Cảm nhận về Bài ca ngất ngưởng

Bạn đang gặp khó lúc làm bài Cảm nhận về Bài ca ngất ngưởng? Đừng lo! Hãy tham khảo những bài văn mẫu đã được tuyển chọn và biên soạn với nội dung ngắn gọn, cụ thể, hay nhất của giainhat.vn dưới đây để nắm được cách làm cũng như bổ sung thêm vốn từ ngữ nhé. Chúc các bạn có một tài liệu có lợi!

Dàn ý Cảm nhận về Bài ca ngất ngưởng

1. Mở bài: giới thiệu Bài ca ngất ngưỡng của Nguyễn Công Trứ

Ví dụ:

     Nguyễn Công Trứ là một vị quan, ông có những tài năng và chí khí, văn võ song toàn nhưng đường công danh của ông gặp nhiều khó khăn và gian nan. Ông còn là một người dân yêu nước, muốn góp sức cho non sông nhưng có những điều cản trở bước chân của ông. Để nói lên quãng đời làm quan và những trở ngại nhưng mà ông gặp phải trong quá trình làm quan ông đã sáng tác nên Bài ca ngất ngưỡng, chúng ta cùng đi tìm hiểu tác phẩm.

2. Thân bài: phân tích Bài ca ngất ngưỡng của Nguyễn Công Trứ


a. Sự ngất ngưỡng của tác giả ở quãng đời làm quan

– Ông tự đề cao mình trong trời đất

– Ông đã liệt kê những tài năng, công việc giỏi giang của mình: giỏi văn học, giỏi thao lược, giữ nhiều chức vị,…

– Tác giả tự hào về tài năng, những thành tựu mình đã đạt được

– Tác giả trình bày thái độ ngạo nghễ của mình với đời

b. Sự ngất ngưỡng của tác giả ở quê nhà:

– Thi sĩ có cách sống ngạo nghễ, giễu đời, tận hưởng thú vui của bản thân mình

– Thi sĩ ko màng tới chuyện khen thưởng

– Thi sĩ vẫn giữ tư cách mình ở những chừng mực

– Tác giả trình bày lòng trung thành với vua

– Ngất ngưỡng với đời, quan niệm sống

c. Ngất ngưỡng của tác giả ở chốn triều cung

– Thi sĩ khẳng định trong triều ko người nào ngất ngưỡng bằng ông

– Nêu rõ quan niệm sống của mình khác với tất cả mọi người

– Cái tôi ngất ngưỡng

3. Kết bài: nêu cảm nhận của em về bài ca ngất ngưỡng:

Cảm nhận về Bài ca ngất ngưởng – Bài mẫu 1


     Nói tới những thi sĩ nửa đầu thế kỷ XIX ko thể ko nhắc tới Nguyễn Công Trứ – thi sĩ, ông quan thị lang triều Nguyễn. Đây là một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử, một phần nhân vật hăm hở lập công, hết sức đề cao chí làm trai và cách sống rất lạ mắt, luôn tự do, phóng túng. Nguyễn Công Trứ được coi là một trong những thi sĩ nổi tiếng nhất đương thời, ông có công lớn trong việc nâng thể hát nói thành thể thi ca có khả năng biểu lộ những tình cảm phong phú và tinh tế.

     Trong số những bài thơ của Nguyễn Công Trứ sáng tác theo thể hát nói, nức tiếng hơn cả là bài thơ Bài ca ngất ngưởng. Đây là một tác phẩm được sáng tác sau lúc tác giả rời bỏ chốn quan trường về quê nhà sống cuộc đời ẩn dật. Đây cũng là lúc chất ngạo nghễ, ngất ngưởng vốn có của cụ Thượng Trứ được bộc lộ một cách đầy đủ nhất. Dẫu sao, tuy là một nhân vật có khả năng, giàu phong cách, nhưng lúc còn đang làm quan, Nguyễn Công Trứ cũng ko thể sống một cách tự do, ông vẫn phải tuân thủ những quy tắc của triều đình. Và như lịch sử đã ghi lại, trong nhiều triều đại phong kiến thì triều đại Nguyễn vẫn được coi là một triều đại có những thiết chế hết sức gò bó, phi lí, phi nhân đạo nhất.

     Bằng Bài ca ngất ngưởng, Nguyễn Công Trứ đã trình diễn một cách thật sinh động, lạ mắt bản sơ yếu lí lịch của mình và bao trùm bài thơ, người đọc có thể cảm nhận một lối sống khác người, khác đời của tác giả. Lối sống của ông đối lập với lối sống của tập đoàn, đối lập với những quan niệm chính thống lúc bấy giờ.

     Trước hết, ngay tiêu đề của bài thơ đã khiến người đọc phải chú ý, phải suy nghĩ. Cái lạ mắt của Nguyễn Công Trứ phải chăng được trình bày ngay trong cách ông đặt tiêu đề của bài thơ: Bài ca ngất ngưởng. Theo cách hiểu thông dụng, ngất ngưởng chỉ thế cao nhưng mà ko vững, dễ tan vỡ. Ví dụ: Bình hoa để ngất ngưởng. Ngoài ra, ngất ngưởng còn có tức là chỉ người đi thẳng, ko vững, lúc tiến lên phía trước, lúc thì ngả sang phải, lúc ngả sang trái…Đọc kỹ bài thơ, chúng ta có thể nhận thấy tiêu đề của bài thơ này góp phần quan trọng trong việc diễn tả thái độ, tư thế của nhân vật trữ tình – tác giả luôn vươn lên trên thói tục, sống giữa tập đoàn, giữa mọi người nhưng mà khác đời, khác người, bất chấp mọi người.

     Nguyễn Công Trứ thường nói tới chí nam nhi theo ý thức nho giáo. Trong bài Chí làm trai, thi sĩ khẳng định:

Chí làm trai nam, bắc, đông, tây

Cho phí sức vẫy vùng trong bốn bể

     Ở Bài ca ngất ngưởng, Nguyễn Công Trứ cũng mở đầu bằng một câu chữ Hán có tính chất tuyên ngôn trình bày cái chí làm trai nói trên: mọi việc trong trời đất chẳng có việc nào ko là phận sự của ta:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự

     Đây chính là điều nhưng mà Nguyễn Công Trứ tâm niệm. Chẳng thế nhưng mà luôn được ông nhắc tới trong rất nhiều bài thơ trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, vũ trụ chức vụ nội (việc vũ trụ là phận sự của ta – Gánh trung hiếu), vũ trụ ngã phận sự (Những việc trong vũ trụ là phận sự của ta – luận kẻ sĩ). Theo quan niệm của Nguyễn Công Trứ, đã sinh ra làm đấng tu mi, thì nhất quyết phải có danh gì với núi sông, phải làm những việc lớn lao, phải được ghi vào sử sách. Cái hay của câu thơ mở đầu chính là triết lí sống đúng mực và tình cảm chân tình của tác giả. Muốn xã hội tiến bộ, mỗi con người phải tự khẳng định mình, phải quyết tâm cao nhất làm được một việc gì đó có ích cho đời để có thể tự hào với mọi người. Khát vọng đó, quyết tâm đó là chính đáng, là rất đáng trân trọng; nhất là một lúc nó được trình bày một cách trực tiếp với một thái độ chan thành của thi sĩ.

     Tiếp đó, Nguyễn Công Trứ tự xưng tên mình, tự khẳng định tài năng của mình:

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

     Lâu nay, câu thơ này ít nhất đã có hai cách hiểu. Cách hiểu thứ nhất cho rằng: ông Hi Văn, một con người tài giỏi đã vào vòng cương tỏa của triều đình (như con chim yêu tự do, thích bay trên bầu trời cao rộng, nay bị nhốt vào lồng), và do đó, ông ko thể sống ngất ngưởng như mình muốn. Cách hiểu thứ hai: ông Hi Văn là người toàn tài, có thể sánh ngang với trời đất; lồng ở đây được hiểu là trời đất, là vũ trụ, trong quan niệm của người xưa thì đất có hình vuông và trời có hình tròn. Có nhẽ cách hiểu thứ hai thuyết phục hơn, nhất quán hơn so với cách hiểu thứ nhất; đặc thù nếu đặt trong cảm hứng bao trùm bài thơ, cách hiểu này có văn cứ hơn. Vả chăng, nội dung hai câu đầu thường sẽ chi phối toàn thể bài thơ, nhưng mà cảm hứng chủ đạo trong bài thơ này chính là cảm hứng ngạo nghễ, ngất ngưởng chứ ko phải là nỗi niềm oán thán về việc mất tự do. Hi Văn là tên hiệu của Nguyễn Công Trứ. Nói trực tiếp về mình, gọi hiệu mình ra nhưng mà nói là cách diễn tả rất Nguyễn Công Trứ. Trước cụ Thượng Trứ, bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương cũng có lần xưng danh:

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

Này của Xuân Hương đã quệt rồi

                             (Mời trầu)

     Và tác giả truyện Kiều cũng đã từng xưng hiệu trong một câu thơ bi ai của Độc Tiểu Thanh kí:

Bất tri tam bách dư niên hậu

Người đời hà nhân khấp Tố Như?

(Ko biết ba trăm năm sau nữa

Người đời người nào người khóc Tố Như)

     Nhưng quả thực chưa người nào xưng danh rồi sau đó lại dám khẳng định luôn mình là người có tài năng như Nguyễn Công Trứ. Có điều, câu thơ tác giả nói về mình nhưng tựa như nói về người khác, nói một cách tự nhiên, hồn nhiên.

Lúc thủ khoa, lúc Tham tán, lúc Tổng đốc Đông,

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng,

Lúc bình Tây, cờ đại tướng,

Có lúc về Phủ doãn Thừa Thiên

     Đoạn thơ trên bộc lộ sự tự khẳng định niềm tự hào về tài năng văn võ song toàn của mình. Tuy vậy, cái hay của đoạn thơ trên trước hết xuất phát từ thái độ chân tình, hồn nhiên và sự trung thực của tác giả. Tiểu truyện Nguyễn Công Trứ quả đã có ghi: Vào năm 1819, ông đã đỗ thủ khoa kì thi Hương; 7 năm sau, Nguyễn Công Trứ làm tham tán công vụ, tới năm 1831 ông làm Tổng đốc tỉnh Đông (Hải An). Lúc 62 tuổi, ông được cử đi đánh thành Trấn Tây…Tuy là một người xuất thân quan văn, nhưng Nguyễn Công Trứ đã từng chỉ huy đánh tiểu phỉ ở biên giới phía Bắc, đánh giặc ở biên giới Tây Nam, rồi đàn áp các cuộc nổi loạn của nông dân.

     Sau câu thơ đầu vừa phân tích trên đây là hết sức quan trọng trong tạo nên cái cần thiết để tác giả tự bộc lộ một lối sống ngất ngưởng ở những câu thơ tiếp theo bằng giọng tự trào nhưng rất có duyên thông qua việc ông tự mô tả mình và lối sống của mình:

Đô môn giải tổ chi niên.

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.

Kìa núi nọ phau phau mây trắng,

Tay kiếm cung nhưng mà nên dạng từ bi.

Gót tiên theo lững thững một vài dì,

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.

     Đối với những nhà sang giàu quyền quí lúc xưa, ngựa là phương tiện giao thông chủ yếu. Đi ngựa là trình bày sự sang trọng và quyền lực. Nhưng cụ Thượng Trứ lại khác đời: cụ ko đi ngựa nhưng mà lại đi xe do con bò cái lông vàng kéo, rong chơi khắp chốn. Đã thế, trước cửa xe, cụ để bốn câu thơ trên một tấm mo cau:

Xuống ngựa, lên xe, nọ tưởng phàm

Lợm mùi giáng chức với thăng quan

Điền viên dạo chiếc xe bò cái

Sẵn tấm mo che mồm thế gian

     Quả thực, ở con người Nguyễn Công Trứ có sự tương phản gay gắt. Sự tương phản này tạo nên nét thu hút của tác giả, một tay ngất ngưởng: bò vàng lại đeo đạc ngựa, vôn tay kiếm cung nhưng mà lại từ bi, đi chùa nhưng mà lại mang theo cả …một vài dì. Điều đấy làm cho kẻ hiền lành, thoát bụt cũng cảm thấy nực cười.

     Vậy, vì sao Nguyễn Công Trứ sống giữa chốn lợi danh bon chen như thế nhưng mà vẫn điềm nhiên, thoát khỏi lẽ thường ở đời, nhất là đối với một quan lại triều đình trong chốn hoan lộ vốn bất bằng? Có nhẽ vì một lẽ đơn giản ngay trong tiềm thức, trong ý thức sâu xa của mình, ông đã ko quan tâm tới cái được, cái mất ở đời. Ta còn nhớ trong ngót ba mươi năm chốn quan trường, có lúc Nguyễn Công Trứ làm đại tướng,có lúc chỉ là một anh lính thú ở chốn biên cửa ải. Tuy vậy, lúc nào ông cũng điềm nhiên như ngọn gió xuân, mặc cho người đời khen hay chê:

Được mất dương dương người tái thượng,

Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

     Và nguyên nhân then chốt của thái độ sống này, của cái ngất ngưởng này chính là sự ý thức đầy đủ về cái tôi tư nhân, cá thể của mình, cũng như ý thức về tài năng và phẩm hạnh cùa mình.

     Cấu kết bài thơ, Nguyễn Công Trứ nhấn mạnh thêm một lần nữa cảm hứng ngất ngưởng bằng câu: Trong triều người nào ngất ngưởng như ông? Câu nghi vấn nhưng lại chính là câu khẳng định: trên đời này ko người nào lạ mắt, ngạo nghễ, ngất ngưởng bằng thi sĩ Nguyễn Công Trứ.

     Đặt trong cơ chế phong kiến, Bài ca ngất ngưởng có ý nghĩa về nhiều phương diện. Nó ít nhiều báo hiệu sự thức tỉnh của ý thức tư nhân, cá thể trong hoàn cảnh cái tôi ko được thừa nhận. Nó ghi nhận một bước tiến đáng kể trong lịch sử dân tộc theo hướng dân chủ hóa.

     Ngày nay, lối sống và cách sống ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ có thể cần được tiếp thu một cách cân nhắc. Tuy nhiên, bài thơ Bài ca ngất ngưởng vẫn có ý nghĩa, trước hết trong việc khích lệ người đọc hãy sống mạnh mẽ, hãy sống có ích để cuộc đời mình ngày một có ý nghĩa, ko chấp nhận một cuộc sống tẻ nhạt, vô nghĩa.

Cảm nhận về Bài ca ngất ngưởng – Bài mẫu 2

     Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) quê ở Hà Tĩnh, một danh nhân văn hoá văn võ toàn tài, là thi sĩ lỗi lạc của nước ta trong thế kỉ XIX. Ông còn để lại trên 60 bài hát nói, khoảng 50 bài thơ Nôm. Bài “Hàn nho phong vị phú”, bài thơ “Đi thi tự vịnh”, bài hát nói “Bài ca ngất ngưởng”… là những áng văn thơ tuyệt bút của ông để lại cho đời.

   “Bài ca ngất ngưởng” được Nguyễn Công Trứ viết trong thời kì 10 năm cuối đời (1848 – 1859) lúc ông về trí sĩ ở cố quốc. Bài thơ trình bày một phong cách sống đẹp của ông thi thiên tài tử. Theo tự điển tiếng Việt, ngất ngưởng tức là ko vững ở chỗ cheo leo, dễ đổ, dễ rơi. Ở bài thơ này, nên hiểu là một con người khác đời, một cách sống khác đời và bất chấp mọi người.

   Khổ đầu, câu 1, 2 đối lập giữa phận sự mang tầm vóc vũ trụ lớn lao với hoàn cảnh đã vào lồng rất chật hẹp tù túng. Thế nhưng mà ông Hi Văn đây – tự xưng rất đỗi tự hào tự hào – vẫn thi thố được tài năng, học giỏi, thi Hương đỗ hương nguyên (thủ khoa) làm quan võ là Tham tán, làm quan văn là Tổng đốc Đông. Là một con người có tài thao lược nên ta (ông Hi Văn) đã nên tay ngất ngưởng, một con người khác đời, khác người đời, và bất chấp mọi người. Câu 3, 4 với cách ngắt nhịp (3-3-4-3-3-2) đã tạo nên một giọng điệu hào hùng:

“Lúc Thủ khoa! lúc Tham tán lúc Tổng đốc Đông,

Gồm thao lược! đã nên tay! ngất ngưởng”.

   Khổ giữa: Tác giả khẳng định mình là một con người có tài kinh bang tế thế, lúc loạn thì giúp nước “bình Tây cờ đại tướng”, lúc bình thì giúp vua làm “Phủ doãn Thừa Thiên”. Đó là việc đã qua, còn nay đã về trí sĩ, nên ta sống ngất ngưởng bất chấp mọi người:

“Đô môn giải tổ chi niên,

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”.

   Nay đã trả áo mũ cho triều đình, ta về quê ko cưỡi ngựa nhưng mà là cưỡi bò vàng; con bò vàng của ta cũng đeo đạc ngựa, đó là một sự ngất ngưởng, rất khác người!

   Khổ dôi (hai khổ 3, 4) nói lên một cách sống ngất ngưởng. Xưa là một danh tướng (tay kiếm cung) thế nhưng mà nay rất từ bi hiền lành, bình dị. Đi vãn cảnh chùa chiền, đi thăm cảnh đẹp (Rú Nài): “Kìa núi nọ phau phau mây trắng”, ông đã mang theo “một vài dì” (một hai nàng hầu). Và do đó “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”. Bụt cười hay người đời cười, hay ông Hi Văn tự cười mình? Chuyện “được, mất” là lẽ đời như tích “thất mã tái ông” nhưng mà thôi, chẳng bận tâm làm gì! Chuyện “khen, chê” của người đời, xin bỏ ngoài tai như ngọn gió đông (xuân) thổi phơi phới qua: “khen chê phơi phới ngọn đông phong”.

   Ko quan tâm tới chuyện được mất, bỏ ngoài tai mọi lời khen, chê thị phi, ông đã sống những tháng ngày thư thả, vui thú. Tuy ngất ngưởng nhưng mà vẫn trong sạch, thanh cao. Cách ngắt nhịp 2/2, nghệ thuật hoà thanh (bằng trắc) lối nhấn, lối diễn tả trùng điệp đã tạo nên câu thơ giàu tính nhạc, biểu lộ một phong thái ung dung, yêu đời, ham sống, chẳng vướng chút bụi trần:

“Lúc ca ! lúc tửu ! lúc cấc ! lúc tùng,

Ko Phật ! ko Tiên !ko vướng tục”

   Khổ xếp, Nguyên Công Trứ tự hào khẳng định mình là một danh thần thuỷ chung trong đạo “vua tôi” chẳng kém gì những Trái Tuân, Nhạc Phi, Hàn Kỳ, Phú Bật – những anh tài đời Hán, đời Tống bên Trung Quốc. Rồi ông đĩnh đạc tự xếp vị thế của mình trong lịch sử:

“Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.

Trong triều người nào ngất ngưởng như ông!”.

   Hai so sánh xa, gần, ngoại, nội (Bắc sử và trong triều Nguyễn), tác giả đã kết thúc bài hát nói bằng một tiếng “ông” vang lên đĩnh đạc hào hùng.

   Tóm lại, với Nguyễn Công Trứ, phải có thực tài, phải có thực danh, phải “vẹn đạo vua tôi” thì mới trở thành “tay ngất ngưởng”, “ông ngất ngưởng” được. Và cách sống ngất ngưởng của ông trình bày chất tài hoa, tài tử, ko ô uế, “ko vướng tục” cũng ko thoát li.

Tương tự giainhat.vn đã trình diễn xong bài văn mẫu Cảm nhận về Bài ca ngất ngưởng. Kỳ vọng sẽ giúp ích các em trong quá trình làm bài và ôn luyện cùng tác phẩm. Chúc các em học tốt môn Văn!

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

Hình Ảnh về: Cảm nhận về Bài ca ngất ngưởng

Video về: Cảm nhận về Bài ca ngất ngưởng

Wiki về Cảm nhận về Bài ca ngất ngưởng

Cảm nhận về Bài ca ngất ngưởng -

Bạn đang gặp khó lúc làm bài Cảm nhận về Bài ca ngất ngưởng? Đừng lo! Hãy tham khảo những bài văn mẫu đã được tuyển chọn và biên soạn với nội dung ngắn gọn, cụ thể, hay nhất của giainhat.vn dưới đây để nắm được cách làm cũng như bổ sung thêm vốn từ ngữ nhé. Chúc các bạn có một tài liệu có lợi!

Dàn ý Cảm nhận về Bài ca ngất ngưởng

1. Mở bài: giới thiệu Bài ca ngất ngưỡng của Nguyễn Công Trứ

Ví dụ:

     Nguyễn Công Trứ là một vị quan, ông có những tài năng và chí khí, văn võ song toàn nhưng đường công danh của ông gặp nhiều khó khăn và gian nan. Ông còn là một người dân yêu nước, muốn góp sức cho non sông nhưng có những điều cản trở bước chân của ông. Để nói lên quãng đời làm quan và những trở ngại nhưng mà ông gặp phải trong quá trình làm quan ông đã sáng tác nên Bài ca ngất ngưỡng, chúng ta cùng đi tìm hiểu tác phẩm.

2. Thân bài: phân tích Bài ca ngất ngưỡng của Nguyễn Công Trứ


a. Sự ngất ngưỡng của tác giả ở quãng đời làm quan

– Ông tự đề cao mình trong trời đất

– Ông đã liệt kê những tài năng, công việc giỏi giang của mình: giỏi văn học, giỏi thao lược, giữ nhiều chức vị,…

– Tác giả tự hào về tài năng, những thành tựu mình đã đạt được

– Tác giả trình bày thái độ ngạo nghễ của mình với đời

b. Sự ngất ngưỡng của tác giả ở quê nhà:

– Thi sĩ có cách sống ngạo nghễ, giễu đời, tận hưởng thú vui của bản thân mình

– Thi sĩ ko màng tới chuyện khen thưởng

– Thi sĩ vẫn giữ tư cách mình ở những chừng mực

– Tác giả trình bày lòng trung thành với vua

– Ngất ngưỡng với đời, quan niệm sống

c. Ngất ngưỡng của tác giả ở chốn triều cung

– Thi sĩ khẳng định trong triều ko người nào ngất ngưỡng bằng ông

– Nêu rõ quan niệm sống của mình khác với tất cả mọi người

– Cái tôi ngất ngưỡng

3. Kết bài: nêu cảm nhận của em về bài ca ngất ngưỡng:

Cảm nhận về Bài ca ngất ngưởng – Bài mẫu 1


     Nói tới những thi sĩ nửa đầu thế kỷ XIX ko thể ko nhắc tới Nguyễn Công Trứ – thi sĩ, ông quan thị lang triều Nguyễn. Đây là một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử, một phần nhân vật hăm hở lập công, hết sức đề cao chí làm trai và cách sống rất lạ mắt, luôn tự do, phóng túng. Nguyễn Công Trứ được coi là một trong những thi sĩ nổi tiếng nhất đương thời, ông có công lớn trong việc nâng thể hát nói thành thể thi ca có khả năng biểu lộ những tình cảm phong phú và tinh tế.

     Trong số những bài thơ của Nguyễn Công Trứ sáng tác theo thể hát nói, nức tiếng hơn cả là bài thơ Bài ca ngất ngưởng. Đây là một tác phẩm được sáng tác sau lúc tác giả rời bỏ chốn quan trường về quê nhà sống cuộc đời ẩn dật. Đây cũng là lúc chất ngạo nghễ, ngất ngưởng vốn có của cụ Thượng Trứ được bộc lộ một cách đầy đủ nhất. Dẫu sao, tuy là một nhân vật có khả năng, giàu phong cách, nhưng lúc còn đang làm quan, Nguyễn Công Trứ cũng ko thể sống một cách tự do, ông vẫn phải tuân thủ những quy tắc của triều đình. Và như lịch sử đã ghi lại, trong nhiều triều đại phong kiến thì triều đại Nguyễn vẫn được coi là một triều đại có những thiết chế hết sức gò bó, phi lí, phi nhân đạo nhất.

     Bằng Bài ca ngất ngưởng, Nguyễn Công Trứ đã trình diễn một cách thật sinh động, lạ mắt bản sơ yếu lí lịch của mình và bao trùm bài thơ, người đọc có thể cảm nhận một lối sống khác người, khác đời của tác giả. Lối sống của ông đối lập với lối sống của tập đoàn, đối lập với những quan niệm chính thống lúc bấy giờ.

     Trước hết, ngay tiêu đề của bài thơ đã khiến người đọc phải chú ý, phải suy nghĩ. Cái lạ mắt của Nguyễn Công Trứ phải chăng được trình bày ngay trong cách ông đặt tiêu đề của bài thơ: Bài ca ngất ngưởng. Theo cách hiểu thông dụng, ngất ngưởng chỉ thế cao nhưng mà ko vững, dễ tan vỡ. Ví dụ: Bình hoa để ngất ngưởng. Ngoài ra, ngất ngưởng còn có tức là chỉ người đi thẳng, ko vững, lúc tiến lên phía trước, lúc thì ngả sang phải, lúc ngả sang trái…Đọc kỹ bài thơ, chúng ta có thể nhận thấy tiêu đề của bài thơ này góp phần quan trọng trong việc diễn tả thái độ, tư thế của nhân vật trữ tình – tác giả luôn vươn lên trên thói tục, sống giữa tập đoàn, giữa mọi người nhưng mà khác đời, khác người, bất chấp mọi người.

     Nguyễn Công Trứ thường nói tới chí nam nhi theo ý thức nho giáo. Trong bài Chí làm trai, thi sĩ khẳng định:

Chí làm trai nam, bắc, đông, tây

Cho phí sức vẫy vùng trong bốn bể

     Ở Bài ca ngất ngưởng, Nguyễn Công Trứ cũng mở đầu bằng một câu chữ Hán có tính chất tuyên ngôn trình bày cái chí làm trai nói trên: mọi việc trong trời đất chẳng có việc nào ko là phận sự của ta:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự

     Đây chính là điều nhưng mà Nguyễn Công Trứ tâm niệm. Chẳng thế nhưng mà luôn được ông nhắc tới trong rất nhiều bài thơ trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, vũ trụ chức vụ nội (việc vũ trụ là phận sự của ta – Gánh trung hiếu), vũ trụ ngã phận sự (Những việc trong vũ trụ là phận sự của ta – luận kẻ sĩ). Theo quan niệm của Nguyễn Công Trứ, đã sinh ra làm đấng tu mi, thì nhất quyết phải có danh gì với núi sông, phải làm những việc lớn lao, phải được ghi vào sử sách. Cái hay của câu thơ mở đầu chính là triết lí sống đúng mực và tình cảm chân tình của tác giả. Muốn xã hội tiến bộ, mỗi con người phải tự khẳng định mình, phải quyết tâm cao nhất làm được một việc gì đó có ích cho đời để có thể tự hào với mọi người. Khát vọng đó, quyết tâm đó là chính đáng, là rất đáng trân trọng; nhất là một lúc nó được trình bày một cách trực tiếp với một thái độ chan thành của thi sĩ.

     Tiếp đó, Nguyễn Công Trứ tự xưng tên mình, tự khẳng định tài năng của mình:

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

     Lâu nay, câu thơ này ít nhất đã có hai cách hiểu. Cách hiểu thứ nhất cho rằng: ông Hi Văn, một con người tài giỏi đã vào vòng cương tỏa của triều đình (như con chim yêu tự do, thích bay trên bầu trời cao rộng, nay bị nhốt vào lồng), và do đó, ông ko thể sống ngất ngưởng như mình muốn. Cách hiểu thứ hai: ông Hi Văn là người toàn tài, có thể sánh ngang với trời đất; lồng ở đây được hiểu là trời đất, là vũ trụ, trong quan niệm của người xưa thì đất có hình vuông và trời có hình tròn. Có nhẽ cách hiểu thứ hai thuyết phục hơn, nhất quán hơn so với cách hiểu thứ nhất; đặc thù nếu đặt trong cảm hứng bao trùm bài thơ, cách hiểu này có văn cứ hơn. Vả chăng, nội dung hai câu đầu thường sẽ chi phối toàn thể bài thơ, nhưng mà cảm hứng chủ đạo trong bài thơ này chính là cảm hứng ngạo nghễ, ngất ngưởng chứ ko phải là nỗi niềm oán thán về việc mất tự do. Hi Văn là tên hiệu của Nguyễn Công Trứ. Nói trực tiếp về mình, gọi hiệu mình ra nhưng mà nói là cách diễn tả rất Nguyễn Công Trứ. Trước cụ Thượng Trứ, bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương cũng có lần xưng danh:

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

Này của Xuân Hương đã quệt rồi

                             (Mời trầu)

     Và tác giả truyện Kiều cũng đã từng xưng hiệu trong một câu thơ bi ai của Độc Tiểu Thanh kí:

Bất tri tam bách dư niên hậu

Người đời hà nhân khấp Tố Như?

(Ko biết ba trăm năm sau nữa

Người đời người nào người khóc Tố Như)

     Nhưng quả thực chưa người nào xưng danh rồi sau đó lại dám khẳng định luôn mình là người có tài năng như Nguyễn Công Trứ. Có điều, câu thơ tác giả nói về mình nhưng tựa như nói về người khác, nói một cách tự nhiên, hồn nhiên.

Lúc thủ khoa, lúc Tham tán, lúc Tổng đốc Đông,

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng,

Lúc bình Tây, cờ đại tướng,

Có lúc về Phủ doãn Thừa Thiên

     Đoạn thơ trên bộc lộ sự tự khẳng định niềm tự hào về tài năng văn võ song toàn của mình. Tuy vậy, cái hay của đoạn thơ trên trước hết xuất phát từ thái độ chân tình, hồn nhiên và sự trung thực của tác giả. Tiểu truyện Nguyễn Công Trứ quả đã có ghi: Vào năm 1819, ông đã đỗ thủ khoa kì thi Hương; 7 năm sau, Nguyễn Công Trứ làm tham tán công vụ, tới năm 1831 ông làm Tổng đốc tỉnh Đông (Hải An). Lúc 62 tuổi, ông được cử đi đánh thành Trấn Tây…Tuy là một người xuất thân quan văn, nhưng Nguyễn Công Trứ đã từng chỉ huy đánh tiểu phỉ ở biên giới phía Bắc, đánh giặc ở biên giới Tây Nam, rồi đàn áp các cuộc nổi loạn của nông dân.

     Sau câu thơ đầu vừa phân tích trên đây là hết sức quan trọng trong tạo nên cái cần thiết để tác giả tự bộc lộ một lối sống ngất ngưởng ở những câu thơ tiếp theo bằng giọng tự trào nhưng rất có duyên thông qua việc ông tự mô tả mình và lối sống của mình:

Đô môn giải tổ chi niên.

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.

Kìa núi nọ phau phau mây trắng,

Tay kiếm cung nhưng mà nên dạng từ bi.

Gót tiên theo lững thững một vài dì,

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.

     Đối với những nhà sang giàu quyền quí lúc xưa, ngựa là phương tiện giao thông chủ yếu. Đi ngựa là trình bày sự sang trọng và quyền lực. Nhưng cụ Thượng Trứ lại khác đời: cụ ko đi ngựa nhưng mà lại đi xe do con bò cái lông vàng kéo, rong chơi khắp chốn. Đã thế, trước cửa xe, cụ để bốn câu thơ trên một tấm mo cau:

Xuống ngựa, lên xe, nọ tưởng phàm

Lợm mùi giáng chức với thăng quan

Điền viên dạo chiếc xe bò cái

Sẵn tấm mo che mồm thế gian

     Quả thực, ở con người Nguyễn Công Trứ có sự tương phản gay gắt. Sự tương phản này tạo nên nét thu hút của tác giả, một tay ngất ngưởng: bò vàng lại đeo đạc ngựa, vôn tay kiếm cung nhưng mà lại từ bi, đi chùa nhưng mà lại mang theo cả …một vài dì. Điều đấy làm cho kẻ hiền lành, thoát bụt cũng cảm thấy nực cười.

     Vậy, vì sao Nguyễn Công Trứ sống giữa chốn lợi danh bon chen như thế nhưng mà vẫn điềm nhiên, thoát khỏi lẽ thường ở đời, nhất là đối với một quan lại triều đình trong chốn hoan lộ vốn bất bằng? Có nhẽ vì một lẽ đơn giản ngay trong tiềm thức, trong ý thức sâu xa của mình, ông đã ko quan tâm tới cái được, cái mất ở đời. Ta còn nhớ trong ngót ba mươi năm chốn quan trường, có lúc Nguyễn Công Trứ làm đại tướng,có lúc chỉ là một anh lính thú ở chốn biên cửa ải. Tuy vậy, lúc nào ông cũng điềm nhiên như ngọn gió xuân, mặc cho người đời khen hay chê:

Được mất dương dương người tái thượng,

Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

     Và nguyên nhân then chốt của thái độ sống này, của cái ngất ngưởng này chính là sự ý thức đầy đủ về cái tôi tư nhân, cá thể của mình, cũng như ý thức về tài năng và phẩm hạnh cùa mình.

     Cấu kết bài thơ, Nguyễn Công Trứ nhấn mạnh thêm một lần nữa cảm hứng ngất ngưởng bằng câu: Trong triều người nào ngất ngưởng như ông? Câu nghi vấn nhưng lại chính là câu khẳng định: trên đời này ko người nào lạ mắt, ngạo nghễ, ngất ngưởng bằng thi sĩ Nguyễn Công Trứ.

     Đặt trong cơ chế phong kiến, Bài ca ngất ngưởng có ý nghĩa về nhiều phương diện. Nó ít nhiều báo hiệu sự thức tỉnh của ý thức tư nhân, cá thể trong hoàn cảnh cái tôi ko được thừa nhận. Nó ghi nhận một bước tiến đáng kể trong lịch sử dân tộc theo hướng dân chủ hóa.

     Ngày nay, lối sống và cách sống ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ có thể cần được tiếp thu một cách cân nhắc. Tuy nhiên, bài thơ Bài ca ngất ngưởng vẫn có ý nghĩa, trước hết trong việc khích lệ người đọc hãy sống mạnh mẽ, hãy sống có ích để cuộc đời mình ngày một có ý nghĩa, ko chấp nhận một cuộc sống tẻ nhạt, vô nghĩa.

Cảm nhận về Bài ca ngất ngưởng – Bài mẫu 2

     Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) quê ở Hà Tĩnh, một danh nhân văn hoá văn võ toàn tài, là thi sĩ lỗi lạc của nước ta trong thế kỉ XIX. Ông còn để lại trên 60 bài hát nói, khoảng 50 bài thơ Nôm. Bài “Hàn nho phong vị phú”, bài thơ “Đi thi tự vịnh”, bài hát nói “Bài ca ngất ngưởng”… là những áng văn thơ tuyệt bút của ông để lại cho đời.

   “Bài ca ngất ngưởng” được Nguyễn Công Trứ viết trong thời kì 10 năm cuối đời (1848 – 1859) lúc ông về trí sĩ ở cố quốc. Bài thơ trình bày một phong cách sống đẹp của ông thi thiên tài tử. Theo tự điển tiếng Việt, ngất ngưởng tức là ko vững ở chỗ cheo leo, dễ đổ, dễ rơi. Ở bài thơ này, nên hiểu là một con người khác đời, một cách sống khác đời và bất chấp mọi người.

   Khổ đầu, câu 1, 2 đối lập giữa phận sự mang tầm vóc vũ trụ lớn lao với hoàn cảnh đã vào lồng rất chật hẹp tù túng. Thế nhưng mà ông Hi Văn đây – tự xưng rất đỗi tự hào tự hào – vẫn thi thố được tài năng, học giỏi, thi Hương đỗ hương nguyên (thủ khoa) làm quan võ là Tham tán, làm quan văn là Tổng đốc Đông. Là một con người có tài thao lược nên ta (ông Hi Văn) đã nên tay ngất ngưởng, một con người khác đời, khác người đời, và bất chấp mọi người. Câu 3, 4 với cách ngắt nhịp (3-3-4-3-3-2) đã tạo nên một giọng điệu hào hùng:

“Lúc Thủ khoa! lúc Tham tán lúc Tổng đốc Đông,

Gồm thao lược! đã nên tay! ngất ngưởng”.

   Khổ giữa: Tác giả khẳng định mình là một con người có tài kinh bang tế thế, lúc loạn thì giúp nước “bình Tây cờ đại tướng”, lúc bình thì giúp vua làm “Phủ doãn Thừa Thiên”. Đó là việc đã qua, còn nay đã về trí sĩ, nên ta sống ngất ngưởng bất chấp mọi người:

“Đô môn giải tổ chi niên,

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”.

   Nay đã trả áo mũ cho triều đình, ta về quê ko cưỡi ngựa nhưng mà là cưỡi bò vàng; con bò vàng của ta cũng đeo đạc ngựa, đó là một sự ngất ngưởng, rất khác người!

   Khổ dôi (hai khổ 3, 4) nói lên một cách sống ngất ngưởng. Xưa là một danh tướng (tay kiếm cung) thế nhưng mà nay rất từ bi hiền lành, bình dị. Đi vãn cảnh chùa chiền, đi thăm cảnh đẹp (Rú Nài): “Kìa núi nọ phau phau mây trắng”, ông đã mang theo “một vài dì” (một hai nàng hầu). Và do đó “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”. Bụt cười hay người đời cười, hay ông Hi Văn tự cười mình? Chuyện “được, mất” là lẽ đời như tích “thất mã tái ông” nhưng mà thôi, chẳng bận tâm làm gì! Chuyện “khen, chê” của người đời, xin bỏ ngoài tai như ngọn gió đông (xuân) thổi phơi phới qua: “khen chê phơi phới ngọn đông phong”.

   Ko quan tâm tới chuyện được mất, bỏ ngoài tai mọi lời khen, chê thị phi, ông đã sống những tháng ngày thư thả, vui thú. Tuy ngất ngưởng nhưng mà vẫn trong sạch, thanh cao. Cách ngắt nhịp 2/2, nghệ thuật hoà thanh (bằng trắc) lối nhấn, lối diễn tả trùng điệp đã tạo nên câu thơ giàu tính nhạc, biểu lộ một phong thái ung dung, yêu đời, ham sống, chẳng vướng chút bụi trần:

“Lúc ca ! lúc tửu ! lúc cấc ! lúc tùng,

Ko Phật ! ko Tiên !ko vướng tục”

   Khổ xếp, Nguyên Công Trứ tự hào khẳng định mình là một danh thần thuỷ chung trong đạo “vua tôi” chẳng kém gì những Trái Tuân, Nhạc Phi, Hàn Kỳ, Phú Bật – những anh tài đời Hán, đời Tống bên Trung Quốc. Rồi ông đĩnh đạc tự xếp vị thế của mình trong lịch sử:

“Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.

Trong triều người nào ngất ngưởng như ông!”.

   Hai so sánh xa, gần, ngoại, nội (Bắc sử và trong triều Nguyễn), tác giả đã kết thúc bài hát nói bằng một tiếng “ông” vang lên đĩnh đạc hào hùng.

   Tóm lại, với Nguyễn Công Trứ, phải có thực tài, phải có thực danh, phải “vẹn đạo vua tôi” thì mới trở thành “tay ngất ngưởng”, “ông ngất ngưởng” được. Và cách sống ngất ngưởng của ông trình bày chất tài hoa, tài tử, ko ô uế, “ko vướng tục” cũng ko thoát li.

Tương tự giainhat.vn đã trình diễn xong bài văn mẫu Cảm nhận về Bài ca ngất ngưởng. Kỳ vọng sẽ giúp ích các em trong quá trình làm bài và ôn luyện cùng tác phẩm. Chúc các em học tốt môn Văn!

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

[rule_{ruleNumber}]

Source: giainhat.vn
Categories: Giáo dục

Viết một bình luận