạo cảm giác cuộc sống phong phú, thú vị, từ “lúc” lặp đi lặp lại tạo cảm giác vui vẻ triền miên .

    + “ Ko …tục”: ko phải là Phật, ko phải là tiên, ko vướng tục , sống thoát tục ⇒ sống ko giống người nào, sống ngất ngưởng

⇒ Quan niệm sống kì lạ khác thường mang đậm dấu ấn riêng của tác giả

d. 3 câu cuối

    + “ Chẳng trái Nhạc.. Nghĩa vua tôi cho trọn đạo sơ chung”: Sử dụng điển cố , ví mình sánh ngang với những người nổi tiếng có sự nghiệp hiển hách như Trái Tuân, Hàn Kì, Phú Bật…

⇒ khẳng định khả năng, khẳng định tài năng sánh ngang bậc danh tướng. Tự khẳng định mình là bề tôi trung thành.

    + “Trong triều người nào ngất ngưởng như ông”: vừa hỏi vừa khẳng định vị trí đầu triều về cách sống “ngất ngưởng”

⇒ Tuyên ngôn khẳng định phong cách, sự mong muốn vượt ngoài ý kiến đạo đức Nho gia thông thường. Đối với ông, ngất ngưởng phải có thực danh và thực tài

e. Rực rỡ nghệ thuật

– Vận dụng thành công thể hát

– Giọng điệu thơ hóm hỉnh, trào phúng

– Sử dụng điển tích, điển cố

3. Kết bài

– Khẳng định những nét tiêu biểu nhất về nội dung và nghệ thuật của Bài ca ngất ngưởng

– Liên hệ trình diễn suy nghĩ bản thân

Dàn ý Phân tích Bài ca ngất ngưởng hay nhất

Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn, chi tiết, hay nhất (ngắn gọn, hay nhất) (ảnh 3)

1. Mở bài

– Giới thiệu nói chung về Nguyễn Công Trứ: là một nhà văn có tính cách “Ngông”.

– Giới thiệu chung về “Bài ca ngất ngưởng”.

2. Thân bài

a. Cảm hứng chủ đạo

– Tập trung vào từ “ngất ngưởng”

+ Tên nhan đề

+ Lặp lại bốn lần trong bài thơ

=> Nghĩa đen: chỉ sự vật ở độ cao cheo leo, ko vững, nghiêng ngả

=> Nghĩa bóng: cách sống vượt lên trên những khuôn mẫu, gò bó. Trình bày tính cách, thái độ cách sống ngang tàng của Nguyễn Công Trứ.

b. Ý kiến sống ngất ngưởng lúc làm quan (sáu câu thơ đầu)

– “Vũ trụ nội mạc phi phận sự”: Đây là quan niệm nhưng ông đã nói nhiều bài thơ, cho rằng con người sinh ra do “ý của trời đất”, nên phải có trách nhiệm, phải gánh vác việc đời (những việc trong vũ trụ đều thuộc trong phận sự của ta).

– Trong Nguyễn Công Trứ, quan niệm đó gắn liền với ý tưởng “tu, tề, trị, bình”, với chí làm trai và chủ nghĩa người hùng nhưng ông theo đuổi với tất cả lòng tin tưởng, sáng sủa trong suốt cuộc đời.

– “Ông Hi Văn…vào lồng”:

+ Hình ảnh ẩn dụ “vào lồng” => diễn tả cuộc đời làm quan, khinh thường lợi danh của Nguyễn Công Trứ => cách nhìn mới mẻ, khác thường so với nhà Nho đương thời

+ Coi nhập thế là việc làm trói buộc, làm quan sẽ mất tự do, gò bó nhưng đó cũng là điều kiện để bộc lộ tài năng, hoài bão, trọn nghĩa vua tôi.

– Nêu những việc mình đã làm ở chốn quan trường và tài năng của mình:

+ Tài năng: Giỏi văn học (lúc thủ khoa), Tài thao lược (thao lược)

=> Tài năng lỗi lạc, xuất chúng: văn võ song toàn

+ Khoe danh vị, xã hội hơn người: Tham tán, Tổng đốc, Đại tướng (bình định Trấn Tây), Phủ doãn Thừa Thiên

=> Tự hào mình là một người tài năng lỗi lạc, danh vị vẻ vang, văn hoa toàn tài.

=> Sáu câu thơ đầu là lời tự thuật tâm thành của thi sĩ lúc làm quan, khẳng định tài năng và lí tưởng trung quân, lòng tự hào về phẩm chất, năng lực và thái độ sống tài từ, phóng khoáng,  khác đời ngạo nghễ của một người có khả năng xuất chúng. Hay thái độ sống của người quân tử khả năng, kiên trì lí tưởng.

c. Quan niệm sống ngất ngưởng lúc về hưu (mười câu thơ tiếp theo)

– Cách sống theo ý chí và thị hiếu tư nhân:

+ Cưỡi bò đeo đạc ngựa.

+ Đi chùa có gót tiên theo sau.

=>  Thị hiếu kì lạ, khác thường, thậm chí có phần bất cần và ngất ngưởng

+ Bụt cũng nực cười: trình bày hành động của tác giả là những hành động khác thường, ngược đời, đối nghịch với ý kiến của các nhà nho phong kiến.

=> Phong cách người nghệ sĩ mong muốn sống theo cách riêng

– Quan niệm sống:

+ “Được mất … ngọn đông phong”: Tự tin đặt mình sánh với “thái thượng”, tức sống ung dung tự tại, ko quan tâm tới chuyện khen chê được mất của thế gian.

+ “Lúc ca… lúc tùng”: tạo cảm giác cuộc sống phong phú, thú vị, từ “lúc” lặp đi lặp lại tạo cảm giác vui vẻ triền miên.

+ “ Ko …tục”: ko phải là Phật, ko phải là tiên, ko vướng tục , sống thoát tục ⇒ sống ko giống người nào, sống ngất ngưởng.

=> Quan niệm sống kì lạ khác thường mang đậm dấu ấn riêng của tác giả

d. Quãng đời lúc cáo quan về hưu (ba câu cuối)

 + “Chẳng trái Nhạc.. Nghĩa vua tôi cho trọn đạo sơ chung”: Sử dụng điển cố, ví mình sánh ngang với những người nổi tiếng có sự nghiệp hiển hách như Trái Tuân, Hàn Kì, Phú Bật,…

 + Nguyễn Công Trứ đã tự khẳng định mình là con người trung thần, làm tròn đạo vua tôi, điều này góp phần khẳng định thêm quan niệm về chí làm trai của tác giả ở đầu bài thơ.

+ Tự hào khẳng định tài năng và công lao của mình một cách đĩnh đạc hào hùng.

+ “Trong triều người nào ngất ngưởng như ông”: vừa hỏi vừa khẳng định vị trí đầu triều về cách sống “ngất ngưởng”

=> Tuyên ngôn khẳng định phong cách, sự mong muốn vượt ngoài ý kiến đạo đức Nho gia thông thường. Đối với ông, ngất ngưởng phải có thực danh và thực tài. Vậy cái ngất ngưởng của ông ko phải tiêu cực nhưng sự khẳng định bản thân của mình, là khả năng dám sống ở đời, và một phong cách sống tài hoa tài tử.

3. Kết bài

Cảm nhận chung về bài thơ.

Dàn ý Phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn

1. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Công Trứ

– Giới thiệu bài “Bài ca ngất ngưởng”

2. Thân bài

a) Nói chung chúng: giới thiệu về hoàn cảnh sáng tác và nội dung chính bài “Bài ca ngất ngưởng”

b) Phân tích

b.1) Phân tích nhan đề bài thơ:

 “Ngất ngưởng” xuất hiện bốn lần và thường ở những vị trí then chốt của câu giống như điệp khúc của bài ca. Từ “ngất ngưởng” có nhẽ đã làm nổi trội tư tưởng, chủ đề của tác phẩm: là bài ca về sự ngất ngưởng”.

b.2) Phân tích sáu câu đầu:

– Câu thơ mở đầu “Vũ trụ nội mạc phi phận sự”: tạo giọng điệu ngang tàng, trang trọng, thích hợp với lý tưởng trang nam nhi, đó là trách nhiệm, sự tự tin vào khả năng của chính bản thân mình. Tương tự, ngay từ câu thơ mở đầu thì ý thức tư nhân đã được khẳng định.

– Câu thơ thứ hai “Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”: gây sự chú ý lúc đã xưng tên mình trong thơ, ko những thế còn tôn cao mình là “tài bộ”.  Đặt trong nền văn học trung đại vốn được coi là phi ngã thì đây là cách nói lạ mắt, trình bày ý thức về cái tôi của nhà Nho. Điều này chỉ thấy xuất hiện ở văn học cuối thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ XIX- lúc trào lưu nhân đạo xuất hiện.

– Vào lồng: nói chuyện ra làm quan bị giam hãm, mất tự do

– Điệp từ “lúc” tạo nhịp độ dồn dập, trình bày thái độ hào hứng của tác giả lúc ngẫm lại quãng thời kì làm quan.

– Với sáu câu đầu, “ngất ngưởng” chính là phong thái của một con người có tài năng và ý thức vê tài năng của bản thân mình.

 b.3) Những câu còn lại:

– Lối sống:

“Đô môn giải tổ chi niên

Đạc ngựa vàng đeo ngất ngưởng

Kìa núi nọ phau phau mây trắng

Tay kiếm cung nhưng nên dạng từ bi

Gót tiên theo lững thững một vài dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”

     Hình ảnh Nguyễn Công Trứ ngất ngưởng trên lưng bò cái như muốn giỡn mặt với cả người đời: con người đã từng bôn ba, dẹp loạn với tài thao lược giờ đây cũng lên chùa với dáng từ bi nhưng ko phải là giống với các Phật tử đương thời bởi ông lên chùa nhưng còn đưa theo nàng hầu gái. Đây ko phải là biểu thị lối sống lập dị, khác người nhưng đó là ý thức thế tục, giễu cợt lối sống xáo mòn, rập khuôn của đám hủ nho. Thế tục nhưng ông đáng ghét. Thỉnh thoảng trong cuộc sống, Nguyễn Công Trứ ko tránh khỏi những khoảnh khắc riêng tư, trầm lắng, cả những cảm nhận hư vô về cuộc đời, cái nhìn đó gửi trọn vào đám mây trắng trên đỉnh non cao.

– Quan niệm sống:

     Hai câu thơ tiếp đã gửi gắm quan niệm sống, với Nguyễn Công Trứ, chuyện “được” , “mất”, “khen”, “chê” nên phóng tâm coi nhẹ, coi trọng ngày nay, vượt lên tiêu chuẩn đạo đức lỗi thời. Hình ảnh một ông ngất ngưởng với thía độ an nhiên tự tại trước được mất của cuộc đời là hình ảnh nổi trội trong câu thơ. Nguyễn Công Trứ cũng ko nhận mình là Phật, Tiên nhưng cũng ko vướng tục, đủ tự tin để nhận mình là người tài gioirchawngr kém gì Nhạc Phi, Hàn Kì. Sau đó vẫn tâm niệm: Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ trung. Với đoạn hai, có thể thấy ngất ngưởng ở đây là con người với lối sống tự do, phóng khoáng và con người có lối sống an nhiên, tự tại luôn coi trong đạo đức.

c) Thẩm định:

– Đây là bài ca về phong cách sống của chính nhà nho, con người có tài năng, tư cách, khả năng tư nhân.

– Nghệ thuật:

Thể hát nói với lối viết tương đối tự do thích hợp với việc trình bày con người tư nhân.

3. Kết bài

   Khẳng định lại thành công của Nguyễn Công Trứ và vị trí của bài thơ.

Bài văn mẫu Phân tích Bài ca ngất ngưởng

     Nếu như thể “ngâm khúc trình bày một con người lẻ loi, đau xót đi tìm những trị giá của mình bị mất mát” thì hát nói “một thể thông dụng trong ca trù trình bày một con người tài tử thoát vòng cương tỏa, thoát sáo, thoát tục lụy, lợi danh, nắm lấy phút vui ngày nay”. Nhắc tới thể hát nói ko thể ko nhắc tới tác phẩm “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ bài thơ mang đến cho hát nói một nội dung thích hợp với tác dụng và thể loại của nó. Bài thơ trình bày cái tôi ngông của tác giả, một phong cách sống khác đời vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến trên cơ sở ý thức về tài năng và trị giá của bản thân.

     Nguyễn Công Trứ là một nhà Nho nghèo đã từng thi đỗ Hương nguyên và được bổ làm quan xong tuyến đường công danh đó ko được bằng vận, thăng trầm. Sáng tác của ông hồ hết là bằng chữ Nôm, thể loại ưa thích nhất của ông là hát nói bởi ông đã có điều kiện tham gia ca trù vốn khá tăng trưởng ở làng Cổ Đạm gần làng ông. Đề tài và nội dung trong các bài thơ hát nói của ông rất nhiều chủng loại như: tình yêu, đồng tiền, chí làm trai, sự ăn chơi hưởng lạc….

     “Bài ca ngất ngưởng” thuộc đề tài sự ăn chơi hưởng lạc, bài thơ được sáng tác 1848 là năm thi sĩ cáo quan về hưu, sống cuộc đời tự do, thoải mái. Điều đó được trình bày rõ nét qua từ “ngất ngưởng”. Theo Nguyễn Đình Chú đó là “nhằm để diễn tả một tư thế, một thái độ, một ý thức, một con người vươn lên trên thế tục, sống giữa mọi người nhưng dường như ko nhìn thấy người nào, đi giữa cuộc đời nhưng dường như chỉ biết có mình, một con người khác đời và bất chấp mọi người”.

     Sáu câu thơ đầu là lời tự thuật về cuộc đời thi thố tài năng ở chốn quan trường của tác giả với những sự kiện tiêu biểu. Mở đầu bài thơ là một câu thơ chữ Hán trình bày quan niệm, triết lí sống nhưng thi sĩ đã theo đuổi. Do cảm hứng phóng túng, làm chơi, buông thả nên hát nói được cấu tạo một cách đặc thù. Nó pha trộn lời Hán với lời Việt. Hồ hết các bài đều có một câu chữ Hán là một câu dẫn ngữ nói một tư tưởng nào đó được sẵn đặt ở đầu câu.“Vũ trụ nội mạc phi phận sự” tức là mọi việc trong vòng trời đất đều là phận sự của ta. Cho thấy sự làm chủ của con người trong vũ trụ, con người với ý thức nhập thế, trách nhiệm gánh vác việc đời. Ý thơ này đã được ông trình bày nhiều lần trong những bài thơ không giống nhau như: “Vũ trụ chức vụ nội” việc trong vũ trụ là phận sự của ta hay “Vũ trụ giai ngô phận sự” mọi việc trong vũ trụ đều thuộc phận sự của ta. Ông luôn xác định cho mình một lối sống tích cực, sống với đời và đóng góp cho đời. Ông đã chịu tác động chí làm trai của Nho giáo và kế thừa ý thức bậc tiền nhân như Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm rồi Phan Bội Châu như “Sinh vi nam tử yếu hi kì/ Há để càn khôn tự vận động”…

     Tiếp theo thi sĩ tự nói về mình điều hiếm thấy trong thơ văn trung đại. Bởi con người trong thời kỳ đó cái tôi tư nhân bị lu mờ, ít thấy tác giả xuất hiện trực tiếp do người trung đại ko coi mình là trung tâm nhưng chỉ là một bộ phận trong chỉnh thể lớn. Nhưng ở đây tác giả đã tự tin trình bày phong cách, con người riêng của mình.

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

Có lúc về Phủ doãn Thừa Thiên”.

     Hi Văn là tên hiệu của Nguyễn Công Trứ. “Tài bộ” là tài hoa. Ông tự khẳng định mình là một người “tài năng lỗi lạc xuất chúng” đã “vào lồng” tức ông coi việc làm quan trong triều bị giam hãm trong lồng gò bó, mất tự do. Thi sĩ hẳn phải là con người phóng khoáng, có chí vùng vẫy, ko hám danh hám lợi nên mới tự tin bộc lộ bản thân. Ông liệt kê các học vị, các chức quan lớn nhưng mình đã nắm giữ. Với câu văn dài ngắn không giống nhau, nhịp thơ linh hoạt cùng với cách sử dụng điệp từ “lúc” và hệ thống từ Hán Việt đã trình bày một cảm hứng tự hào, tự tin khẳng định cái tôi tư nhân của một con người tài năng.

     Phần còn lại là sự thổ lộ cách sống ngất ngưởng khác thường của thi sĩ. Lại một câu thơ chữ Hán xuất hiện “Đô môn giải tổ chi niên” ghi lại sự kiện chuyển biến trong cuộc đời thi sĩ với ý nghĩa cả câu: năm ở kinh đô cởi trả ấn để về hưu, sống một lối sống như mình mong muốn:

“Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”.

     Chỉ với bốn câu thơ nhưng tới hai lần từ “ngất ngưởng” xuất hiện phải chăng thi sĩ quá thích thú lối sống đó. Trong các câu thơ trên có sử dụng nghệ thuật đối ý tương phản. Đạc ngựa nhưng lại đeo cho bò vàng, tay kiếm cung nhưng nên dạng từ bi nhắc tới đao kiếm là con người ta nghĩ ngay tới binh đao, chém làm thịt làm sao có thể từ bi, đi vãng cảnh chùa để thoát tục nhưng “Gót tiên lững thững một vài dì”… chính sự đối lập gay gắt trong tư cách của thi sĩ tạo nên sự khác lạ của ông.

     Nguyễn Công Trứ là người có công lớn với triều đình, với nhân dân từng giúp dân trị thủy, khai hoang và lập nhiều chiến công trong việc dẹp loạn các cuộc nổi dậy chống triều đình. Ý thức được tài năng của mình ông lựa chọn cho mình một phương thức sống, một cách sống khác người. Trước tiên ông nguyện một lòng phò vua giúp nước, góp sức tài năng trí tuệ của mình “đem tất cả sở tồn làm sở dụng” (đem tất cả chí bình sinh của mình ra góp sức cho đời) với trí nam nhi của mình:

“Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây

Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể”

     Sau lúc đã hoàn thành trách trách nhiệm trên vai người trí sĩ yêu nước thương nòi, ông cho phép mình được lợi thú tiêu diêu, hành lạc với quan niệm “Cuộc đời hành lạc chơi đâu là lãi đấy”. Chính bởi vậy ông chẳng bận tâm tới chuyện được mất, khen chê ở trên đời, ông bỏ ngoài tai tất cả để toàn tâm tận hưởng thú vui của riêng mình:

“Được mất dương dương người thái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong”

     Hai câu thơ tiếp theo với cách ngắt nhịp 2/2/2/2, 2/2/3 linh hoạt, dồn dập liệt kê các thú vui của tác giả, tạo cho câu thơ phong phú về âm điệu, nhạc điệu:

“Lúc ca, lúc tửu, lúc cắc, lúc tùng

Ko phật, ko tiên, ko vướng tục”

     Điệp từ “lúc” và ba từ “ko” liên tục lặp lại cho thấy một tâm hồn tự do, phóng khoáng ko vướng bận thế tục, ko vướng việc đời, một phong thái ung dung, tự tại. Nguyễn Công Trứ đang tiêu diêu tận hưởng những tháng ngày của một kẻ sĩ tài hoa, tài tử: “Ngoài vòng cương tỏa chân cao thấp/ Trong thú yên hà mặt tỉnh say”

     Cuối cùng thi sĩ đúc kết lại toàn thể cuộc đời mình bằng ba câu thơ với sự khẳng định cứng ngắc tài năng và phẩm chất của bản thân:

“Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

Trong triều người nào ngất ngưởng như ông”

     Thi sĩ đã tự xếp mình ngang hàng với các vị danh tướng lỗi lạc của đời Hán, đời Tống bên Trung Hoa. Trái, Nhạc, Hàn, Phú là Trái Tuân, Hàn Phi, Hàn Kì, Phú Bật. Ông tự định vị, tự ý thức được tài đức của mình. Ông rong chơi cho thỏa chí của mình nhưng vẫn vẹn đạo vua tôi. Thật đúng như nhận xét của Trần Đình Sử về Nguyễn Công Trứ “Nhập thế tục nhưng ko vướng tục, rong chơi nhưng vẫn trọn nghĩa vua tôi”. Kết thúc bài hát tác giả tự xưng bằng một tiếng “ông” hào hùng. Cái tôi tư nhân được phô diễn tột bực, tự tin khẳng định trong triều chẳng có người nào được như ông.

     “Bài ca ngất ngưởng” với văn pháp nghệ thuật rực rỡ sử dụng các điệp từ, câu cảm thán làm cho ngữ điệu nói bộc lộ rõ, nó làm cho tính chủ thể của lời văn nhất quán và xuất hiện giọng điệu khẳng khái ngang tàn, ngạo thử thách. Sử dụng tiếng thô, tiếng lóng trong sinh hoạt hàng ngày tạo ra giọng nói sống động pha tạp vừa thanh vừa tục. Trong một bài thơ tính cả nhan đề có tới năm lần thi sĩ dùng từ “ngất ngưởng” trình bày phong cách ngông của ông.

     Bài thơ đã khắc họa chân dung của cụ Nguyễn Công Trứ một con người tài giỏi, lỗi lạc vừa làm trọn phận bề tôi, vừa thỏa chí của bản thân mình. Bài thơ đã góp phần làm cho thể thơ hát nói được trình bày đúng với cấu trúc, tác dụng của mình.

Thông qua dàn ý và một số bài văn mẫu Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn, cụ thể, hay nhất tiêu biểu được giainhat.vn tuyển chọn từ những bài viết xuất sắc của các bạn học trò. Mong rằng các em sẽ có khoảng thời kì vui vẻ và hữu ích lúc học môn Văn!

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

Hình Ảnh về: Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn, cụ thể, hay nhất

Video về: Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn, cụ thể, hay nhất

Wiki về Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn, cụ thể, hay nhất

Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn, cụ thể, hay nhất -

Tổng hợp Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn, cụ thể, hay nhất do giainhat.vn sưu tầm và biên soạn. Qua dàn ý và các bài văn mẫu được biên soạn ngắn gọn, cụ thể, hay nhất dưới đây sẽ giúp các bạn có thêm tài liệu, các cách hành văn không giống nhau, qua đó có thể tiếp cận tác phẩm với cái nhìn đa chiều, mới mẻ hơn. Mời các bạn cùng xem!

Hướng dẫn lập dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng

1. Phân tích đề

– Yêu cầu của đề bài: phân tích nội dung, nghệ thuật của bài thơ Bài ca ngất ngưởng

– Phạm vi tư liệu, dẫn chứng : từ ngữ, cụ thể, hình ảnh,… tiêu biểu trong phạm vi bài thơ Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ.

– Phương pháp lập luận chính : phân tích.

2. Xác lập luận điểm, luận cứ

– Luận điểm 1: Ý kiến sống ngất ngưởng trên tuyến đường công danh, sự nghiệp


+ Tuyên ngôn về chí làm trai

+ Nhập thế là việc làm trói buộc nhưng là điều kiện để bộc lộ tài năng

+ Tự khẳng định tài năng và lí tưởng của mình

– Luận điểm 2: Ý kiến sống ngất ngưởng trong lối sống, suy nghĩ

+ Ngất ngưởng lúc cáo quan

+ Ngất ngưởng trong thú chơi, trong quan niệm sống, trong lối sống

– Luận điểm 3: Lời khẳng định về sự ngất ngưởng vô địch

+ Tự khẳng định mình là trung thần

+ Ngất ngưởng phải có thực danh và thực tài

Các mẫu dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn, cụ thể, hay nhất


Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng cụ thể nhất

1. Mở bài

– Đôi nét về tác giả Nguyễn Công Trứ: một nhân vật lịch sử nổi tiếng in đậm dấu ấn ko chỉ trong văn học nhưng còn trong nhiều lĩnh vực khác, thơ văn ông phản ánh nhân sinh và thế sự thâm thúy

– Bài ca ngất ngưởng là một trong số những bài hát nói tiêu biểu trình bày tài năng, chí khí và ý thức tư nhân của Nguyễn Công Trứ

2. Thân bài

a. Cảm hứng chủ đạo

– “ ngất ngưởng” : thế cao cheo leo, ko vững, nghiêng ngã.

⇒ tư thế, thái độ cách sống ngang tàng, vượt thế tục của con người.

⇒ Phong cách sống nhất quán của Nguyễn Công Trứ, Tác giả có ý thức rất rõ về tài năng và khả năng của mình, kể cả lúc làm quan, ra vào nơi triều đình và lúc đã nghỉ hưu.

b. 6 câu đầu

– “ Vũ trụ nội mạc phi phận sự”: thái độ tự tin khẳng định mọi việc trong trời đất đều là phận sự của tác giả ⇒ Tuyên ngôn về chí làm trai của thi sĩ.

– “Ông Hi Văn…vào lồng”: Coi nhập thế là việc làm trói buộc nhưng đó cũng là điều kiện để bộc lộ tài năng

– Nêu những việc mình đã làm ở chốn quan trường và tài năng của mình:

    + Tài năng: Giỏi văn học (lúc thủ khoa), Tài thao lược (thao lược)

⇒ Tài năng lỗi lạc xuất chúng: văn võ song toàn

    + Khoe danh vị, xã hội hơn người:Tham tán, Tổng đốc, Đại tướng (bình định Trấn Tây), Phủ doãn Thừa Thiên

⇒ Tự hào mình là một người tài năng lỗi lạc, danh vị vẻ vang văn hoa toàn tài.

⇒ 6 câu thơ đầu là lời từ thuật của thi sĩ lúc làm quan, khẳng định tài năng và lí tưởng phóng khoáng khác đời ngạo nghễ của một người có khả năng xuất chúng

c. 10 câu tiếp

– Cách sống theo ý chí và thị hiếu tư nhân:

    + Cưỡi bò đeo đạc ngựa.

    + Đi chùa có gót tiên theo sau.

⇒ Thị hiếu kì lạ, khác thường, thậm chí có phần bất cần và ngất ngưởng

    + Bụt cũng nực cười: trình bày hành động của tác giả là những hành động khác thường, ngược đời, đối nghịch với ý kiến của các nhà nho phong kiến.

⇒ Phong cách người nghệ sĩ mong muốn sống theo cách riêng

– Quan niệm sống:

    + “ Được mất … ngọn đông phong”: Tự tin đặt mình sánh với “thái thượng”, tức sống ung dung tự tại, ko quan tâm tới chuyện khen chê được mất của thế gian

    + “Lúc ca… lúc tùng” : tạo cảm giác cuộc sống phong phú, thú vị, từ “lúc” lặp đi lặp lại tạo cảm giác vui vẻ triền miên .

    + “ Ko …tục”: ko phải là Phật, ko phải là tiên, ko vướng tục , sống thoát tục ⇒ sống ko giống người nào, sống ngất ngưởng

⇒ Quan niệm sống kì lạ khác thường mang đậm dấu ấn riêng của tác giả

d. 3 câu cuối

    + “ Chẳng trái Nhạc.. Nghĩa vua tôi cho trọn đạo sơ chung”: Sử dụng điển cố , ví mình sánh ngang với những người nổi tiếng có sự nghiệp hiển hách như Trái Tuân, Hàn Kì, Phú Bật…

⇒ khẳng định khả năng, khẳng định tài năng sánh ngang bậc danh tướng. Tự khẳng định mình là bề tôi trung thành.

    + “Trong triều người nào ngất ngưởng như ông”: vừa hỏi vừa khẳng định vị trí đầu triều về cách sống “ngất ngưởng”

⇒ Tuyên ngôn khẳng định phong cách, sự mong muốn vượt ngoài ý kiến đạo đức Nho gia thông thường. Đối với ông, ngất ngưởng phải có thực danh và thực tài

e. Rực rỡ nghệ thuật

– Vận dụng thành công thể hát

– Giọng điệu thơ hóm hỉnh, trào phúng

– Sử dụng điển tích, điển cố

3. Kết bài

– Khẳng định những nét tiêu biểu nhất về nội dung và nghệ thuật của Bài ca ngất ngưởng

– Liên hệ trình diễn suy nghĩ bản thân

Dàn ý Phân tích Bài ca ngất ngưởng hay nhất

Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn, chi tiết, hay nhất (ngắn gọn, hay nhất) (ảnh 3)

1. Mở bài

– Giới thiệu nói chung về Nguyễn Công Trứ: là một nhà văn có tính cách “Ngông”.

– Giới thiệu chung về “Bài ca ngất ngưởng”.

2. Thân bài

a. Cảm hứng chủ đạo

– Tập trung vào từ “ngất ngưởng”

+ Tên nhan đề

+ Lặp lại bốn lần trong bài thơ

=> Nghĩa đen: chỉ sự vật ở độ cao cheo leo, ko vững, nghiêng ngả

=> Nghĩa bóng: cách sống vượt lên trên những khuôn mẫu, gò bó. Trình bày tính cách, thái độ cách sống ngang tàng của Nguyễn Công Trứ.

b. Ý kiến sống ngất ngưởng lúc làm quan (sáu câu thơ đầu)

– “Vũ trụ nội mạc phi phận sự”: Đây là quan niệm nhưng ông đã nói nhiều bài thơ, cho rằng con người sinh ra do “ý của trời đất”, nên phải có trách nhiệm, phải gánh vác việc đời (những việc trong vũ trụ đều thuộc trong phận sự của ta).

– Trong Nguyễn Công Trứ, quan niệm đó gắn liền với ý tưởng “tu, tề, trị, bình”, với chí làm trai và chủ nghĩa người hùng nhưng ông theo đuổi với tất cả lòng tin tưởng, sáng sủa trong suốt cuộc đời.

– “Ông Hi Văn…vào lồng”:

+ Hình ảnh ẩn dụ “vào lồng” => diễn tả cuộc đời làm quan, khinh thường lợi danh của Nguyễn Công Trứ => cách nhìn mới mẻ, khác thường so với nhà Nho đương thời

+ Coi nhập thế là việc làm trói buộc, làm quan sẽ mất tự do, gò bó nhưng đó cũng là điều kiện để bộc lộ tài năng, hoài bão, trọn nghĩa vua tôi.

– Nêu những việc mình đã làm ở chốn quan trường và tài năng của mình:

+ Tài năng: Giỏi văn học (lúc thủ khoa), Tài thao lược (thao lược)

=> Tài năng lỗi lạc, xuất chúng: văn võ song toàn

+ Khoe danh vị, xã hội hơn người: Tham tán, Tổng đốc, Đại tướng (bình định Trấn Tây), Phủ doãn Thừa Thiên

=> Tự hào mình là một người tài năng lỗi lạc, danh vị vẻ vang, văn hoa toàn tài.

=> Sáu câu thơ đầu là lời tự thuật tâm thành của thi sĩ lúc làm quan, khẳng định tài năng và lí tưởng trung quân, lòng tự hào về phẩm chất, năng lực và thái độ sống tài từ, phóng khoáng,  khác đời ngạo nghễ của một người có khả năng xuất chúng. Hay thái độ sống của người quân tử khả năng, kiên trì lí tưởng.

c. Quan niệm sống ngất ngưởng lúc về hưu (mười câu thơ tiếp theo)

– Cách sống theo ý chí và thị hiếu tư nhân:

+ Cưỡi bò đeo đạc ngựa.

+ Đi chùa có gót tiên theo sau.

=>  Thị hiếu kì lạ, khác thường, thậm chí có phần bất cần và ngất ngưởng

+ Bụt cũng nực cười: trình bày hành động của tác giả là những hành động khác thường, ngược đời, đối nghịch với ý kiến của các nhà nho phong kiến.

=> Phong cách người nghệ sĩ mong muốn sống theo cách riêng

– Quan niệm sống:

+ “Được mất … ngọn đông phong”: Tự tin đặt mình sánh với “thái thượng”, tức sống ung dung tự tại, ko quan tâm tới chuyện khen chê được mất của thế gian.

+ “Lúc ca… lúc tùng”: tạo cảm giác cuộc sống phong phú, thú vị, từ “lúc” lặp đi lặp lại tạo cảm giác vui vẻ triền miên.

+ “ Ko …tục”: ko phải là Phật, ko phải là tiên, ko vướng tục , sống thoát tục ⇒ sống ko giống người nào, sống ngất ngưởng.

=> Quan niệm sống kì lạ khác thường mang đậm dấu ấn riêng của tác giả

d. Quãng đời lúc cáo quan về hưu (ba câu cuối)

 + “Chẳng trái Nhạc.. Nghĩa vua tôi cho trọn đạo sơ chung”: Sử dụng điển cố, ví mình sánh ngang với những người nổi tiếng có sự nghiệp hiển hách như Trái Tuân, Hàn Kì, Phú Bật,…

 + Nguyễn Công Trứ đã tự khẳng định mình là con người trung thần, làm tròn đạo vua tôi, điều này góp phần khẳng định thêm quan niệm về chí làm trai của tác giả ở đầu bài thơ.

+ Tự hào khẳng định tài năng và công lao của mình một cách đĩnh đạc hào hùng.

+ “Trong triều người nào ngất ngưởng như ông”: vừa hỏi vừa khẳng định vị trí đầu triều về cách sống “ngất ngưởng”

=> Tuyên ngôn khẳng định phong cách, sự mong muốn vượt ngoài ý kiến đạo đức Nho gia thông thường. Đối với ông, ngất ngưởng phải có thực danh và thực tài. Vậy cái ngất ngưởng của ông ko phải tiêu cực nhưng sự khẳng định bản thân của mình, là khả năng dám sống ở đời, và một phong cách sống tài hoa tài tử.

3. Kết bài

Cảm nhận chung về bài thơ.

Dàn ý Phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn

1. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Công Trứ

– Giới thiệu bài “Bài ca ngất ngưởng”

2. Thân bài

a) Nói chung chúng: giới thiệu về hoàn cảnh sáng tác và nội dung chính bài “Bài ca ngất ngưởng”

b) Phân tích

b.1) Phân tích nhan đề bài thơ:

 “Ngất ngưởng” xuất hiện bốn lần và thường ở những vị trí then chốt của câu giống như điệp khúc của bài ca. Từ “ngất ngưởng” có nhẽ đã làm nổi trội tư tưởng, chủ đề của tác phẩm: là bài ca về sự ngất ngưởng”.

b.2) Phân tích sáu câu đầu:

– Câu thơ mở đầu “Vũ trụ nội mạc phi phận sự”: tạo giọng điệu ngang tàng, trang trọng, thích hợp với lý tưởng trang nam nhi, đó là trách nhiệm, sự tự tin vào khả năng của chính bản thân mình. Tương tự, ngay từ câu thơ mở đầu thì ý thức tư nhân đã được khẳng định.

– Câu thơ thứ hai “Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”: gây sự chú ý lúc đã xưng tên mình trong thơ, ko những thế còn tôn cao mình là “tài bộ”.  Đặt trong nền văn học trung đại vốn được coi là phi ngã thì đây là cách nói lạ mắt, trình bày ý thức về cái tôi của nhà Nho. Điều này chỉ thấy xuất hiện ở văn học cuối thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ XIX- lúc trào lưu nhân đạo xuất hiện.

– Vào lồng: nói chuyện ra làm quan bị giam hãm, mất tự do

– Điệp từ “lúc” tạo nhịp độ dồn dập, trình bày thái độ hào hứng của tác giả lúc ngẫm lại quãng thời kì làm quan.

– Với sáu câu đầu, “ngất ngưởng” chính là phong thái của một con người có tài năng và ý thức vê tài năng của bản thân mình.

 b.3) Những câu còn lại:

– Lối sống:

“Đô môn giải tổ chi niên

Đạc ngựa vàng đeo ngất ngưởng

Kìa núi nọ phau phau mây trắng

Tay kiếm cung nhưng nên dạng từ bi

Gót tiên theo lững thững một vài dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”

     Hình ảnh Nguyễn Công Trứ ngất ngưởng trên lưng bò cái như muốn giỡn mặt với cả người đời: con người đã từng bôn ba, dẹp loạn với tài thao lược giờ đây cũng lên chùa với dáng từ bi nhưng ko phải là giống với các Phật tử đương thời bởi ông lên chùa nhưng còn đưa theo nàng hầu gái. Đây ko phải là biểu thị lối sống lập dị, khác người nhưng đó là ý thức thế tục, giễu cợt lối sống xáo mòn, rập khuôn của đám hủ nho. Thế tục nhưng ông đáng ghét. Thỉnh thoảng trong cuộc sống, Nguyễn Công Trứ ko tránh khỏi những khoảnh khắc riêng tư, trầm lắng, cả những cảm nhận hư vô về cuộc đời, cái nhìn đó gửi trọn vào đám mây trắng trên đỉnh non cao.

– Quan niệm sống:

     Hai câu thơ tiếp đã gửi gắm quan niệm sống, với Nguyễn Công Trứ, chuyện “được” , “mất”, “khen”, “chê” nên phóng tâm coi nhẹ, coi trọng ngày nay, vượt lên tiêu chuẩn đạo đức lỗi thời. Hình ảnh một ông ngất ngưởng với thía độ an nhiên tự tại trước được mất của cuộc đời là hình ảnh nổi trội trong câu thơ. Nguyễn Công Trứ cũng ko nhận mình là Phật, Tiên nhưng cũng ko vướng tục, đủ tự tin để nhận mình là người tài gioirchawngr kém gì Nhạc Phi, Hàn Kì. Sau đó vẫn tâm niệm: Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ trung. Với đoạn hai, có thể thấy ngất ngưởng ở đây là con người với lối sống tự do, phóng khoáng và con người có lối sống an nhiên, tự tại luôn coi trong đạo đức.

c) Thẩm định:

– Đây là bài ca về phong cách sống của chính nhà nho, con người có tài năng, tư cách, khả năng tư nhân.

– Nghệ thuật:

Thể hát nói với lối viết tương đối tự do thích hợp với việc trình bày con người tư nhân.

3. Kết bài

   Khẳng định lại thành công của Nguyễn Công Trứ và vị trí của bài thơ.

Bài văn mẫu Phân tích Bài ca ngất ngưởng

     Nếu như thể “ngâm khúc trình bày một con người lẻ loi, đau xót đi tìm những trị giá của mình bị mất mát” thì hát nói “một thể thông dụng trong ca trù trình bày một con người tài tử thoát vòng cương tỏa, thoát sáo, thoát tục lụy, lợi danh, nắm lấy phút vui ngày nay”. Nhắc tới thể hát nói ko thể ko nhắc tới tác phẩm “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ bài thơ mang đến cho hát nói một nội dung thích hợp với tác dụng và thể loại của nó. Bài thơ trình bày cái tôi ngông của tác giả, một phong cách sống khác đời vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến trên cơ sở ý thức về tài năng và trị giá của bản thân.

     Nguyễn Công Trứ là một nhà Nho nghèo đã từng thi đỗ Hương nguyên và được bổ làm quan xong tuyến đường công danh đó ko được bằng vận, thăng trầm. Sáng tác của ông hồ hết là bằng chữ Nôm, thể loại ưa thích nhất của ông là hát nói bởi ông đã có điều kiện tham gia ca trù vốn khá tăng trưởng ở làng Cổ Đạm gần làng ông. Đề tài và nội dung trong các bài thơ hát nói của ông rất nhiều chủng loại như: tình yêu, đồng tiền, chí làm trai, sự ăn chơi hưởng lạc….

     “Bài ca ngất ngưởng” thuộc đề tài sự ăn chơi hưởng lạc, bài thơ được sáng tác 1848 là năm thi sĩ cáo quan về hưu, sống cuộc đời tự do, thoải mái. Điều đó được trình bày rõ nét qua từ “ngất ngưởng”. Theo Nguyễn Đình Chú đó là “nhằm để diễn tả một tư thế, một thái độ, một ý thức, một con người vươn lên trên thế tục, sống giữa mọi người nhưng dường như ko nhìn thấy người nào, đi giữa cuộc đời nhưng dường như chỉ biết có mình, một con người khác đời và bất chấp mọi người”.

     Sáu câu thơ đầu là lời tự thuật về cuộc đời thi thố tài năng ở chốn quan trường của tác giả với những sự kiện tiêu biểu. Mở đầu bài thơ là một câu thơ chữ Hán trình bày quan niệm, triết lí sống nhưng thi sĩ đã theo đuổi. Do cảm hứng phóng túng, làm chơi, buông thả nên hát nói được cấu tạo một cách đặc thù. Nó pha trộn lời Hán với lời Việt. Hồ hết các bài đều có một câu chữ Hán là một câu dẫn ngữ nói một tư tưởng nào đó được sẵn đặt ở đầu câu.“Vũ trụ nội mạc phi phận sự” tức là mọi việc trong vòng trời đất đều là phận sự của ta. Cho thấy sự làm chủ của con người trong vũ trụ, con người với ý thức nhập thế, trách nhiệm gánh vác việc đời. Ý thơ này đã được ông trình bày nhiều lần trong những bài thơ không giống nhau như: “Vũ trụ chức vụ nội” việc trong vũ trụ là phận sự của ta hay “Vũ trụ giai ngô phận sự” mọi việc trong vũ trụ đều thuộc phận sự của ta. Ông luôn xác định cho mình một lối sống tích cực, sống với đời và đóng góp cho đời. Ông đã chịu tác động chí làm trai của Nho giáo và kế thừa ý thức bậc tiền nhân như Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm rồi Phan Bội Châu như “Sinh vi nam tử yếu hi kì/ Há để càn khôn tự vận động”…

     Tiếp theo thi sĩ tự nói về mình điều hiếm thấy trong thơ văn trung đại. Bởi con người trong thời kỳ đó cái tôi tư nhân bị lu mờ, ít thấy tác giả xuất hiện trực tiếp do người trung đại ko coi mình là trung tâm nhưng chỉ là một bộ phận trong chỉnh thể lớn. Nhưng ở đây tác giả đã tự tin trình bày phong cách, con người riêng của mình.

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

Có lúc về Phủ doãn Thừa Thiên”.

     Hi Văn là tên hiệu của Nguyễn Công Trứ. “Tài bộ” là tài hoa. Ông tự khẳng định mình là một người “tài năng lỗi lạc xuất chúng” đã “vào lồng” tức ông coi việc làm quan trong triều bị giam hãm trong lồng gò bó, mất tự do. Thi sĩ hẳn phải là con người phóng khoáng, có chí vùng vẫy, ko hám danh hám lợi nên mới tự tin bộc lộ bản thân. Ông liệt kê các học vị, các chức quan lớn nhưng mình đã nắm giữ. Với câu văn dài ngắn không giống nhau, nhịp thơ linh hoạt cùng với cách sử dụng điệp từ “lúc” và hệ thống từ Hán Việt đã trình bày một cảm hứng tự hào, tự tin khẳng định cái tôi tư nhân của một con người tài năng.

     Phần còn lại là sự thổ lộ cách sống ngất ngưởng khác thường của thi sĩ. Lại một câu thơ chữ Hán xuất hiện “Đô môn giải tổ chi niên” ghi lại sự kiện chuyển biến trong cuộc đời thi sĩ với ý nghĩa cả câu: năm ở kinh đô cởi trả ấn để về hưu, sống một lối sống như mình mong muốn:

“Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”.

     Chỉ với bốn câu thơ nhưng tới hai lần từ “ngất ngưởng” xuất hiện phải chăng thi sĩ quá thích thú lối sống đó. Trong các câu thơ trên có sử dụng nghệ thuật đối ý tương phản. Đạc ngựa nhưng lại đeo cho bò vàng, tay kiếm cung nhưng nên dạng từ bi nhắc tới đao kiếm là con người ta nghĩ ngay tới binh đao, chém làm thịt làm sao có thể từ bi, đi vãng cảnh chùa để thoát tục nhưng “Gót tiên lững thững một vài dì”… chính sự đối lập gay gắt trong tư cách của thi sĩ tạo nên sự khác lạ của ông.

     Nguyễn Công Trứ là người có công lớn với triều đình, với nhân dân từng giúp dân trị thủy, khai hoang và lập nhiều chiến công trong việc dẹp loạn các cuộc nổi dậy chống triều đình. Ý thức được tài năng của mình ông lựa chọn cho mình một phương thức sống, một cách sống khác người. Trước tiên ông nguyện một lòng phò vua giúp nước, góp sức tài năng trí tuệ của mình “đem tất cả sở tồn làm sở dụng” (đem tất cả chí bình sinh của mình ra góp sức cho đời) với trí nam nhi của mình:

“Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây

Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể”

     Sau lúc đã hoàn thành trách trách nhiệm trên vai người trí sĩ yêu nước thương nòi, ông cho phép mình được lợi thú tiêu diêu, hành lạc với quan niệm “Cuộc đời hành lạc chơi đâu là lãi đấy”. Chính bởi vậy ông chẳng bận tâm tới chuyện được mất, khen chê ở trên đời, ông bỏ ngoài tai tất cả để toàn tâm tận hưởng thú vui của riêng mình:

“Được mất dương dương người thái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong”

     Hai câu thơ tiếp theo với cách ngắt nhịp 2/2/2/2, 2/2/3 linh hoạt, dồn dập liệt kê các thú vui của tác giả, tạo cho câu thơ phong phú về âm điệu, nhạc điệu:

“Lúc ca, lúc tửu, lúc cắc, lúc tùng

Ko phật, ko tiên, ko vướng tục”

     Điệp từ “lúc” và ba từ “ko” liên tục lặp lại cho thấy một tâm hồn tự do, phóng khoáng ko vướng bận thế tục, ko vướng việc đời, một phong thái ung dung, tự tại. Nguyễn Công Trứ đang tiêu diêu tận hưởng những tháng ngày của một kẻ sĩ tài hoa, tài tử: “Ngoài vòng cương tỏa chân cao thấp/ Trong thú yên hà mặt tỉnh say”

     Cuối cùng thi sĩ đúc kết lại toàn thể cuộc đời mình bằng ba câu thơ với sự khẳng định cứng ngắc tài năng và phẩm chất của bản thân:

“Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

Trong triều người nào ngất ngưởng như ông”

     Thi sĩ đã tự xếp mình ngang hàng với các vị danh tướng lỗi lạc của đời Hán, đời Tống bên Trung Hoa. Trái, Nhạc, Hàn, Phú là Trái Tuân, Hàn Phi, Hàn Kì, Phú Bật. Ông tự định vị, tự ý thức được tài đức của mình. Ông rong chơi cho thỏa chí của mình nhưng vẫn vẹn đạo vua tôi. Thật đúng như nhận xét của Trần Đình Sử về Nguyễn Công Trứ “Nhập thế tục nhưng ko vướng tục, rong chơi nhưng vẫn trọn nghĩa vua tôi”. Kết thúc bài hát tác giả tự xưng bằng một tiếng “ông” hào hùng. Cái tôi tư nhân được phô diễn tột bực, tự tin khẳng định trong triều chẳng có người nào được như ông.

     “Bài ca ngất ngưởng” với văn pháp nghệ thuật rực rỡ sử dụng các điệp từ, câu cảm thán làm cho ngữ điệu nói bộc lộ rõ, nó làm cho tính chủ thể của lời văn nhất quán và xuất hiện giọng điệu khẳng khái ngang tàn, ngạo thử thách. Sử dụng tiếng thô, tiếng lóng trong sinh hoạt hàng ngày tạo ra giọng nói sống động pha tạp vừa thanh vừa tục. Trong một bài thơ tính cả nhan đề có tới năm lần thi sĩ dùng từ “ngất ngưởng” trình bày phong cách ngông của ông.

     Bài thơ đã khắc họa chân dung của cụ Nguyễn Công Trứ một con người tài giỏi, lỗi lạc vừa làm trọn phận bề tôi, vừa thỏa chí của bản thân mình. Bài thơ đã góp phần làm cho thể thơ hát nói được trình bày đúng với cấu trúc, tác dụng của mình.

Thông qua dàn ý và một số bài văn mẫu Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn, cụ thể, hay nhất tiêu biểu được giainhat.vn tuyển chọn từ những bài viết xuất sắc của các bạn học trò. Mong rằng các em sẽ có khoảng thời kì vui vẻ và hữu ích lúc học môn Văn!

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

[rule_{ruleNumber}]

Source: giainhat.vn
Categories: Giáo dục

Viết một bình luận