Dàn ý cảm nhận bài thơ Vịnh khoa thi Hương

Hướng dẫn lập Dàn ý cảm nhận bài thơ Vịnh khoa thi Hương ngắn gọn, cụ thể, hay nhất. Với các bài dàn ý và văn mẫu được tổng hợp và biên soạn dưới đây, các em sẽ có thêm nhiều tài liệu hữu ích phục vụ cho việc học môn văn. Cùng tham khảo nhé! 

Dàn ý cảm nhận bài thơ Vịnh khoa thi Hương – Mẫu 1

1. Mở bài:

– Giới thiệu nói chung về thi sĩ Trần Tế Xương (hay còn gọi là Tú Xương): là một thi sĩ tài hoa, nổi tiếng với nhiều bài thơ tròa phúng châm biếm rực rỡ.

– Giới thiệu nói chung bài thơ Vịnh khoa thi Hương.

2. Thân bài:


a. Hai câu đề

– Nói về sự kiện: theo lệ thường thời phong kiến cứ ba năm có một khoa thi Hương => Sự kiện tưởng như ko có gì đặc trưng, chỉ có tính chất như một thông báo một thông tin phổ biến.

– Sử dụng từ “lẫn”: trình bày sự ô hợp, hỗn tạp của kì thi này. Đây chính là điều thất thường của kì thi.

=> Hai câu đề với kiểu câu tự sự có tính chất kể lại kì thi với tất cả sự ô hợp, hỗn tạp, thiếu nghiêm túc trong buổi giao thời.

b. Hai câu thực

– Hình ảnh:

     + Sĩ tử: luộm thuộm, vai đeo lọ -> dáng vẻ luộm thuộm, nhếch nhác.

     + Quan trường: ậm ọe, mồm thét loa -> ra oai, nạt nộ nhưng đó là cái oai cố tạo, giả vờ.

– Nghệ thuật:

     + Sử dụng từ láy tượng thanh và tượng hình: ậm ọe, luộm thuộm.

     + Đối: luộm thuộm sĩ tử >

     + Đảo ngữ: Đảo trật tự cú pháp “luộm thuộm sĩ tử”, “ậm ọe quan trường”.

=> Sự láo nháo, lộn xộn, ô hợp của trường thi, mặc dù đây là một kì thi Hương quan trong của nhà nước.

=> Cảnh trường thi phản ánh sự suy vong của một nền học vấn, sự lỗi thời của đạo Nho.

c. Hai câu luận

– Hình ảnh:

     + Quan sứ: Viên quan người Pháp đứng đầu bộ máy cái trị của tỉnh Nam Định được tiếp đón trọng thể.

     + Mụ đầm: vợ quan sứ, ăn mặc diêm dúa, điệu đà.

=> Sự phô trương, hình thức, ko đúng nghi lễ của một kì thi.

– Nghệ thuật đối: Lọng >

=> Tất cả báo hiệu về một sự sa sút về chất lượng thi cử, thực chất của xã hội thực dân phong kiến.

d. Hai cấu kết

– Tâm trạng thái độ của tác giả trước cảnh tượng trường thi: Ngao ngán, xót xa trước sự sa sút của quốc gia. Thái độ mỉa mai, phẫn uất của thi sĩ với cơ chế thi cử đương thời và đối với trục đường khoa cử của riêng ông.

– Hai câu cuối như một lời nhắn nhủ các sĩ tử về nỗi nhục mất nước. Thi sĩ hỏi người nhưng cũng chính là hỏi mình.

3. Kết bài:

Cảm nhận chung về bài thơ.

Dàn ý cảm nhận bài thơ Vịnh khoa thi hương – Mẫu 2


1. Mở Bài

– Giới thiệu về bài thơ

+ Là một trong mười ba bài thuộc đề tài “thi cử”

+ Mượn hình ảnh thi cử để nói về tình cảnh quốc gia, bộc lộ tâm tư của mình.

2. Thân Bài

– Nội dung bài thơ: Bức tranh một kì thi Hương cuối triều Nguyễn với sự nhố nhăng, nhốn nháo, ô hợp với sự giám sát của bọn thực dân Pháp.

– Hai câu đầu: Giới thiệu về trường thi

+ Mở đầu bằng đặc điểm thường thấy trong quy cách thi cử xưa nay. Nhà nước mở khoa thi ba năm một lần

+ Điều thất thường: Trường Nam thi lẫn với trường Hà

· Trường Nam: Trường thi ở Nam Định, trường Hà: Trường thi ở Hà Nội

· Lý do: Thực dân Pháp xâm chiếm Hà Nội, trường thi ở Hà Nội bị huỷ bỏ => Sĩ tử hai trường phải thi chung một vị trí.

+ “Lẫn”: chỉ sự nhốn nháo, ô hợp với sự trang trọng của kì thi hương.

– Hai câu thực: Quang cảnh trường thi:

+ Quang cảnh nhốn nháo, sĩ tử, quan trường lộn lạo với nhau

+ “Sĩ tử”: Người đi thi, phải trang trọng, nho nhã nhưng đây lại “luộm thuộm”

· “Luộm thuộm”: Chỉ sự nhếch nhác, luộm thuộm

→ Đảo lên đầu câu để nhấn mạnh hình ảnh đám sĩ tử

· “Lọ”: chỉ lọ mực hoặc lọ đựng nước, lại phải đeo trên vai: sự xô lệch, gãy đổ, lốc thốc

–> Trụ cột của nước nhà nhưng trông thật nhếch nhác, xiêu vẹo. Kẻ sĩ ko giữ được phong thái của chính mình.

+ “Quan trường”: Những vị quan coi thi

· Mồm thét loa

· “Ậm ọe”: Thông minh của Tú Xương, chỉ âm thanh ko rõ, ú ớ, được gân lên => Sự phách lối của đám quan lại tay sai

=> Đám quan lại mất đi cái phong thái tôn kính, nghiêm trang của kẻ làm quan

=> Hai câu thơ đối song song, cho thấy quang cảnh của trường thi thật hỗn tạp giống tình cảnh của quốc gia lúc bấy giờ.

– Hai câu tiếp: Cảnh đón rước quan sứ và phu nhân

+ “Ông Tây bà đầm”: Phản ánh thực tại của quốc gia đang bị nắm bởi bọn thực dân.

+ Kẻ cướp nước lại được đón rước trang trọng, kính cẩn

+ Đặt vế đối song song “lọng – váy”: thái độ mỉa mai

+ Gọi “quan sứ” nhưng lại gọi “mụ đầm: Thái độ khinh bỉ, châm biếm (mụ: chỉ những người phụ nữ ko ra gì)

=> Tiếng cười sâu cay, cười trên nước mắt với nỗi đau mất nước.

– Hai câu cuối: Lời kêu gọi tới những kẻ sĩ:

+ Niềm đau xót bật ra

+ “Đất Bắc”: Chỉ kinh đô Hà Nội – nơi tụ hội tinh hoa, anh tài

+ “Thiên tài”: Từ phiếm chỉ, chỉ những người là kẻ sĩ trong xã hội, những người đã quay đầu, làm ngơ trước tình nhân thế thái.

+ “Ngoảnh cổ”: Nhìn lại

=> Nỗi đau xót trước cảnh nước mất nhà tan của Tú Xương, tuy ko quyết liệt nhưng cũng bộc lộ nỗi lòng của ông trước tình cảnh của quốc gia.

– Kết luận chung:

+ Bài thơ được viết theo thể thơ Đương thất ngôn bát cú

+ Mô tả quang cảnh thi cử ở một kì thi hương nhưng lại vẽ ra một phần hiện thực quốc gia thời bấy giờ.

+ Bộc lộ nỗi lòng sâu kín của tác giả

3. Kết bài

– Khẳng định lại vấn đề

Bài mẫu cảm nhận bài thơ Vịnh khoa thi Hương hay nhất

     Tú Xương là một thi sĩ nổi tiếng với những bài thơ châm biếm, vui nhộn trên diễn đàn thơ ca Việt Nam. Trong sự nghiệp khổng lồ của mình, ông có tới mười ba bài vừa thơ vừa phú nói thuộc đề tài “thi cử” với thái độ mỉa mai, phẫn uất với cơ chế thi cử đương thời. “Vịnh khoa thi Hương” là bài thơ trong số mười ba bài thơ đó. Qua bài thơ, Tú Xương muốn vẽ nên cái hiện thực nhốn nháo, ô hợp của xã hội nửa thực dân nửa phong kiến qua hình ảnh một kì thi Hương quan trọng cũng đồng thời mượn đó nói lên tâm tư của mình trước tình cảnh quốc gia.

“Nhà nước ba năm mở một khoa

Trường Nam thi lẫn với trường Hà

Luộm thuộm sĩ tử vai đeo lọ

Ậm ọe quan trường mồm thét loa

Lọng cắm rợp trời quan sứ tới

Váy lê quét đất mụ đầm ra

Thiên tài đất Bắc nào người nào đó

Ngoảnh cổ nhưng trông cảnh nước nhà”.

     “Vịnh khoa thi Hương” là một bức tranh chân thực sống động về cơ chế thi cử của Việt Nam những năm cuối triều Nguyễn, trước con mắt giám sát của bọn thực dân Pháp. Đó là một bức tranh một kì thi trang trọng nhưng lại được tổ chức thật là nhố nhăng, nhốn nháo.

     Mở đầu bài thơ, Tú Xương đã khôn khéo dẫn vào trong thơ của mình hình ảnh của một kì thi hương với những đặc điểm giống và khác so với trước kia. Thứ nhất, kì thi hương được “nhà nước” mở ba năm một lần như thường lệ.

“Nhà nước ba năm mở một khoa”

     Đây là đặc điểm quy định phổ biến của lệ thi cử nước nhà xưa nay. Thế nhưng, đặc điểm thứ hai mới làm cho người ta ngạc nhiên.

“Trường Nam thi lẫn với trường Hà”

     Vốn là hai nơi không giống nhau, hai trường thi không giống nhau, vậy nhưng năm nay thí sinh của hai trường này lại ngồi trộn “lẫn” với nhau. Lý do là vì lúc thực dân Pháp xâm chiếm Hà Nội, trường thi ở Hà Nội bị huỷ bỏ, “nhà nước” dồn các sĩ tử ở Hà Nội phải xuống trường Nam Định để thi. Đây là điểm thất thường nhưng năm nay mới. Hơn thế, Tú Xương cũng dùng ở đây chữ “lẫn” để diễn tả quang cảnh nhốn nháo, ô hợp của trường thi, đối lập với sự nghiêm trang cần có trong một kì thi hương quan trọng của triều đình.

     Hai câu đề đã làm tốt vai trò mở đầu, giới thiệu của nó, để tới hai câu tiếp theo, người đọc được chứng kiến, kiểm nghiệm ngay cái sự nhốn nháo đã nói ở trên:

Luộm thuộm sĩ tử vai đeo lọ

Ậm ọe quan trường mồm thét loa

     Một quang cảnh thật là tạp nhạp, thật là nhốn nháo. Nào là sĩ tử đi thi, nào là quan lại coi thi cứ nhốn nháo hết cả lên, chẳng có quy cách của một kì thi hương quan trọng của triều đình. Hai nhân vật chính trong kì thi được bộc lộ, khắc họa thật rõ nét. Đồng thời cũng cho người đọc chúng ta thấy được cái tính cách, quy cách của trường thi năm nay thật khác lạ so với thời xưa. “Sĩ tử” là những người đi thi, đúng ra phải trông thật nho nhã, trang trọng, vậy nhưng ở đây toàn thấy là sự luộm thuộm, luộm thuộm với bao nhiêu chai với lọ, thật nhếch nhác quá đỗi. Tú Xương đã cố ý đảo chữ “luộm thuộm” lên đầu câu để nhấn mạnh cái sự nhếch nhác của các sĩ tử trong mùa thi hương lần này. Hình ảnh cái “lọ” – vốn được cho là đựng mực, đựng nước uống của sĩ tử, nhưng lại “đeo” trên vai. Nghe sao có vẻ mỉa mai tới thế. Cái hình ảnh đó như đang gợi lên sự xiêu vẹo, sự đổ gãy, lốc thốc của những kẻ sau này vốn sẽ trở thành những trụ cột tương lai của quốc gia. Và hơn thế, ông cũng muốn nhấn rằng những kẻ “vai đeo lọ” kia là những kẻ sĩ, những kẻ có tri thức trong xã hội nhưng lại ko thể giữ cho mình cái phong thái mang danh kẻ sĩ đó.

     Ko chỉ vậy, Tú Xương cũng nhấn mạnh thật kĩ hình ảnh của lũ “quan trường” – quan coi thi ở trường thi. Ông cũng đã tìm ra cho chúng một từ ngữ thật xứng đáng “ậm ọe”.

“Ậm ọe quan trường mồm thét loa”

     Nếu như lũ sĩ tử “luộm thuộm”, nhếch nhác bao nhiêu thì lũ quan trường lại “ậm ọe”, nhố nhăng bấy nhiêu. Quả đúng là một từ ngữ thông minh xứng danh cái tên Tú Xương. Cái âm thanh “ậm ọe” đó chỉ là những thanh âm ú ớ, ko rõ tiếng rõ lời, nhưng lại được gân lên bằng sự la lối của đám quan lại trường thi. Nó cũng mô tả cái sự phách lối, giáo điều, ra vẻ của đám quan trường đó. Tú Xương đã nhập vai một nhà nhiếp ảnh để thu lại những hình ảnh chân thực nhất ở trường thi năm đó. Bởi thi hương xưa có số lượng sĩ tử rất đông, diễn ra trên bãi đất trống, vậy nên phải dùng loa thì mới có thể nghe rõ được việc gọi tên. Thế nhưng, cái sự trang trọng trong việc gọi tên vào thi của kì thi hương đó đã bị những kẻ làm quan kia lấn lướt, làm lu mờ bởi sự phách lối, vênh váo của những kẻ dựa hơi nhưng chẳng có chút thực quyền nào. Cho nên, kì thi hương đó, ko chỉ đám sĩ tử mất đi cái phong thái của một kẻ sĩ học chữ Nho nhưng đám quan lại cũng mất đi sự tôn kính, nghiêm trang của một kì thi lớn của quốc gia.

     Hai câu thơ đối nhau song song, làm nổi trội lên cái quang cảnh của trường thi. Nhưng trong đó, người ta thấy ko chỉ là bóng vía của trường thi với kì thi hương nhưng còn thấy quang cảnh hỗn tạp, nhốn nháo của quốc gia lúc rơi vào tình nửa thực dân nửa phong kiến. Và triều Nguyễn kia chẳng khác gì bức bình phong, một con rối bị điều khiển bởi chính quyền Pháp.

     Chúng ta cũng thấy được ở trong câu thơ, cái sự mỉa mai tới tột độ của tác giả về triều đình nhà Nguyễn nhu nhược, đồng thời, hai câu thơ tiếp, ông bộc lộ một sự mỉa mai, căm ghét đối với chính quyền thực dân:

“Lọng cắm rợp trời quan sứ tới

Váy lê quét đất mụ đầm ra”

     Vẫn trung thành với lối tả thực, Tú Xương tiếp tục vẽ lại bức tranh trường thi trong khi nó được viếng thăm bởi tên Toàn quyền người Pháp cùng vợ của hắn. Ko phải trùng hợp nhưng Tú Xương lại đặt hình ảnh này vào trong hai câu thơ chủ chốt của bài thơ. Bởi hình ảnh của một “ông Tây” với “bà đầm” phản ánh thật đúng với cái tình cảnh của nước ta thời bấy giờ. Đó là xã hội nhưng người dân trở thành nô lệ, triều đình là một bức bình phong còn thực quyền ở trong tay người Pháp. Một kẻ cướp nước nhưng lại được tới thăm quan một trường thi quan trọng, lại được đón tiếp bằng “lọng” bằng “cờ” thì thật là sự trang trọng, kính cẩn đầy mỉa mai.

     Ko chỉ vậy, quan Tây bà đầm còn được mô tả là được ngồi lên vị trí cao nhất của trường thi. Tú Xương đang ám chỉ điều gì? Phải chăng là cảnh nước mất nhà tan đã diễn ra ngay trước mắt?

     Thế nhưng, phải thật tinh tế mới trông thấy, Tú Xương đã dùng thơ Đường làm vũ khí để mỉa mai thật sắc bén, để bộc bạch thái độ của mình đối với lũ cướp nước kia.

     Sử dụng nghệ thuật thơ đối xứng, Tú Xương đặt cái “váy” của bà đầm và cái “lọng” của ông quan Tây được đặt ngang bằng, ghép hai hình ảnh đó lại, người ta thấy đó là mỉa mai đầy châm biếm, câu thơ như “chửi thẳng” vào mặt viên quan sứ người Tây kia. Ko chỉ thế, tác giả đã dùng từ “quan sứ” để nói về ông quan tây nhưng lại dùng từ “mụ đầm” lúc nói về vợ của ông ta, đây chẳng phải là một sự khinh bỉ, một sự “chơi xỏ” nhưng Tú Xương dành cho viên Toàn quyền Pháp kia hay sao? Bởi người nào cũng biết, từ “mụ” để chỉ những hạng phụ nữ ko ra gì, gọi vợ của “quan sứ” là “mụ” thì khác gì nói ông “quan sứ” kia chỉ là “thằng” nhưng thôi sao? Quả thực, cái chửi của Tú Xương sâu cay và thâm thúy tới nhường nào!

     Thế mới thấy, thơ Tú Xương ko chỉ mô tả cái hiện thực lạnh lùng, tàn khốc nhưng còn lồng cả vào đó tiếng cười sâu cay, đắng ngọt, phơi bày trong đó cái tâm của một kẻ sĩ yêu nước, đau lòng vì nước mất nhà tan nhưng vì lực yếu sức mỏng nhưng đành dùng lời văn làm vũ khí cho mình.

     Để tới cuối cùng, cái cười kia không thể át nổi niềm đau xót trong tâm của ông, nó bật ra thành tiếng:

“Thiên tài đất Bắc nào người nào đó

Ngoảnh cổ nhưng trông cảnh nước nhà”.

     “Đất Bắc” vốn là từ chỉ Hà Nội, là nơi tụ hội của nghìn năm kinh đô, là nơi của bậc đế vương ngự trị, nơi của anh tài khắp quốc gia tụ hội về đây. Lời thơ như một tiếng than đau xót vô vàn của Tú Xương lúc mắt phải nhìn thấy quốc gia đang dần rơi vào tay giặc. Ông đang nói với chính mình hay là đang kêu gọi người nào, người nào còn nghĩ tới nỗi nhục mất nước, người nào còn tự hào với dân tộc bốn nghìn năm lịch sử này chăng? Đọc câu thơ nhưng ta thấy sự xót xa, đau xót của tác giả trước tình cảnh của quốc gia. “Thiên tài” ở đây chỉ người nào, nó chỉ là một từ phiếm chỉ, là những kẻ đã từng một lần ước mong được bước qua cánh cửa thi hương này, hay là những kẻ đã từng đặt chân tới đây hãy nhìn xem “cảnh nước nhà”?

     Ở đây, Tú Xương ko quyết liệt trình bày tư tưởng kêu gọi mọi người chung tay dẹp loạn như trong thơ Nguyễn Đình Chiểu:

“Hỡi trang dẹp loạn rày đâu vắng

Nỡ để thứ dân mắc nạn này?”

     Ở thơ Tú Xương, người ta chỉ thấy gợi lên sự nhục nhã lúc mất nước, ko , quyết liệt như thơ Nguyễn Đình Chiểu. Ổng chỉ chỉ ra sự làm ngơ của những kẻ sĩ yêu nước đã quay đầu, làm ngơ, ko quan tâm tới, mắt thấy tai nghe để lũ giặc cướp nước và bè lũ tay sai của chúng làm tan tành quốc gia của mình. Ông kêu gọi họ hãy “ngoảnh cổ nhưng trông” – “ngoảnh cổ” ngoái lại nhìn, để thấy, để chứng kiến quốc gia đang suy vong trước lũ giặc. Ở hai cấu kết này, cái cười châm biếm của Tú Xương chẳng còn nữa nhưng nhường chỗ cho nỗi đau xót vô vàn lúc quốc gia lâm nạn. Hình như ta còn thấy được cả những giọt nước mắt của ông cả trong tiếng cười sâu cay kia.

     Bài thơ “Vịnh khoa thi Hương” của Tú Xương viết bằng thể thơ Đường thất ngôn bát cú. Với tài hoa, cùng nghệ thuật châm biếm sâu cay, ông đã dựng lên bức tranh về trường thi Hương những năm cuối triều Nguyễn với sự nhốn nháo, nhố nhăng của lũ quan trường, sự nhếch nhác của đám sĩ tử. Đồng thời, qua đó, ông cũng muốn vẽ lên cái hiện thực về xã hội phong kiến nửa thực dân bằng cái nhìn đầy mỉa mai của mình và gửi vào trong đó, tâm tư của một kẻ sĩ yêu nước trước tình cảnh của quốc gia.

     Vịnh khoa thi Hương là một trong những bài thơ rực rỡ nhất của Tú Xương vừa hiện thực lại vừa trữ tình. Qua đó khẳng định được tài năng của ông, lúc chỉ cần vẽ lên một quang cảnh một kì thi Hương nhưng đã nói lên được cả cái thực chất của xã hội lúc bấy giờ.

Tương tự, giainhat.vn đã vừa phân phối những dàn ý cơ bản cũng như một số bài văn mẫu hay Dàn ý cảm nhận bài thơ Vịnh khoa thi Hương để các em tham khảo và có thể tự viết được một bài văn mẫu hoàn chỉnh. Chúc các em học tốt môn Ngữ Văn !

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

Hình Ảnh về: Dàn ý cảm nhận bài thơ Vịnh khoa thi Hương

Video về: Dàn ý cảm nhận bài thơ Vịnh khoa thi Hương

Wiki về Dàn ý cảm nhận bài thơ Vịnh khoa thi Hương

Dàn ý cảm nhận bài thơ Vịnh khoa thi Hương -

Hướng dẫn lập Dàn ý cảm nhận bài thơ Vịnh khoa thi Hương ngắn gọn, cụ thể, hay nhất. Với các bài dàn ý và văn mẫu được tổng hợp và biên soạn dưới đây, các em sẽ có thêm nhiều tài liệu hữu ích phục vụ cho việc học môn văn. Cùng tham khảo nhé! 

Dàn ý cảm nhận bài thơ Vịnh khoa thi Hương – Mẫu 1

1. Mở bài:

– Giới thiệu nói chung về thi sĩ Trần Tế Xương (hay còn gọi là Tú Xương): là một thi sĩ tài hoa, nổi tiếng với nhiều bài thơ tròa phúng châm biếm rực rỡ.

– Giới thiệu nói chung bài thơ Vịnh khoa thi Hương.

2. Thân bài:


a. Hai câu đề

– Nói về sự kiện: theo lệ thường thời phong kiến cứ ba năm có một khoa thi Hương => Sự kiện tưởng như ko có gì đặc trưng, chỉ có tính chất như một thông báo một thông tin phổ biến.

– Sử dụng từ “lẫn”: trình bày sự ô hợp, hỗn tạp của kì thi này. Đây chính là điều thất thường của kì thi.

=> Hai câu đề với kiểu câu tự sự có tính chất kể lại kì thi với tất cả sự ô hợp, hỗn tạp, thiếu nghiêm túc trong buổi giao thời.

b. Hai câu thực

– Hình ảnh:

     + Sĩ tử: luộm thuộm, vai đeo lọ -> dáng vẻ luộm thuộm, nhếch nhác.

     + Quan trường: ậm ọe, mồm thét loa -> ra oai, nạt nộ nhưng đó là cái oai cố tạo, giả vờ.

– Nghệ thuật:

     + Sử dụng từ láy tượng thanh và tượng hình: ậm ọe, luộm thuộm.

     + Đối: luộm thuộm sĩ tử >

     + Đảo ngữ: Đảo trật tự cú pháp “luộm thuộm sĩ tử”, “ậm ọe quan trường”.

=> Sự láo nháo, lộn xộn, ô hợp của trường thi, mặc dù đây là một kì thi Hương quan trong của nhà nước.

=> Cảnh trường thi phản ánh sự suy vong của một nền học vấn, sự lỗi thời của đạo Nho.

c. Hai câu luận

– Hình ảnh:

     + Quan sứ: Viên quan người Pháp đứng đầu bộ máy cái trị của tỉnh Nam Định được tiếp đón trọng thể.

     + Mụ đầm: vợ quan sứ, ăn mặc diêm dúa, điệu đà.

=> Sự phô trương, hình thức, ko đúng nghi lễ của một kì thi.

– Nghệ thuật đối: Lọng >

=> Tất cả báo hiệu về một sự sa sút về chất lượng thi cử, thực chất của xã hội thực dân phong kiến.

d. Hai cấu kết

– Tâm trạng thái độ của tác giả trước cảnh tượng trường thi: Ngao ngán, xót xa trước sự sa sút của quốc gia. Thái độ mỉa mai, phẫn uất của thi sĩ với cơ chế thi cử đương thời và đối với trục đường khoa cử của riêng ông.

– Hai câu cuối như một lời nhắn nhủ các sĩ tử về nỗi nhục mất nước. Thi sĩ hỏi người nhưng cũng chính là hỏi mình.

3. Kết bài:

Cảm nhận chung về bài thơ.

Dàn ý cảm nhận bài thơ Vịnh khoa thi hương – Mẫu 2


1. Mở Bài

– Giới thiệu về bài thơ

+ Là một trong mười ba bài thuộc đề tài “thi cử”

+ Mượn hình ảnh thi cử để nói về tình cảnh quốc gia, bộc lộ tâm tư của mình.

2. Thân Bài

– Nội dung bài thơ: Bức tranh một kì thi Hương cuối triều Nguyễn với sự nhố nhăng, nhốn nháo, ô hợp với sự giám sát của bọn thực dân Pháp.

– Hai câu đầu: Giới thiệu về trường thi

+ Mở đầu bằng đặc điểm thường thấy trong quy cách thi cử xưa nay. Nhà nước mở khoa thi ba năm một lần

+ Điều thất thường: Trường Nam thi lẫn với trường Hà

· Trường Nam: Trường thi ở Nam Định, trường Hà: Trường thi ở Hà Nội

· Lý do: Thực dân Pháp xâm chiếm Hà Nội, trường thi ở Hà Nội bị huỷ bỏ => Sĩ tử hai trường phải thi chung một vị trí.

+ “Lẫn”: chỉ sự nhốn nháo, ô hợp với sự trang trọng của kì thi hương.

– Hai câu thực: Quang cảnh trường thi:

+ Quang cảnh nhốn nháo, sĩ tử, quan trường lộn lạo với nhau

+ “Sĩ tử”: Người đi thi, phải trang trọng, nho nhã nhưng đây lại “luộm thuộm”

· “Luộm thuộm”: Chỉ sự nhếch nhác, luộm thuộm

→ Đảo lên đầu câu để nhấn mạnh hình ảnh đám sĩ tử

· “Lọ”: chỉ lọ mực hoặc lọ đựng nước, lại phải đeo trên vai: sự xô lệch, gãy đổ, lốc thốc

–> Trụ cột của nước nhà nhưng trông thật nhếch nhác, xiêu vẹo. Kẻ sĩ ko giữ được phong thái của chính mình.

+ “Quan trường”: Những vị quan coi thi

· Mồm thét loa

· “Ậm ọe”: Thông minh của Tú Xương, chỉ âm thanh ko rõ, ú ớ, được gân lên => Sự phách lối của đám quan lại tay sai

=> Đám quan lại mất đi cái phong thái tôn kính, nghiêm trang của kẻ làm quan

=> Hai câu thơ đối song song, cho thấy quang cảnh của trường thi thật hỗn tạp giống tình cảnh của quốc gia lúc bấy giờ.

– Hai câu tiếp: Cảnh đón rước quan sứ và phu nhân

+ “Ông Tây bà đầm”: Phản ánh thực tại của quốc gia đang bị nắm bởi bọn thực dân.

+ Kẻ cướp nước lại được đón rước trang trọng, kính cẩn

+ Đặt vế đối song song “lọng – váy”: thái độ mỉa mai

+ Gọi “quan sứ” nhưng lại gọi “mụ đầm: Thái độ khinh bỉ, châm biếm (mụ: chỉ những người phụ nữ ko ra gì)

=> Tiếng cười sâu cay, cười trên nước mắt với nỗi đau mất nước.

– Hai câu cuối: Lời kêu gọi tới những kẻ sĩ:

+ Niềm đau xót bật ra

+ “Đất Bắc”: Chỉ kinh đô Hà Nội – nơi tụ hội tinh hoa, anh tài

+ “Thiên tài”: Từ phiếm chỉ, chỉ những người là kẻ sĩ trong xã hội, những người đã quay đầu, làm ngơ trước tình nhân thế thái.

+ “Ngoảnh cổ”: Nhìn lại

=> Nỗi đau xót trước cảnh nước mất nhà tan của Tú Xương, tuy ko quyết liệt nhưng cũng bộc lộ nỗi lòng của ông trước tình cảnh của quốc gia.

– Kết luận chung:

+ Bài thơ được viết theo thể thơ Đương thất ngôn bát cú

+ Mô tả quang cảnh thi cử ở một kì thi hương nhưng lại vẽ ra một phần hiện thực quốc gia thời bấy giờ.

+ Bộc lộ nỗi lòng sâu kín của tác giả

3. Kết bài

– Khẳng định lại vấn đề

Bài mẫu cảm nhận bài thơ Vịnh khoa thi Hương hay nhất

     Tú Xương là một thi sĩ nổi tiếng với những bài thơ châm biếm, vui nhộn trên diễn đàn thơ ca Việt Nam. Trong sự nghiệp khổng lồ của mình, ông có tới mười ba bài vừa thơ vừa phú nói thuộc đề tài “thi cử” với thái độ mỉa mai, phẫn uất với cơ chế thi cử đương thời. “Vịnh khoa thi Hương” là bài thơ trong số mười ba bài thơ đó. Qua bài thơ, Tú Xương muốn vẽ nên cái hiện thực nhốn nháo, ô hợp của xã hội nửa thực dân nửa phong kiến qua hình ảnh một kì thi Hương quan trọng cũng đồng thời mượn đó nói lên tâm tư của mình trước tình cảnh quốc gia.

“Nhà nước ba năm mở một khoa

Trường Nam thi lẫn với trường Hà

Luộm thuộm sĩ tử vai đeo lọ

Ậm ọe quan trường mồm thét loa

Lọng cắm rợp trời quan sứ tới

Váy lê quét đất mụ đầm ra

Thiên tài đất Bắc nào người nào đó

Ngoảnh cổ nhưng trông cảnh nước nhà”.

     “Vịnh khoa thi Hương” là một bức tranh chân thực sống động về cơ chế thi cử của Việt Nam những năm cuối triều Nguyễn, trước con mắt giám sát của bọn thực dân Pháp. Đó là một bức tranh một kì thi trang trọng nhưng lại được tổ chức thật là nhố nhăng, nhốn nháo.

     Mở đầu bài thơ, Tú Xương đã khôn khéo dẫn vào trong thơ của mình hình ảnh của một kì thi hương với những đặc điểm giống và khác so với trước kia. Thứ nhất, kì thi hương được “nhà nước” mở ba năm một lần như thường lệ.

“Nhà nước ba năm mở một khoa”

     Đây là đặc điểm quy định phổ biến của lệ thi cử nước nhà xưa nay. Thế nhưng, đặc điểm thứ hai mới làm cho người ta ngạc nhiên.

“Trường Nam thi lẫn với trường Hà”

     Vốn là hai nơi không giống nhau, hai trường thi không giống nhau, vậy nhưng năm nay thí sinh của hai trường này lại ngồi trộn “lẫn” với nhau. Lý do là vì lúc thực dân Pháp xâm chiếm Hà Nội, trường thi ở Hà Nội bị huỷ bỏ, “nhà nước” dồn các sĩ tử ở Hà Nội phải xuống trường Nam Định để thi. Đây là điểm thất thường nhưng năm nay mới. Hơn thế, Tú Xương cũng dùng ở đây chữ “lẫn” để diễn tả quang cảnh nhốn nháo, ô hợp của trường thi, đối lập với sự nghiêm trang cần có trong một kì thi hương quan trọng của triều đình.

     Hai câu đề đã làm tốt vai trò mở đầu, giới thiệu của nó, để tới hai câu tiếp theo, người đọc được chứng kiến, kiểm nghiệm ngay cái sự nhốn nháo đã nói ở trên:

Luộm thuộm sĩ tử vai đeo lọ

Ậm ọe quan trường mồm thét loa

     Một quang cảnh thật là tạp nhạp, thật là nhốn nháo. Nào là sĩ tử đi thi, nào là quan lại coi thi cứ nhốn nháo hết cả lên, chẳng có quy cách của một kì thi hương quan trọng của triều đình. Hai nhân vật chính trong kì thi được bộc lộ, khắc họa thật rõ nét. Đồng thời cũng cho người đọc chúng ta thấy được cái tính cách, quy cách của trường thi năm nay thật khác lạ so với thời xưa. “Sĩ tử” là những người đi thi, đúng ra phải trông thật nho nhã, trang trọng, vậy nhưng ở đây toàn thấy là sự luộm thuộm, luộm thuộm với bao nhiêu chai với lọ, thật nhếch nhác quá đỗi. Tú Xương đã cố ý đảo chữ “luộm thuộm” lên đầu câu để nhấn mạnh cái sự nhếch nhác của các sĩ tử trong mùa thi hương lần này. Hình ảnh cái “lọ” – vốn được cho là đựng mực, đựng nước uống của sĩ tử, nhưng lại “đeo” trên vai. Nghe sao có vẻ mỉa mai tới thế. Cái hình ảnh đó như đang gợi lên sự xiêu vẹo, sự đổ gãy, lốc thốc của những kẻ sau này vốn sẽ trở thành những trụ cột tương lai của quốc gia. Và hơn thế, ông cũng muốn nhấn rằng những kẻ “vai đeo lọ” kia là những kẻ sĩ, những kẻ có tri thức trong xã hội nhưng lại ko thể giữ cho mình cái phong thái mang danh kẻ sĩ đó.

     Ko chỉ vậy, Tú Xương cũng nhấn mạnh thật kĩ hình ảnh của lũ “quan trường” – quan coi thi ở trường thi. Ông cũng đã tìm ra cho chúng một từ ngữ thật xứng đáng “ậm ọe”.

“Ậm ọe quan trường mồm thét loa”

     Nếu như lũ sĩ tử “luộm thuộm”, nhếch nhác bao nhiêu thì lũ quan trường lại “ậm ọe”, nhố nhăng bấy nhiêu. Quả đúng là một từ ngữ thông minh xứng danh cái tên Tú Xương. Cái âm thanh “ậm ọe” đó chỉ là những thanh âm ú ớ, ko rõ tiếng rõ lời, nhưng lại được gân lên bằng sự la lối của đám quan lại trường thi. Nó cũng mô tả cái sự phách lối, giáo điều, ra vẻ của đám quan trường đó. Tú Xương đã nhập vai một nhà nhiếp ảnh để thu lại những hình ảnh chân thực nhất ở trường thi năm đó. Bởi thi hương xưa có số lượng sĩ tử rất đông, diễn ra trên bãi đất trống, vậy nên phải dùng loa thì mới có thể nghe rõ được việc gọi tên. Thế nhưng, cái sự trang trọng trong việc gọi tên vào thi của kì thi hương đó đã bị những kẻ làm quan kia lấn lướt, làm lu mờ bởi sự phách lối, vênh váo của những kẻ dựa hơi nhưng chẳng có chút thực quyền nào. Cho nên, kì thi hương đó, ko chỉ đám sĩ tử mất đi cái phong thái của một kẻ sĩ học chữ Nho nhưng đám quan lại cũng mất đi sự tôn kính, nghiêm trang của một kì thi lớn của quốc gia.

     Hai câu thơ đối nhau song song, làm nổi trội lên cái quang cảnh của trường thi. Nhưng trong đó, người ta thấy ko chỉ là bóng vía của trường thi với kì thi hương nhưng còn thấy quang cảnh hỗn tạp, nhốn nháo của quốc gia lúc rơi vào tình nửa thực dân nửa phong kiến. Và triều Nguyễn kia chẳng khác gì bức bình phong, một con rối bị điều khiển bởi chính quyền Pháp.

     Chúng ta cũng thấy được ở trong câu thơ, cái sự mỉa mai tới tột độ của tác giả về triều đình nhà Nguyễn nhu nhược, đồng thời, hai câu thơ tiếp, ông bộc lộ một sự mỉa mai, căm ghét đối với chính quyền thực dân:

“Lọng cắm rợp trời quan sứ tới

Váy lê quét đất mụ đầm ra”

     Vẫn trung thành với lối tả thực, Tú Xương tiếp tục vẽ lại bức tranh trường thi trong khi nó được viếng thăm bởi tên Toàn quyền người Pháp cùng vợ của hắn. Ko phải trùng hợp nhưng Tú Xương lại đặt hình ảnh này vào trong hai câu thơ chủ chốt của bài thơ. Bởi hình ảnh của một “ông Tây” với “bà đầm” phản ánh thật đúng với cái tình cảnh của nước ta thời bấy giờ. Đó là xã hội nhưng người dân trở thành nô lệ, triều đình là một bức bình phong còn thực quyền ở trong tay người Pháp. Một kẻ cướp nước nhưng lại được tới thăm quan một trường thi quan trọng, lại được đón tiếp bằng “lọng” bằng “cờ” thì thật là sự trang trọng, kính cẩn đầy mỉa mai.

     Ko chỉ vậy, quan Tây bà đầm còn được mô tả là được ngồi lên vị trí cao nhất của trường thi. Tú Xương đang ám chỉ điều gì? Phải chăng là cảnh nước mất nhà tan đã diễn ra ngay trước mắt?

     Thế nhưng, phải thật tinh tế mới trông thấy, Tú Xương đã dùng thơ Đường làm vũ khí để mỉa mai thật sắc bén, để bộc bạch thái độ của mình đối với lũ cướp nước kia.

     Sử dụng nghệ thuật thơ đối xứng, Tú Xương đặt cái “váy” của bà đầm và cái “lọng” của ông quan Tây được đặt ngang bằng, ghép hai hình ảnh đó lại, người ta thấy đó là mỉa mai đầy châm biếm, câu thơ như “chửi thẳng” vào mặt viên quan sứ người Tây kia. Ko chỉ thế, tác giả đã dùng từ “quan sứ” để nói về ông quan tây nhưng lại dùng từ “mụ đầm” lúc nói về vợ của ông ta, đây chẳng phải là một sự khinh bỉ, một sự “chơi xỏ” nhưng Tú Xương dành cho viên Toàn quyền Pháp kia hay sao? Bởi người nào cũng biết, từ “mụ” để chỉ những hạng phụ nữ ko ra gì, gọi vợ của “quan sứ” là “mụ” thì khác gì nói ông “quan sứ” kia chỉ là “thằng” nhưng thôi sao? Quả thực, cái chửi của Tú Xương sâu cay và thâm thúy tới nhường nào!

     Thế mới thấy, thơ Tú Xương ko chỉ mô tả cái hiện thực lạnh lùng, tàn khốc nhưng còn lồng cả vào đó tiếng cười sâu cay, đắng ngọt, phơi bày trong đó cái tâm của một kẻ sĩ yêu nước, đau lòng vì nước mất nhà tan nhưng vì lực yếu sức mỏng nhưng đành dùng lời văn làm vũ khí cho mình.

     Để tới cuối cùng, cái cười kia không thể át nổi niềm đau xót trong tâm của ông, nó bật ra thành tiếng:

“Thiên tài đất Bắc nào người nào đó

Ngoảnh cổ nhưng trông cảnh nước nhà”.

     “Đất Bắc” vốn là từ chỉ Hà Nội, là nơi tụ hội của nghìn năm kinh đô, là nơi của bậc đế vương ngự trị, nơi của anh tài khắp quốc gia tụ hội về đây. Lời thơ như một tiếng than đau xót vô vàn của Tú Xương lúc mắt phải nhìn thấy quốc gia đang dần rơi vào tay giặc. Ông đang nói với chính mình hay là đang kêu gọi người nào, người nào còn nghĩ tới nỗi nhục mất nước, người nào còn tự hào với dân tộc bốn nghìn năm lịch sử này chăng? Đọc câu thơ nhưng ta thấy sự xót xa, đau xót của tác giả trước tình cảnh của quốc gia. “Thiên tài” ở đây chỉ người nào, nó chỉ là một từ phiếm chỉ, là những kẻ đã từng một lần ước mong được bước qua cánh cửa thi hương này, hay là những kẻ đã từng đặt chân tới đây hãy nhìn xem “cảnh nước nhà”?

     Ở đây, Tú Xương ko quyết liệt trình bày tư tưởng kêu gọi mọi người chung tay dẹp loạn như trong thơ Nguyễn Đình Chiểu:

“Hỡi trang dẹp loạn rày đâu vắng

Nỡ để thứ dân mắc nạn này?”

     Ở thơ Tú Xương, người ta chỉ thấy gợi lên sự nhục nhã lúc mất nước, ko , quyết liệt như thơ Nguyễn Đình Chiểu. Ổng chỉ chỉ ra sự làm ngơ của những kẻ sĩ yêu nước đã quay đầu, làm ngơ, ko quan tâm tới, mắt thấy tai nghe để lũ giặc cướp nước và bè lũ tay sai của chúng làm tan tành quốc gia của mình. Ông kêu gọi họ hãy “ngoảnh cổ nhưng trông” – “ngoảnh cổ” ngoái lại nhìn, để thấy, để chứng kiến quốc gia đang suy vong trước lũ giặc. Ở hai cấu kết này, cái cười châm biếm của Tú Xương chẳng còn nữa nhưng nhường chỗ cho nỗi đau xót vô vàn lúc quốc gia lâm nạn. Hình như ta còn thấy được cả những giọt nước mắt của ông cả trong tiếng cười sâu cay kia.

     Bài thơ “Vịnh khoa thi Hương” của Tú Xương viết bằng thể thơ Đường thất ngôn bát cú. Với tài hoa, cùng nghệ thuật châm biếm sâu cay, ông đã dựng lên bức tranh về trường thi Hương những năm cuối triều Nguyễn với sự nhốn nháo, nhố nhăng của lũ quan trường, sự nhếch nhác của đám sĩ tử. Đồng thời, qua đó, ông cũng muốn vẽ lên cái hiện thực về xã hội phong kiến nửa thực dân bằng cái nhìn đầy mỉa mai của mình và gửi vào trong đó, tâm tư của một kẻ sĩ yêu nước trước tình cảnh của quốc gia.

     Vịnh khoa thi Hương là một trong những bài thơ rực rỡ nhất của Tú Xương vừa hiện thực lại vừa trữ tình. Qua đó khẳng định được tài năng của ông, lúc chỉ cần vẽ lên một quang cảnh một kì thi Hương nhưng đã nói lên được cả cái thực chất của xã hội lúc bấy giờ.

Tương tự, giainhat.vn đã vừa phân phối những dàn ý cơ bản cũng như một số bài văn mẫu hay Dàn ý cảm nhận bài thơ Vịnh khoa thi Hương để các em tham khảo và có thể tự viết được một bài văn mẫu hoàn chỉnh. Chúc các em học tốt môn Ngữ Văn !

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

[rule_{ruleNumber}]

Source: giainhat.vn
Categories: Giáo dục

Viết một bình luận