Cảm nhận bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy (hay nhất)

Tuyển tập 900 bài văn mẫu 12 hay nhất với các chủ đề nhiều chủng loại như phân tích, cảm nhận, nghị luận. Cùng tham khảo bài Cảm nhận bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy để hiểu hơn về nội dung tác phẩm.

Cảm nhận bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy – Bài mẫu 1

   Điều quý giá nhất đối với mỗi người có thể không giống nhau, song quan trọng nhất là ta biết trân trọng và giữ gìn trị giá đó như thế nào. Thật vậy, đối với Nguyễn Duy, tình cảm gia đình, đặc thù là tình cảm bà cháu luôn là một ký ức đẹp trong tim. Qua Đò Lèn, tác giả đã bộc lộ những suy nghĩ sâu lắng về bà gắn liền với sự tỉnh ngộ, nhìn thấy được tình thương vô bờ nhưng bà dành cho cháu.

 Thi sĩ đã trình bày hình ảnh của người bà qua sự hồi nhớ:

Tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thế

Bà mò cua xúc tép ở đồng Quan


Bà đi gánh chè xanh ở Ba Trại

Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn….

   Đó là tất cả những khốn cùng, vất vả nhưng người bà đã tảo tần nuôi đứa cháu. Trong cái đói, cái khổ của thời xưa, nổi trội lên trên đó chính là hình ảnh lam lũ của bà. “Bà mò cua xúc tép”, đó là những việc làm hàng ngày để kiếm cái ăn chăm lo cho con cháu. Ẩn hiện trong câu thơ hình ảnh bà còng lưng, nhẫn nại mò cua bắt ốc, ko quản nặng nhọc để thú vui ánh lên trong những đôi mắt thơ ngây của cháu lúc có miếng ăn… Thế nhưng xúc động hơn cả là hình ảnh bà đi gánh chè đêm đêm. Cái khó cái khổ đè nặng trên đôi vai gầy của bà, trình bày trong từng bước chân “thập thững”. Cụ thể đó đủ khắc họa lên được bao nhiêu nhọc nhằn, khó khăn của đời bà. Bước thấp bước cao lần đi trong “những đêm hàn” buốt giá, bà trở thành nhỏ nhỏ, liêu xiêu, nhưng chất đầy sự thương yêu đối với con cháu, để làm nên một sức mạnh có thể đương đầu được với gió đêm, để có thể tiếp tục làm việc nuôi cháu. Bà hiện lên với sự mảnh mai, nhỏ nhỏ nhưng trên đôi vai bà gánh chè rong như gánh cả một gia đình, một tương lai của con cháu. “Mò cua xúc tép”, “gánh chè xanh” là cả một cuộc sống vất vả mưu sinh. Tuy tác giả ko nói tới, nhưng hình ảnh người bà hiện lên in đậm dấu thời kì. Một người bà chịu thương chịu thương chịu khó dai sức trong cuộc sống lam lũ, sớm khuya tảo tần. Để rồi từ đó tác giả trình bày niềm xót xa, ái ngại cho bà. Qua hình ảnh đó ta nhìn thấy đâu đó thoáng chút hình ảnh người mẹ thân yêu ở thi phẩm Bên kia sông Đuống:

Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong

Bước cao thấp bên bờ tre tun hút

    …

Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ…

   Cũng từ trong ướt lạnh sương gió, người mẹ hiền từ với hình ảnh “bước thấp bước cao”, nhọc nhằn trên đôi vai mẹ gánh hàng rong mong kiếm được miếng ăn, tất cả cuộc sống và tương lai của các con phụ thuộc vào gánh hàng rong của mẹ. Ko biết bao nhiêu người con sông Đuống đã lớn lên sau gánh hàng rong đó. Để rồi từ đó hình ảnh người bà, người mẹ hiện lên với đức hi sinh và tấm lòng bao dung to lớn.

   Thế nhưng, thi sĩ nói tới những điều đó với tâm trạng “Tôi đâu biết…” khắc họa được những nghẹn ngào trong câu nói. Đó là cả một tuổi thơ tinh nghịch, vô tư và hồn nhiên gắn với những trò chơi, trò đùa nghịch của trẻ em như câu cá, theo bà đi chợ, bắt chim, ăn trộm nhãn, chơi đền, xem lễ… Thế nhưng để cháu được như thế, bà đã phải nhọc nhằn như thế nào. Qua đó trình bày sự vô tư tới vô tâm, vô tính của người cháu. Phải chăng lúc đó cháu còn thơ nhỏ để ngẫm tới những cực khổ của bà!

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực

giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần

cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng

cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm….

   “Trong suốt” khắc họa nên sự vô tư, thơ ngây, hồn nhiên của tác giả lúc nhỏ. “Hai bờ hư – thực”, hai toàn cầu không giống nhau. Một toàn cầu hiện hữu với tất cả tình mến thương của bà, và toàn cầu hư ảo, vô thực của những “tiên, Phật, thánh, thần”, những câu chuyện cổ tích… Thi sĩ ko sống tất cả vì ngày nay, vì tình thương của bà, nhưng mải bận mơ về những chuyện hư ảo. Điều đó cho thấy tác giả sống với toàn cầu hư và toàn cầu thực lộn lạo với nhau. Để rồi hai câu thơ sau nhấn mạnh mức độ của sự lộn lạo đó: những mùi hương cứ trộn lẫn lại với nhau. Hiện thực khó khăn “năm đói” làm người bà càng phải khổ cực hơn nữa. Cậu nhỏ nhỏ lúc đó chỉ biết vui chơi chứ chưa biết nghĩ tới bà mình, lại ko nhìn thấy trị giá “củ dong riềng luộc sượng” vất vả bà kiếm được, ko biết thương bà, vô tâm, vô tính trước nỗi khốn cùng của bà… Để rồi sau này, lúc tác giả đã lớn, đã trưởng thành, đã nhìn thấy được tình mến thương của bà dành cho mình, đã biết thương yêu bà thì bà chỉ còn là nấm cỏ:

Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại

dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi

lúc tôi biết thương bà thì đã muộn

bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi….

   Lúc này cháu đã trưởng thành trong nhận thức về cuộc đời, ko còn sống trong niềm tin về sự thân thiện, tương đồng giữa hai toàn cầu thực và ảo, nhưng đã “đi lính”, đã biết cầm súng chống lại cái ác cái xấu. Quê hương vẫn còn đấy, những địa danh vẫn còn lưu giữ những kỉ niệm tuổi thơ, “dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi”, nhưng hình bóng của bà thì ko còn nữa. Sự thức tỉnh gắn liền với sự hối lỗi bởi lúc cháu biết thương bà thì thời cơ đền đáp đã ko còn. Chính sự tỉnh ngộ đó làm cho tình thương bà càng tức tưởi xót xa vì tất cả đã quá muộn màng…

   Thật vậy, trong cuộc đời mỗi con người, người nào cũng có điều đáng để hối tiếc. Nhưng quan trọng nhất phải biết sống sao cho trọn vẹn với tất cả, nhất là những người thân yêu của mình. Đừng để lúc có tình thương đó nhưng ko nhìn thấy, ko biết giữ gìn, ko biết trân trọng với những gì mình đang có cũng như để những thương yêu ta phải buồn lòng; nhưng mê mải mong muốn, theo đuổi những trị giá xa vời để rồi lúc nó mất đi ta mới biết thương, biết quý thì tất cả cũng đã quá trễ, quá muộn…

Cảm nhận bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy – Bài mẫu 2

    Trong phong trào thơ trẻ thời kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Nguyễn Duy xác lập được một lối đi riêng: ko ngang tàng, “bụi bặm” theo kiểu Phạm Tiến Duật, ko gân guốc như Nguyễn Đức Mậu hay nghiêm trang như Nguyễn Khoa Điềm, nhưng nghiêng về quan sát, phân tích đời sống rồi bằng trải nghiệm tư nhân rút ra những triết lí bất thần và thâm thúy. Hơi ấm ổ rơm, Tre Việt Nam,… đều cùng mạch suy tư khởi nguồn từ những điều nhỏ nhỏ. Đọc thơ Nguyễn Duy ta thường bắt gặp những xúc cảm đầm ấm, hồn hậu đã lắng kết trong ta thành kí ức cội nguồn, thành tiềm thức văn hoá, như mùi hương tuổi thơ, dẫu phảng phất mơ hồ nhưng ko thể nào quên được. Đò Lèn, được viết sau ngày non sông đã im tiếng súng, con người trở lại quỹ đạo của đời sống hoà bình, nhưng ở đây vẫn nguyên vẹn là một Nguyễn Duy đắm sâu triết lí nhưng thanh thoát nhẹ nhõm trong hơi thơ dân dã tự nhiên, một cái tôi nghệ sĩ có khả năng nối kết từ hồi ức riêng tư tới lịch sử dân tộc.

    Bài thơ triển khai kết cấu theo dòng chảy của hoài niệm tuổi thơ, ngỡ ngọt ngào nhưng té ra xa xót, ngậm ngùi:

– Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

– Thuỏ nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị

rồi thổ lộ:

   – Tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thế

rồi suy tưởng: 

   – Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực

rồi kể lể:

– Bom Mĩ giội, nhà bà tôi bay mất

– Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại.

   Đại từ “tôi” nhỏ nhó, tư nhân, có vẻ lặng lẽ nữa, ko phải cái thế kiêu bạc của người lính chiến “ung dung buồng lái ta ngồi” (Phạm Tiến Duật) nhưng trĩu nặng những ân tình, những bộc bạch, sẻ chia.

   Cái tôi hồi ức, kể lể, thổ lộ đó là cầu nối hai mạch thơ, hai tính chất của bài thơ này: mạch tự sự và mạch trữ tình, tính chất “kể lại, phản ánh” (một câu chuyện) và “suy tưởng, chiêm ngẫm, xúc cảm” (những nông sâu lẽ đời). Đó là một kết cấu có thể tìm được ở nhiều bài khác (ví dụ Bát nước ngô của bà mẹ ở Cam Lộ, Bầu trời vuông, Tiếng độc huyền, Hơi ấm ổ rơm). Nét riêng lẻ của Đò Lèn có nhẽ nằm ở những sức níu tương phản: hiện thực (cái đói, chiến tranh) và tâm linh (tiên, Phật, thánh thần), lịch sử và đời thường / tư nhân (bà, tôi). Và điều kì lạ được cảm nhận từ sức mạnh của những tương phản là: cái đói ko hủy diệt được cái đẹp tâm linh trong lúc chiến tranh (bom Mĩ giội) thì huỷ diệt được cả tiên, Phật, thánh thần. Nhưng cả nghèo đói lẫn sự tàn khốc của chiến tranh bất thần lại tôn lên sừng sững, vững chãi hình ảnh người bà. Do đó, một mặt bài thơ là hiện thực, một hiện thực dữ dội, kinh khủng (“nhà bà tôi bay mất”, “bay tuốt cả chùa chiền”, “thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết”), mặt khác cũng là tâm linh (“cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm”) và một hình ảnh đời thực: “bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”. Sức mạnh của con người trong đời thực, vượt qua những chấn động lịch sử, sẽ còn ám ảnh hơn cả “mùi huệ trắng, hương trầm”. Cảm hứng về cái đẹp (hồi ức tuổi thơ) sẽ dần chuyển sang cảm hứng về cái thường nhật (trong sự đối sánh với cái thiêng – giờ đã bị giải thiêng).

     Tiếng nói thơ ở Đò Lèn giản dị, trong sáng, ko một từ nào khó hiểu, nhưng lúc đứng cạnh nhau trong một câu thơ, những câu cạnh nhau thành bài thơ, tất cả tạo nên một ám ảnh da diết lạ lùng.

     Kí ức về tuổi thơ như ánh chớp loé lên những ấn tượng sống động, hiện hữu: hành động (níu váy bà), thú vui (câu cá, bắt chim sẻ, hái trộm nhãn), mùi hương (mùi huệ trắng, khói trầm), một âm thanh điệu hát chầu văn, một dáng người lảo đảo,… Những địa danh cống Na, Bình Lâm, chùa Trần, đền Sòng, đền Cây Thị,… thân thuộc với tác giả, cũng ko hề xa lạ với bất kỳ người dân Việt Nam nào từng sống ở thôn quê.

    Nguyễn Duy thật tài tình lúc chỉ phác vài nét bút đã có thể làm rõ, chẳng hạn hình ảnh một cậu nhỏ “níu váy bà đi chợ Bình Lâm”, “chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng”; nhưng tài tình hơn là khả năng làm mờ, làm ảo hoá ko gian, bằng và trong tiếng nói, ở hai câu thơ đẹp như ảo giác:

mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm 

điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng.

     Ngoài từ “thơm lắm” là một ấn tượng rõ (một xúc cảm thơ ngây) thì mỗi chữ trong hai câu này đều ảo. Mùi huệ thơm, nhưng là mùi thơm “trắng”, lại quyện với khói trầm trắng đục trở thành mùi hương duy nhất, hương kỉ niệm, hương tuổi hoa niên “thơm lắm”, ko gì thay thế được. Điệu hát văn là âm thanh, nhưng cũng là hình ảnh cô đồng “lảo đảo”. Những từ ngữ đều nghiêng về cảm giác, hoặc nhìn ra cái hư ảo: mùi, trắng, quyện, khói, thơm, bóng, lảo đảo,…

     Ngữ pháp câu thơ cũng đặc thù nhưng nếu thử phân tích chủ – vị hoặc tìm các cách ngắt nhịp sẽ thấy tính chất nhoè mờ của nó. Có rất nhiều đoán định không giống nhau từ các khả năng ngữ pháp của hai câu thơ này: mùi huệ trắng là chủ, nhưng cũng có thể “mùi huệ trắng quyện khói trầm” là chủ, nhưng “mùi huệ”https://toploigiai.vn/”trắng quyện khói” xem ra vẫn ổn. Cũng vậy, ở câu thứ hai có thể là: (trong) “điệu hát văn” “lảo đảo bóng cô đồng”https://toploigiai.vn/”điệu hát văn” (làm) “lảo đảo bóng cô đồng”https://toploigiai.vn/”điệu hát văn” và “bóng cô đồng” cùng “lảo đảo”,… Câu trên là một hương thơm ảo, màu sắc ảo (hương huệ, hương trầm, màu trắng hoa huệ, màu khói) câu dưới là một hình bóng ảo (cô đồng), một âm thanh ảo (điệu hát văn), bóng cô đồng lảo đảo đi ra từ điệu hát văn, chứ ko phải một cô đồng thật (huống hồ lại là “bóng”!).

     Kí ức của thi sĩ làm sống dậy một ko gian say người: say vì hương thơm và âm nhạc, say vì một cái gì thuộc về tâm linh, ảo diệu. Một cặp câu thơ tạo ko gian “nhập đồng”. Và đó là cái nhìn của hồi ức, là nét vẽ của hồi ức, phi lí tính. Nó cũng giống như lúc Nguyễn Duy viết về Đà Lạt một lần trăng:

Trăng ảo giác lấp lửng trong sương trắng 

Ngọn gió nhà người nào nhấp nhoáng bên đồi 

Tiếng vó ngựa gõ ròn trên dốc vắng 

Nghe mơ hồ một tiếng lá thông rơi…

    Mỗi câu thơ đều tinh tới từng chữ, nhưng cái tinh cứ tự nhiên như ko chút dụng công. Những câu lạ của Đò Lèn chính là những câu thơ đưa dẫn về phía tâm linh, bằng cảm nhận sơ khai của con trẻ:

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực 

giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần 

cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng 

cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm

     “Trong suốt” là một cảm nghiệm tâm linh, hay là một ảo giác, một tôn giáo của tâm hồn thơ dại giữa hư – thực, bà – tiên, Phật, thánh, thần ? Thực ra đâu sẽ là hư, đâu là thực ? Người bà cụ thể là thực chăng ? Nhưng cũng là hư lúc có bao điều quan trọng nhưng “tôi đâu biết”. Tiên, Phật, thánh, thần,… là hư nhưng cũng đã từng là thực trong niềm tin tuổi nhỏ. Ở đây, những tương phản tạo thành sức ám ảnh của từ ngữ, hình ảnh thơ như hư – như thực, cái hiện thực (củ dong riềng luộc sượng) – cái tâm linh huyền ảo, hay niềm tin lãng mạn vượt lên hiện thực đó (mùi huệ trắng, hương trầm thơm). Cái đói là một hiện thực, nhưng nó ko giết thịt được cái đẹp. Nó giữ người ta ở trạng thái “trong suốt” – độ trong nhìn xuyên thấu, một trạng thái tồn tại ko còn thân thể, một trạng thái hoà nhập tâm linh. Trong suốt chứ ko phải trong veo trẻ thơ (“Tiếng ve trong veo xé đôi hồ nước” – Hoàng Nhuận Cầm), ko phải trong trắng, trong sạch, trong biếc,… Trong suốt, là một cảm giác tâm linh.

     Trong dòng hồi ức của người cháu, hình ảnh người bà là một ám ảnh, một thú vui, một xa xót, một ăn năn,… Trở lại câu hỏi: Người bà là hiện thực hay là hình ảnh của tâm linh ? Nhiều độc giả chắc còn nhớ tới người bà tảo tần cùng bếp lửa sưởi ấm tuổi thơ của Bằng Việt:

Một bếp lửa lẩn vẩn sương sớm 

Một bếp lửa ấp iu nồng đượm 

Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

                             (Bếp lửa)

      Và đây, người bà khốn cùng như biết bao người bà, người mẹ Việt Nam, trong thơ Nguyễn Duy:

Tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thế

bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

bà đi gánh chè xanh Ba Trại

Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn.

      Những địa danh riêng ở đây vẫn đem lại xúc cảm chung về quê hương nguồn cội; người bà tuy là của “tôi” nhưng không hề riêng tư. Chỉ với một từ “thập thững”, người đọc đã như nhìn thấy những bước chân già nua trong giá rét: thập thững, ko phải lẫm chẫm (bước chân của đứa trẻ đặt lên mặt đất từng bước một), như có cả hơi thở dồn. Ko hoàn toàn giống đôi chân “Bước cao thấp bên bờ tre tun hút” đầy hốt hoảng trong câu thơ Hoàng Cầm, nhưng là bước đi thường nhật của người già: bước đi lên – xuống theo nhịp quang gánh trĩu xuống, yếu ớt, bước đi gây cảm thương… Nó thành một từ ám ảnh nhưng âm thanh lúc đọc lên đã tạo sắc thái ý nghĩa. “Tôi đâu biết” là một cái giật thót, một nỗi xa xót, như cái giật thót, xa xót của bao nhiêu người con lúc nghĩ về mẹ, về bà – những người nữ giới Việt Nam. Hướng về cuộc đời khốn cùng đó, tiếng nói bài thơ cũng chân thực, dung dị. Đó là người bà của đời thường, xa lạ với cái nhìn thi vị, lí tưởng hoá (ý thức này ở Nguyễn Duy rất mạnh, ông thường khắc hoạ hình tượng mẹ theo cách này: “Mẹ ta ko có yếm đào – Nón mê thay nón quai thao đội đầu – Rối ren tay bí tay bầu – Váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa”).

        Đò Lèn còn một hình ảnh về người bà được viên nổi trong ko gian hiện thực dữ dội:

Bom Mĩ giội, nhà bà tôi hay mất 

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền 

thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết 

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn.

     Cách dùng khẩu ngữ và giọng suồng sã của đời sống với lối nói “bay mất”, “bay tuốt”, “rủ nhau đi đâu hết” mang nét nghĩa mỉa mai càng làm rõ cái khốc liệt của chiến tranh. Tác giả ko chỉ tạo một cảm giác “sốc” về sự kiện (bom Mĩ giội), nhưng còn tạo một cơn “sốc” xúc cảm hẫng hụt (“thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết”),… Chùa chiền, thánh, Phật là huyền thoại, là tôn giáo, nhưng cũng vẫn là cái khả biến, hoặc có thể chỉ là cái vỏ của huyền thoại nhưng tuổi thơ cả tin không thể nhìn thấy.

    Vậy đó, chiến tranh, bom Mĩ và sức tàn phá dữ dội của nó làm người ta thấy rõ: chẳng có gì kì diệu hơn sức mạnh của con người, kì diệu sao là sức mạnh của con người tầm thường, nhỏ nhỏ: “Bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”. Bình tâm như ko là cái phi thường nhất trong bối cảnh hiện thực thất thường đó!

    Nếu theo mạch cảm hứng của thơ ca thời kháng chiến chống đế quốc Mĩ, có thể hình ảnh này sẽ khơi nguồn cho một huyền thoại mới: huyền thoại về con người. (Chẳng hạn, như đã từng thấy trong thơ Tố Hữu một mẹ Tơm “Bóng mẹ ngồi trông vọng nước non”, “Sông trong cát chốt vùi trong cát – Những trái tim như ngọc sáng ngời”; một mẹ Suốt “Ngửng đầu mái tóc mẹ rung – Gió lay như sóng biển tung trắng bờ”,…). Nhưng Nguyễn Duy ko ngừng ở cảm hứng khẳng định sức mạnh kì diệu của con người, ko nhập vào dòng huyền thoại để ngợi ca, dù hình ảnh người bà bán trứng ở ga Lèn xứng đáng là một trong những hình ảnh khắc ghi sâu đậm về con người Việt Nam trong cảnh “bom Mỹ giội” gợi triết lí về cái đời thường và cái lịch sử, cái khả biến và ổn định,… Khổ cuối cùng của bài thơ vần đọng kết một nỗi buồn sâu, buồn lâu và một suy ngẫm phổ quát về những kiếp người bình dị, vô danh:

Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại 

dòng sông xưa vẫn bên lở, bên hồi 

lúc tôi biết thương bà thì đã muộn

bà chỉ còn là một nấm cỏ thỏi.

    Cách kể “Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại” tưởng như lời tự sự tầm thường, nhưng ngẫm ra, nó chất chứa trong đó cả một quá khứ, nén dồn thời kì dằng dặc của một trận đánh tranh, những nén dồn tâm trạng, vì con người bị cuốn theo dòng chảy lịch sử, ko được sống với đời thường.

    Nhiều người đã biết tới cái “nấm cỏ khâu xanh rì” như một triết lí buồn về thân phận con người (“Trăm năm nào có gì đâu – Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì” – Cung oán ngâm khúc), hay cái nấm đất “sè sò” của Nguyễn Du bên con dường dìu dặt bước chân trai thanh gái lịch như định mệnh dành cho kẻ “hồng nhan đa truân” (“Sè sè nấm đất bên đường – Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh” – Truyện Kiều). Ở Đò Lèn của Nguyễn Duy, cái “nấm cỏ khâu” kia, cái “nấm đất sè sè” đó, tròn nhỏ lại thành “nấm cỏ” ám ảnh hơn vì nó Việt Nam hơn, và càng ám ảnh lúc đặt nó vào dòng thác cuộn chảy của lịch sử. Tự nhiên thì vẫn vậy “dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi”, chỉ có con người đã thành hư vô. Những cuộc biến thiên dâu bể tác động mạnh ko chỉ tới một dân tộc, tới những cái thuộc về tôn giáo của dân tộc, ko chỉ làm bay mất cả đền chùa miếu mạo nhưng cụ thể hơn, máu thịt hơn, nó hằn dấu lên kí ức con người, lên thân phận con người. Từ cách nhìn đó, bài thơ tưởng chừng rất tư nhân (tư nhân tới từ cái nhan đề Đò Lèn) lại mang đậm một cảm hứng lịch sử, một cách nhìn lịch sử, một sự “nhận thức lại lịch sử”. Nằm trong mạch suy ngẫm đó, những tác phẩm tự sự sẽ có tiếng nói lớn hơn (chẳng hạn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh hay một số truyện ngắn mượn chất liệu lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp,…). Tuy nhiên, thơ “nói nhỏ”, nói nhẹ và buồn nhưng thấm thía theo cách riêng.

    Chuyện thánh thần bay mất… vừa có ý nghĩa tố cáo tội ác quân thù (vì tàn phá tới cả tôn giáo thiêng liêng) vừa hoá giải huyền thoại của một niềm tin thơ ngây, nông nổi (những cái đó nhưng cũng “bay mất”, “bay tuốt”) – nhất là lúc ngôn từ thơ đầy chất suồng sã, khôi hài thì cảm giác hoá giải huyền thoại càng rõ, vừa để khẳng định sức sống của những con người tầm thường như “bà tôi” vừa giã từ mộng tưởng về quyền năng thần thánh. Cuối cùng, “bà tôi” cũng như bao con người xứng đáng là huyền thoại đó lại trở về với “nấm cỏ” vô danh, khiêm nhượng, nhỏ nhỏ nhưng vĩnh hằng. Người ta vốn chỉ quen nhớ lịch sử theo những dấu mốc sự kiện; còn những phần chìm lấp, dễ bị quên lãng, những tư nhân nhỏ nhỏ sẽ được người nào nhớ tới nếu ko phải thơ ca, ko phải nghệ thuật ? Cái buồn ở bài thơ để lại ấn tượng đậm nét hơn cái đẹp, cái lãng mạn tâm linh, nhưng hoàn toàn có cơ sở để tin rằng thánh thần, chùa chiền có thể bay mất, riêng cái mùi hương trầm, huệ trắng vẫn sẽ thơm mãi trong kí ức con người – đó là một sức mạnh tâm linh ko gì huỷ diệt được.

    Quả là sức nén, sức ám ảnh của một bài thơ, có thể đáng sợ hơn một tiểu thuyết, điều này ko phải là một cách nói ngoa.


Cảm nhận bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy – Bài mẫu 3

    Cuộc sống có những điều được gọi là nỗi nhớ, cứ xa xôi vô hình; có những hình ảnh được gọi là hoài niệm mãi triền miên, dằng dặc; và có những tình cảm được gọi là mến thương luôn ấm nồng thâm thúy nhưng thường đi xa rồi người ta mới biết cách gọi tên chúng. Ta gọi chúng như là hoài niệm, là nỗi nhớ, mến thương…

   Cuộc đời người ngắn ngủi như chiếc lá, thoáng chốc thôi cũng đủ để măng non chuyển sắc vàng. Người ta lớn lên, bon chen nhau nhưng sống để rồi biết bao lần lại tìm về tuổi thơ trong những nỗi nhớ xa xôi như thế. Với Nguyễn Duy đó lại là cả một toàn cầu của “Đò Lèn” – nơi lắng kết những trị giá vĩnh hằng – bài thơ nhưng cái tên thôi đã gợi lên giữa lòng người nhiều suy nghĩ. Những người đã biết sẽ thấy thân thuộc nhưng những người ko biết lại dễ phân vân: cái gì là “Đò Lèn”? Hai tiếng đó vô tình trở thành một khái niệm khó tưởng tượng trong lúc thực chất nó lại vô cùng giản dị. Nó ko phải là con đò, là dòng sông, bến nước hay cái gì đó chợt nảy ra lúc lần đầu nghe tới. Đò Lèn là tên một miền đất như bao miền đất khác, nơi đã tạo nên tuổi thơ, tạo nên hoài niệm trong bao lớp người xứ Thanh Hóa:

Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

níu váy bà đi chợ Bình Lâm

bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và thỉnh thoảng ăn trộm nhãn chùa Trần

   Tuổi thơ được tác giả gợi lên với hình ảnh của bà, với những trò chơi thuở nhỏ. Ở đó có cậu nhóc nào ham chơi mê mải câu cá, có cô nhỏ nào nũng nịu: níu váy bà ra chợ sắm quà. Cái cống Na và chợ Bình Lâm hẳn đã là cả một thiên đường của thi sĩ. Ông viết nó giản dị và chân thực như vừa đem từ cuộc sống vào chứ ko chỉ từ một nỗi nhớ thôi. Nào là đi bắt chim sẻ, rồi đi ăn trộm nhãn của chùa,… được lang thang trên đồng ruộng, trong những ngôi chùa, khu vườn rộn ràng tiếng chim kêu. Ko gian mở ra rộng lớn và mênh mông thỏa mãn tính hiếu động, say mê khám phá của tuổi nhỏ, đưa chúng hòa nhập vào tự nhiên, đất trời. Được chơi đùa, được tinh nghịch thoải mái mới thấy hết niềm thích thú vô tận. Đó thật sự là tuổi thơ đúng nghĩa, khác hẳn với ko gian nhỏ nhỏ xung quanh bởi 4 bức tường chật hẹp hiện giờ. Ta có thể tưởng tượng ra trước mắt là hình ảnh một cậu nhỏ tinh nghịch, lấm lem nhưng mắt sáng ngời. Ko có quần áo đẹp, ko có búp bê, siêu nhân, những tuổi thơ như thế hôm nay chỉ còn phảng phất trong nỗi nhớ người trưởng thành, trong ánh mắt xa lạ hào hứng của trẻ em lúc xem phim, đọc truyện ngày trước – cái thời của ba, của ông mình. Đoạn thơ như một cuốn phim quay chậm triền miên, dằng dặc trôi đi:

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị

chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng

mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm

điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng

   Trở về tuổi thơ ta nhìn thấy niềm hạnh phúc thơ ngây, trong sáng với đôi chân nhỏ nhỏ thoăn thoắt khắp nơi, ru mình trong làn hương và điệu hát. Bàn “chân đất” đã trở thành hình ảnh ko thể nào quên đối với mỗi người, cái cảm giác được trực tiếp chạm chân vào đất mát lạnh tới vô cùng, nó ghi dấu hành trình những đêm lễ xa xôi. Và cũng như thế, mùi huệ trắng, làn khói trầm, điệu hát văn đã đi vào từ vô thức! Tất cả chúng góp phần tạo nên tuổi thơ đầy hồn nhiên, tinh nghịch trong tâm hồn mỗi người đã đi qua tuổi thơ, nhiều lúc phải xin “cho tôi một vé đi tuổi thơ”.

     Từ ngày đó tới hiện giờ là cả một quá trình con người lớn lên, tạo nên nhận thức. Ngày còn nhỏ vô tư, vô tư:

Tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thế

bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

bà đi gánh chè xanh Ba Trại

Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn

   Bà hiện lên trong cuộc sống của cháu lặng lẽ, lặng lẽ… Cái đầu non nớt và trái tim nhỏ dại đâu biết thế nào là nỗi khốn cùng, nhìn mọi việc rồi cũng sớm quên đi. Ko trách được bởi lẽ trẻ em đâu thể thâm thúy như người lớn nhưng hoặc giả có thâm thúy thì tâm hồn đã chai sạn đi rồi đâu còn là trẻ em với nét thơ dại – cái thơ dại được ấp ủ bằng mồ hôi và nước mắt bà. Mến thương cao thượng tạo điều kiện cho tâm hồn tránh những bão dông.

   Ngày còn nhỏ, yêu bà là yêu những câu chuyện cổ tích lung linh huyền ảo:

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư thực

giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần

    Bà thổi vào tâm hồn non nớt cái hồn dân tộc bao thế kỉ trong dân gian. Truyện bà kể lung linh sắc màu cổ tích, mang cháu tới với toàn cầu của những phép màu kì diệu: Cô Tấm chui ra từ quả thị, Lọ Lem sánh duyên cùng hoàng tử. Bà có mái tóc bạc phơ, có nụ cười hiền như bà tiên trong truyện kể. Bà dọa cháu rằng chằn tinh rất dữ, bảo cháu phải nghe lời,… Nhiều, và nhiều lắm… Chính những câu chuyện đã giúp cháu biết yêu cái thiện, ghét điều ác, có ước mơ và kỳ vọng. Thỉnh thoảng, tìm về tuổi thơ là tìm tới những điều tương tự, nghe lòng mình kể lại lời bà ấm áp. Tâm hồn sẽ được thanh lọc và trong sáng hơn. Cái ranh giới hư thực trong suốt như chính tuổi thơ con người vậy. Dễ tin, dễ nhớ và cũng dễ quên.

   Lớn lên một tẹo cũng là lúc phải đương đầu với hiện thực, cái đói trở thành nỗi ám ảnh triền miên:

cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng

cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm

    Đọc câu thơ ta bỗng nhớ về khoảng thời kì:

Năm đó là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy

Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

Nghĩ lại tới giờ sống mũi còn cay!

   Nạn đói những năm 45 như một nỗi kinh hoàng rải khắp non sông. Củ dong, củ riềng cũng thành bạn, sượng sùng nhưng đáng nhớ, đáng thương. Mùi huệ trắng hương trầm cũng phảng phất như cái thoáng trở về bình yên… Những đứa trẻ thơ ngây mơ về một mùi hương đã lắng sâu vào đất, tâm hồn, thân thuộc và rất đỗi bình dị. Đói kém ko làm mờ đục tấm lòng trong sáng của trẻ thơ nhưng trái lại nó còn gợi nên những ước mong, thiện cảm thầm kín nhưng đáng yêu.

    Còn lại gì giữa nỗi nhớ cái bình yên ngày trước? Nó có là hoài niệm thương đau, đau xót?

Bom Mỹ giội, nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

thánh với phật rủ nhau đi đâu hết

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn

    Quê hương ngày khốc liệt in sâu vào tiềm thức trong khi những hình ảnh sự vật thân thuộc bị tàn phá. Bom đạn ko chỉ phá nát đất quê hương nhưng còn xóa nhòa đi tuổi thơ tươi đẹp. Kế bên ko gian thiên đường thuở nào là đổ nát, hoang tàn. Nhà bà, đền, chùa, tất cả tan biến đi dường như quá nhanh đối với những đứa trẻ chưa kịp lớn hoàn toàn. “thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết ” lay dậy niềm xót xa, như khẽ chạm vào vết đau nhạy cảm. Cái băn khoăn hết sức trẻ em lại là niềm đau trong lòng người hiểu chuyện như bà. Ko còn quá thơ ngây, có nhẽ lũ trẻ hôm nào đã hiểu được cái nguyên nhân đằng sau nó. Nhưng như chưa tin vào chính mình nên mới thành nỗi băn khoăn chưa dám hỏi. Ko còn nữa thánh, Phật mơ hồ, huyền diệu, thực tiễn dữ dội đối lập lại hoàn toàn. Còn bà vẫn vậy, lam lũ tháng ngày: “Bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”.

    Lúc lớn lên, con người nhận thức được đầy đủ hơn, làm thành một hành trình trở về man mác:

Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại

dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi

lúc tôi biết thương bà thì đã muộn

bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi.

   Tình cảm tập trung hướng về bà, con người lam lũ ngập tràn mến thương. Bà nuôi lớn cháu để hôm nay cháu trở về đây chững chàng, tử tế. Cháu đã và đang là một người lính bảo vệ mảnh đất này, bảo vệ những tuổi thơ như cháu ngày xưa. Chút gì là hối tiếc, mến thương muộn màng. Đời người mấy người nào nhưng vẹn tròn tất cả ! Con sông kia cũng bên lở bên bồi như người vậy. Bảo rằng đã muộn nhưng chưa bao giờ là quá muộn cả. Mến thương đâu cần biểu lộ rõ, cháu lớn lên thành người đã là cách thương bà tuyệt diệu nhất. Giờ đây đứng trước mộ bà những vất vả hy sinh ngày xưa càng trở thành thấm thía. Bà đã đi mang theo tất cả những điều đẹp nhất của tuổi thơ cháu bình yên trong nặng nhọc. Mất đi ko phải là kết thúc. Bà ko còn – cháu lớn lên hiến dâng cho non sông, đó là cách tiếp nối sự sống đầy ý nghĩa. Nấm cỏ của bà chôn chặt mọi niềm đau, giữ lại miền ký ức trong sáng cho con người tìm về lúc mỏi mệt.

   Tổ quốc mình có biết bao người bà như thế! Bà là hiện thân cho phụ nữ Việt Nam hiền lành, tảo tần hôm sớm. Những ngày non sông chiến tranh, bà thay cha mẹ nuôi nấng con cháu, giữ cho cháu trọn vẹn một tuổi thơ. Đâu đâu ta cũng nghe nhắc về bà như một hình ảnh thiêng liêng nhất. Người bà đi vào trái tim mỗi người như một lẽ tự nhiên, là miền ký ức vĩnh hằng:

“Tiếng gà trưa

Mang bao nhiêu hạnh phúc

Đêm cháu về nằm mơ

Giấc ngủ hồng sắc trứng.”

   Bà, tuổi thơ và những hình ảnh thân thuộc bình dị trong cuộc sống tạo nên trị giá cao đẹp nhất. Đi tìm đâu cái xa xôi trong khi hạnh phúc luôn song hành trong cuộc đời mỗi người. Nó là tình mến thương vô điều kiện, là những tháng ngày vui chơi thỏa thích. Chúng như mảng màu rực rỡ chiếu sáng tâm hồn, hướng con người về chỗ cái đẹp, cái thiện căn: “Nhân chi sơ tính bổn thiện”.

   Cùng với bà, quê hương Đò Lèn hiện lên sống động giữa tuổi thơ chan hòa. Nó hiện diện trong cái tinh nghịch thiếu thời, trong từng giấc mơ trẻ thơ, là nơi con người vẫy vùng, ngụp lặn. Mảnh đất lúc yên bình, lúc đớn đau oằn mình vì đạn bom nhưng lúc nào cũng phảng phất hương huệ thơm ngần, cái thứ hương vị đã trở thành đặc trưng tồn tại giữa tiềm thức. Đò Lèn của cống Na, chùa Trần, con sông hai bờ bồi lở, cái tên mộc mạc nhưng chân tình thiết tha. Đò Lèn – nơi đó có bà, có cháu, có tất cả hoài niệm mến thương tồn tại vĩnh hằng cùng nỗi nhớ!

Trên đây là các bài văn mẫu Cảm nhận bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy do giainhat.vn sưu tầm được, mong rằng với nội dung tham khảo này thì các em sẽ có thể hoàn thiện bài văn của mình tốt nhất!

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

Hình Ảnh về: Cảm nhận bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy

(hay nhất)

Video về: Cảm nhận bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy

(hay nhất)

Wiki về Cảm nhận bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy

(hay nhất)

Cảm nhận bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy

(hay nhất) -

Tuyển tập 900 bài văn mẫu 12 hay nhất với các chủ đề nhiều chủng loại như phân tích, cảm nhận, nghị luận. Cùng tham khảo bài Cảm nhận bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy để hiểu hơn về nội dung tác phẩm.

Cảm nhận bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy – Bài mẫu 1

   Điều quý giá nhất đối với mỗi người có thể không giống nhau, song quan trọng nhất là ta biết trân trọng và giữ gìn trị giá đó như thế nào. Thật vậy, đối với Nguyễn Duy, tình cảm gia đình, đặc thù là tình cảm bà cháu luôn là một ký ức đẹp trong tim. Qua Đò Lèn, tác giả đã bộc lộ những suy nghĩ sâu lắng về bà gắn liền với sự tỉnh ngộ, nhìn thấy được tình thương vô bờ nhưng bà dành cho cháu.

 Thi sĩ đã trình bày hình ảnh của người bà qua sự hồi nhớ:

Tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thế

Bà mò cua xúc tép ở đồng Quan


Bà đi gánh chè xanh ở Ba Trại

Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn….

   Đó là tất cả những khốn cùng, vất vả nhưng người bà đã tảo tần nuôi đứa cháu. Trong cái đói, cái khổ của thời xưa, nổi trội lên trên đó chính là hình ảnh lam lũ của bà. “Bà mò cua xúc tép”, đó là những việc làm hàng ngày để kiếm cái ăn chăm lo cho con cháu. Ẩn hiện trong câu thơ hình ảnh bà còng lưng, nhẫn nại mò cua bắt ốc, ko quản nặng nhọc để thú vui ánh lên trong những đôi mắt thơ ngây của cháu lúc có miếng ăn… Thế nhưng xúc động hơn cả là hình ảnh bà đi gánh chè đêm đêm. Cái khó cái khổ đè nặng trên đôi vai gầy của bà, trình bày trong từng bước chân “thập thững”. Cụ thể đó đủ khắc họa lên được bao nhiêu nhọc nhằn, khó khăn của đời bà. Bước thấp bước cao lần đi trong “những đêm hàn” buốt giá, bà trở thành nhỏ nhỏ, liêu xiêu, nhưng chất đầy sự thương yêu đối với con cháu, để làm nên một sức mạnh có thể đương đầu được với gió đêm, để có thể tiếp tục làm việc nuôi cháu. Bà hiện lên với sự mảnh mai, nhỏ nhỏ nhưng trên đôi vai bà gánh chè rong như gánh cả một gia đình, một tương lai của con cháu. “Mò cua xúc tép”, “gánh chè xanh” là cả một cuộc sống vất vả mưu sinh. Tuy tác giả ko nói tới, nhưng hình ảnh người bà hiện lên in đậm dấu thời kì. Một người bà chịu thương chịu thương chịu khó dai sức trong cuộc sống lam lũ, sớm khuya tảo tần. Để rồi từ đó tác giả trình bày niềm xót xa, ái ngại cho bà. Qua hình ảnh đó ta nhìn thấy đâu đó thoáng chút hình ảnh người mẹ thân yêu ở thi phẩm Bên kia sông Đuống:

Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong

Bước cao thấp bên bờ tre tun hút

    …

Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ…

   Cũng từ trong ướt lạnh sương gió, người mẹ hiền từ với hình ảnh “bước thấp bước cao”, nhọc nhằn trên đôi vai mẹ gánh hàng rong mong kiếm được miếng ăn, tất cả cuộc sống và tương lai của các con phụ thuộc vào gánh hàng rong của mẹ. Ko biết bao nhiêu người con sông Đuống đã lớn lên sau gánh hàng rong đó. Để rồi từ đó hình ảnh người bà, người mẹ hiện lên với đức hi sinh và tấm lòng bao dung to lớn.

   Thế nhưng, thi sĩ nói tới những điều đó với tâm trạng “Tôi đâu biết…” khắc họa được những nghẹn ngào trong câu nói. Đó là cả một tuổi thơ tinh nghịch, vô tư và hồn nhiên gắn với những trò chơi, trò đùa nghịch của trẻ em như câu cá, theo bà đi chợ, bắt chim, ăn trộm nhãn, chơi đền, xem lễ… Thế nhưng để cháu được như thế, bà đã phải nhọc nhằn như thế nào. Qua đó trình bày sự vô tư tới vô tâm, vô tính của người cháu. Phải chăng lúc đó cháu còn thơ nhỏ để ngẫm tới những cực khổ của bà!

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực

giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần

cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng

cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm….

   “Trong suốt” khắc họa nên sự vô tư, thơ ngây, hồn nhiên của tác giả lúc nhỏ. “Hai bờ hư – thực”, hai toàn cầu không giống nhau. Một toàn cầu hiện hữu với tất cả tình mến thương của bà, và toàn cầu hư ảo, vô thực của những “tiên, Phật, thánh, thần”, những câu chuyện cổ tích… Thi sĩ ko sống tất cả vì ngày nay, vì tình thương của bà, nhưng mải bận mơ về những chuyện hư ảo. Điều đó cho thấy tác giả sống với toàn cầu hư và toàn cầu thực lộn lạo với nhau. Để rồi hai câu thơ sau nhấn mạnh mức độ của sự lộn lạo đó: những mùi hương cứ trộn lẫn lại với nhau. Hiện thực khó khăn “năm đói” làm người bà càng phải khổ cực hơn nữa. Cậu nhỏ nhỏ lúc đó chỉ biết vui chơi chứ chưa biết nghĩ tới bà mình, lại ko nhìn thấy trị giá “củ dong riềng luộc sượng” vất vả bà kiếm được, ko biết thương bà, vô tâm, vô tính trước nỗi khốn cùng của bà… Để rồi sau này, lúc tác giả đã lớn, đã trưởng thành, đã nhìn thấy được tình mến thương của bà dành cho mình, đã biết thương yêu bà thì bà chỉ còn là nấm cỏ:

Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại

dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi

lúc tôi biết thương bà thì đã muộn

bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi….

   Lúc này cháu đã trưởng thành trong nhận thức về cuộc đời, ko còn sống trong niềm tin về sự thân thiện, tương đồng giữa hai toàn cầu thực và ảo, nhưng đã “đi lính”, đã biết cầm súng chống lại cái ác cái xấu. Quê hương vẫn còn đấy, những địa danh vẫn còn lưu giữ những kỉ niệm tuổi thơ, “dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi”, nhưng hình bóng của bà thì ko còn nữa. Sự thức tỉnh gắn liền với sự hối lỗi bởi lúc cháu biết thương bà thì thời cơ đền đáp đã ko còn. Chính sự tỉnh ngộ đó làm cho tình thương bà càng tức tưởi xót xa vì tất cả đã quá muộn màng…

   Thật vậy, trong cuộc đời mỗi con người, người nào cũng có điều đáng để hối tiếc. Nhưng quan trọng nhất phải biết sống sao cho trọn vẹn với tất cả, nhất là những người thân yêu của mình. Đừng để lúc có tình thương đó nhưng ko nhìn thấy, ko biết giữ gìn, ko biết trân trọng với những gì mình đang có cũng như để những thương yêu ta phải buồn lòng; nhưng mê mải mong muốn, theo đuổi những trị giá xa vời để rồi lúc nó mất đi ta mới biết thương, biết quý thì tất cả cũng đã quá trễ, quá muộn…

Cảm nhận bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy – Bài mẫu 2

    Trong phong trào thơ trẻ thời kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Nguyễn Duy xác lập được một lối đi riêng: ko ngang tàng, “bụi bặm” theo kiểu Phạm Tiến Duật, ko gân guốc như Nguyễn Đức Mậu hay nghiêm trang như Nguyễn Khoa Điềm, nhưng nghiêng về quan sát, phân tích đời sống rồi bằng trải nghiệm tư nhân rút ra những triết lí bất thần và thâm thúy. Hơi ấm ổ rơm, Tre Việt Nam,… đều cùng mạch suy tư khởi nguồn từ những điều nhỏ nhỏ. Đọc thơ Nguyễn Duy ta thường bắt gặp những xúc cảm đầm ấm, hồn hậu đã lắng kết trong ta thành kí ức cội nguồn, thành tiềm thức văn hoá, như mùi hương tuổi thơ, dẫu phảng phất mơ hồ nhưng ko thể nào quên được. Đò Lèn, được viết sau ngày non sông đã im tiếng súng, con người trở lại quỹ đạo của đời sống hoà bình, nhưng ở đây vẫn nguyên vẹn là một Nguyễn Duy đắm sâu triết lí nhưng thanh thoát nhẹ nhõm trong hơi thơ dân dã tự nhiên, một cái tôi nghệ sĩ có khả năng nối kết từ hồi ức riêng tư tới lịch sử dân tộc.

    Bài thơ triển khai kết cấu theo dòng chảy của hoài niệm tuổi thơ, ngỡ ngọt ngào nhưng té ra xa xót, ngậm ngùi:

– Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

– Thuỏ nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị

rồi thổ lộ:

   – Tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thế

rồi suy tưởng: 

   – Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực

rồi kể lể:

– Bom Mĩ giội, nhà bà tôi bay mất

– Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại.

   Đại từ “tôi” nhỏ nhó, tư nhân, có vẻ lặng lẽ nữa, ko phải cái thế kiêu bạc của người lính chiến “ung dung buồng lái ta ngồi” (Phạm Tiến Duật) nhưng trĩu nặng những ân tình, những bộc bạch, sẻ chia.

   Cái tôi hồi ức, kể lể, thổ lộ đó là cầu nối hai mạch thơ, hai tính chất của bài thơ này: mạch tự sự và mạch trữ tình, tính chất “kể lại, phản ánh” (một câu chuyện) và “suy tưởng, chiêm ngẫm, xúc cảm” (những nông sâu lẽ đời). Đó là một kết cấu có thể tìm được ở nhiều bài khác (ví dụ Bát nước ngô của bà mẹ ở Cam Lộ, Bầu trời vuông, Tiếng độc huyền, Hơi ấm ổ rơm). Nét riêng lẻ của Đò Lèn có nhẽ nằm ở những sức níu tương phản: hiện thực (cái đói, chiến tranh) và tâm linh (tiên, Phật, thánh thần), lịch sử và đời thường / tư nhân (bà, tôi). Và điều kì lạ được cảm nhận từ sức mạnh của những tương phản là: cái đói ko hủy diệt được cái đẹp tâm linh trong lúc chiến tranh (bom Mĩ giội) thì huỷ diệt được cả tiên, Phật, thánh thần. Nhưng cả nghèo đói lẫn sự tàn khốc của chiến tranh bất thần lại tôn lên sừng sững, vững chãi hình ảnh người bà. Do đó, một mặt bài thơ là hiện thực, một hiện thực dữ dội, kinh khủng (“nhà bà tôi bay mất”, “bay tuốt cả chùa chiền”, “thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết”), mặt khác cũng là tâm linh (“cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm”) và một hình ảnh đời thực: “bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”. Sức mạnh của con người trong đời thực, vượt qua những chấn động lịch sử, sẽ còn ám ảnh hơn cả “mùi huệ trắng, hương trầm”. Cảm hứng về cái đẹp (hồi ức tuổi thơ) sẽ dần chuyển sang cảm hứng về cái thường nhật (trong sự đối sánh với cái thiêng – giờ đã bị giải thiêng).

     Tiếng nói thơ ở Đò Lèn giản dị, trong sáng, ko một từ nào khó hiểu, nhưng lúc đứng cạnh nhau trong một câu thơ, những câu cạnh nhau thành bài thơ, tất cả tạo nên một ám ảnh da diết lạ lùng.

     Kí ức về tuổi thơ như ánh chớp loé lên những ấn tượng sống động, hiện hữu: hành động (níu váy bà), thú vui (câu cá, bắt chim sẻ, hái trộm nhãn), mùi hương (mùi huệ trắng, khói trầm), một âm thanh điệu hát chầu văn, một dáng người lảo đảo,… Những địa danh cống Na, Bình Lâm, chùa Trần, đền Sòng, đền Cây Thị,… thân thuộc với tác giả, cũng ko hề xa lạ với bất kỳ người dân Việt Nam nào từng sống ở thôn quê.

    Nguyễn Duy thật tài tình lúc chỉ phác vài nét bút đã có thể làm rõ, chẳng hạn hình ảnh một cậu nhỏ “níu váy bà đi chợ Bình Lâm”, “chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng”; nhưng tài tình hơn là khả năng làm mờ, làm ảo hoá ko gian, bằng và trong tiếng nói, ở hai câu thơ đẹp như ảo giác:

mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm 

điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng.

     Ngoài từ “thơm lắm” là một ấn tượng rõ (một xúc cảm thơ ngây) thì mỗi chữ trong hai câu này đều ảo. Mùi huệ thơm, nhưng là mùi thơm “trắng”, lại quyện với khói trầm trắng đục trở thành mùi hương duy nhất, hương kỉ niệm, hương tuổi hoa niên “thơm lắm”, ko gì thay thế được. Điệu hát văn là âm thanh, nhưng cũng là hình ảnh cô đồng “lảo đảo”. Những từ ngữ đều nghiêng về cảm giác, hoặc nhìn ra cái hư ảo: mùi, trắng, quyện, khói, thơm, bóng, lảo đảo,…

     Ngữ pháp câu thơ cũng đặc thù nhưng nếu thử phân tích chủ – vị hoặc tìm các cách ngắt nhịp sẽ thấy tính chất nhoè mờ của nó. Có rất nhiều đoán định không giống nhau từ các khả năng ngữ pháp của hai câu thơ này: mùi huệ trắng là chủ, nhưng cũng có thể “mùi huệ trắng quyện khói trầm” là chủ, nhưng “mùi huệ”https://toploigiai.vn/”trắng quyện khói” xem ra vẫn ổn. Cũng vậy, ở câu thứ hai có thể là: (trong) “điệu hát văn” “lảo đảo bóng cô đồng”https://toploigiai.vn/”điệu hát văn” (làm) “lảo đảo bóng cô đồng”https://toploigiai.vn/”điệu hát văn” và “bóng cô đồng” cùng “lảo đảo”,… Câu trên là một hương thơm ảo, màu sắc ảo (hương huệ, hương trầm, màu trắng hoa huệ, màu khói) câu dưới là một hình bóng ảo (cô đồng), một âm thanh ảo (điệu hát văn), bóng cô đồng lảo đảo đi ra từ điệu hát văn, chứ ko phải một cô đồng thật (huống hồ lại là “bóng”!).

     Kí ức của thi sĩ làm sống dậy một ko gian say người: say vì hương thơm và âm nhạc, say vì một cái gì thuộc về tâm linh, ảo diệu. Một cặp câu thơ tạo ko gian “nhập đồng”. Và đó là cái nhìn của hồi ức, là nét vẽ của hồi ức, phi lí tính. Nó cũng giống như lúc Nguyễn Duy viết về Đà Lạt một lần trăng:

Trăng ảo giác lấp lửng trong sương trắng 

Ngọn gió nhà người nào nhấp nhoáng bên đồi 

Tiếng vó ngựa gõ ròn trên dốc vắng 

Nghe mơ hồ một tiếng lá thông rơi…

    Mỗi câu thơ đều tinh tới từng chữ, nhưng cái tinh cứ tự nhiên như ko chút dụng công. Những câu lạ của Đò Lèn chính là những câu thơ đưa dẫn về phía tâm linh, bằng cảm nhận sơ khai của con trẻ:

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực 

giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần 

cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng 

cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm

     “Trong suốt” là một cảm nghiệm tâm linh, hay là một ảo giác, một tôn giáo của tâm hồn thơ dại giữa hư – thực, bà – tiên, Phật, thánh, thần ? Thực ra đâu sẽ là hư, đâu là thực ? Người bà cụ thể là thực chăng ? Nhưng cũng là hư lúc có bao điều quan trọng nhưng “tôi đâu biết”. Tiên, Phật, thánh, thần,… là hư nhưng cũng đã từng là thực trong niềm tin tuổi nhỏ. Ở đây, những tương phản tạo thành sức ám ảnh của từ ngữ, hình ảnh thơ như hư – như thực, cái hiện thực (củ dong riềng luộc sượng) – cái tâm linh huyền ảo, hay niềm tin lãng mạn vượt lên hiện thực đó (mùi huệ trắng, hương trầm thơm). Cái đói là một hiện thực, nhưng nó ko giết thịt được cái đẹp. Nó giữ người ta ở trạng thái “trong suốt” – độ trong nhìn xuyên thấu, một trạng thái tồn tại ko còn thân thể, một trạng thái hoà nhập tâm linh. Trong suốt chứ ko phải trong veo trẻ thơ (“Tiếng ve trong veo xé đôi hồ nước” – Hoàng Nhuận Cầm), ko phải trong trắng, trong sạch, trong biếc,… Trong suốt, là một cảm giác tâm linh.

     Trong dòng hồi ức của người cháu, hình ảnh người bà là một ám ảnh, một thú vui, một xa xót, một ăn năn,… Trở lại câu hỏi: Người bà là hiện thực hay là hình ảnh của tâm linh ? Nhiều độc giả chắc còn nhớ tới người bà tảo tần cùng bếp lửa sưởi ấm tuổi thơ của Bằng Việt:

Một bếp lửa lẩn vẩn sương sớm 

Một bếp lửa ấp iu nồng đượm 

Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

                             (Bếp lửa)

      Và đây, người bà khốn cùng như biết bao người bà, người mẹ Việt Nam, trong thơ Nguyễn Duy:

Tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thế

bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

bà đi gánh chè xanh Ba Trại

Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn.

      Những địa danh riêng ở đây vẫn đem lại xúc cảm chung về quê hương nguồn cội; người bà tuy là của “tôi” nhưng không hề riêng tư. Chỉ với một từ “thập thững”, người đọc đã như nhìn thấy những bước chân già nua trong giá rét: thập thững, ko phải lẫm chẫm (bước chân của đứa trẻ đặt lên mặt đất từng bước một), như có cả hơi thở dồn. Ko hoàn toàn giống đôi chân “Bước cao thấp bên bờ tre tun hút” đầy hốt hoảng trong câu thơ Hoàng Cầm, nhưng là bước đi thường nhật của người già: bước đi lên – xuống theo nhịp quang gánh trĩu xuống, yếu ớt, bước đi gây cảm thương… Nó thành một từ ám ảnh nhưng âm thanh lúc đọc lên đã tạo sắc thái ý nghĩa. “Tôi đâu biết” là một cái giật thót, một nỗi xa xót, như cái giật thót, xa xót của bao nhiêu người con lúc nghĩ về mẹ, về bà – những người nữ giới Việt Nam. Hướng về cuộc đời khốn cùng đó, tiếng nói bài thơ cũng chân thực, dung dị. Đó là người bà của đời thường, xa lạ với cái nhìn thi vị, lí tưởng hoá (ý thức này ở Nguyễn Duy rất mạnh, ông thường khắc hoạ hình tượng mẹ theo cách này: “Mẹ ta ko có yếm đào – Nón mê thay nón quai thao đội đầu – Rối ren tay bí tay bầu – Váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa”).

        Đò Lèn còn một hình ảnh về người bà được viên nổi trong ko gian hiện thực dữ dội:

Bom Mĩ giội, nhà bà tôi hay mất 

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền 

thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết 

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn.

     Cách dùng khẩu ngữ và giọng suồng sã của đời sống với lối nói “bay mất”, “bay tuốt”, “rủ nhau đi đâu hết” mang nét nghĩa mỉa mai càng làm rõ cái khốc liệt của chiến tranh. Tác giả ko chỉ tạo một cảm giác “sốc” về sự kiện (bom Mĩ giội), nhưng còn tạo một cơn “sốc” xúc cảm hẫng hụt (“thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết”),… Chùa chiền, thánh, Phật là huyền thoại, là tôn giáo, nhưng cũng vẫn là cái khả biến, hoặc có thể chỉ là cái vỏ của huyền thoại nhưng tuổi thơ cả tin không thể nhìn thấy.

    Vậy đó, chiến tranh, bom Mĩ và sức tàn phá dữ dội của nó làm người ta thấy rõ: chẳng có gì kì diệu hơn sức mạnh của con người, kì diệu sao là sức mạnh của con người tầm thường, nhỏ nhỏ: “Bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”. Bình tâm như ko là cái phi thường nhất trong bối cảnh hiện thực thất thường đó!

    Nếu theo mạch cảm hứng của thơ ca thời kháng chiến chống đế quốc Mĩ, có thể hình ảnh này sẽ khơi nguồn cho một huyền thoại mới: huyền thoại về con người. (Chẳng hạn, như đã từng thấy trong thơ Tố Hữu một mẹ Tơm “Bóng mẹ ngồi trông vọng nước non”, “Sông trong cát chốt vùi trong cát – Những trái tim như ngọc sáng ngời”; một mẹ Suốt “Ngửng đầu mái tóc mẹ rung – Gió lay như sóng biển tung trắng bờ”,…). Nhưng Nguyễn Duy ko ngừng ở cảm hứng khẳng định sức mạnh kì diệu của con người, ko nhập vào dòng huyền thoại để ngợi ca, dù hình ảnh người bà bán trứng ở ga Lèn xứng đáng là một trong những hình ảnh khắc ghi sâu đậm về con người Việt Nam trong cảnh “bom Mỹ giội” gợi triết lí về cái đời thường và cái lịch sử, cái khả biến và ổn định,… Khổ cuối cùng của bài thơ vần đọng kết một nỗi buồn sâu, buồn lâu và một suy ngẫm phổ quát về những kiếp người bình dị, vô danh:

Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại 

dòng sông xưa vẫn bên lở, bên hồi 

lúc tôi biết thương bà thì đã muộn

bà chỉ còn là một nấm cỏ thỏi.

    Cách kể “Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại” tưởng như lời tự sự tầm thường, nhưng ngẫm ra, nó chất chứa trong đó cả một quá khứ, nén dồn thời kì dằng dặc của một trận đánh tranh, những nén dồn tâm trạng, vì con người bị cuốn theo dòng chảy lịch sử, ko được sống với đời thường.

    Nhiều người đã biết tới cái “nấm cỏ khâu xanh rì” như một triết lí buồn về thân phận con người (“Trăm năm nào có gì đâu – Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì” – Cung oán ngâm khúc), hay cái nấm đất “sè sò” của Nguyễn Du bên con dường dìu dặt bước chân trai thanh gái lịch như định mệnh dành cho kẻ “hồng nhan đa truân” (“Sè sè nấm đất bên đường – Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh” – Truyện Kiều). Ở Đò Lèn của Nguyễn Duy, cái “nấm cỏ khâu” kia, cái “nấm đất sè sè” đó, tròn nhỏ lại thành “nấm cỏ” ám ảnh hơn vì nó Việt Nam hơn, và càng ám ảnh lúc đặt nó vào dòng thác cuộn chảy của lịch sử. Tự nhiên thì vẫn vậy “dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi”, chỉ có con người đã thành hư vô. Những cuộc biến thiên dâu bể tác động mạnh ko chỉ tới một dân tộc, tới những cái thuộc về tôn giáo của dân tộc, ko chỉ làm bay mất cả đền chùa miếu mạo nhưng cụ thể hơn, máu thịt hơn, nó hằn dấu lên kí ức con người, lên thân phận con người. Từ cách nhìn đó, bài thơ tưởng chừng rất tư nhân (tư nhân tới từ cái nhan đề Đò Lèn) lại mang đậm một cảm hứng lịch sử, một cách nhìn lịch sử, một sự “nhận thức lại lịch sử”. Nằm trong mạch suy ngẫm đó, những tác phẩm tự sự sẽ có tiếng nói lớn hơn (chẳng hạn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh hay một số truyện ngắn mượn chất liệu lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp,…). Tuy nhiên, thơ “nói nhỏ”, nói nhẹ và buồn nhưng thấm thía theo cách riêng.

    Chuyện thánh thần bay mất… vừa có ý nghĩa tố cáo tội ác quân thù (vì tàn phá tới cả tôn giáo thiêng liêng) vừa hoá giải huyền thoại của một niềm tin thơ ngây, nông nổi (những cái đó nhưng cũng “bay mất”, “bay tuốt”) – nhất là lúc ngôn từ thơ đầy chất suồng sã, khôi hài thì cảm giác hoá giải huyền thoại càng rõ, vừa để khẳng định sức sống của những con người tầm thường như “bà tôi” vừa giã từ mộng tưởng về quyền năng thần thánh. Cuối cùng, “bà tôi” cũng như bao con người xứng đáng là huyền thoại đó lại trở về với “nấm cỏ” vô danh, khiêm nhượng, nhỏ nhỏ nhưng vĩnh hằng. Người ta vốn chỉ quen nhớ lịch sử theo những dấu mốc sự kiện; còn những phần chìm lấp, dễ bị quên lãng, những tư nhân nhỏ nhỏ sẽ được người nào nhớ tới nếu ko phải thơ ca, ko phải nghệ thuật ? Cái buồn ở bài thơ để lại ấn tượng đậm nét hơn cái đẹp, cái lãng mạn tâm linh, nhưng hoàn toàn có cơ sở để tin rằng thánh thần, chùa chiền có thể bay mất, riêng cái mùi hương trầm, huệ trắng vẫn sẽ thơm mãi trong kí ức con người – đó là một sức mạnh tâm linh ko gì huỷ diệt được.

    Quả là sức nén, sức ám ảnh của một bài thơ, có thể đáng sợ hơn một tiểu thuyết, điều này ko phải là một cách nói ngoa.


Cảm nhận bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy – Bài mẫu 3

    Cuộc sống có những điều được gọi là nỗi nhớ, cứ xa xôi vô hình; có những hình ảnh được gọi là hoài niệm mãi triền miên, dằng dặc; và có những tình cảm được gọi là mến thương luôn ấm nồng thâm thúy nhưng thường đi xa rồi người ta mới biết cách gọi tên chúng. Ta gọi chúng như là hoài niệm, là nỗi nhớ, mến thương…

   Cuộc đời người ngắn ngủi như chiếc lá, thoáng chốc thôi cũng đủ để măng non chuyển sắc vàng. Người ta lớn lên, bon chen nhau nhưng sống để rồi biết bao lần lại tìm về tuổi thơ trong những nỗi nhớ xa xôi như thế. Với Nguyễn Duy đó lại là cả một toàn cầu của “Đò Lèn” – nơi lắng kết những trị giá vĩnh hằng – bài thơ nhưng cái tên thôi đã gợi lên giữa lòng người nhiều suy nghĩ. Những người đã biết sẽ thấy thân thuộc nhưng những người ko biết lại dễ phân vân: cái gì là “Đò Lèn”? Hai tiếng đó vô tình trở thành một khái niệm khó tưởng tượng trong lúc thực chất nó lại vô cùng giản dị. Nó ko phải là con đò, là dòng sông, bến nước hay cái gì đó chợt nảy ra lúc lần đầu nghe tới. Đò Lèn là tên một miền đất như bao miền đất khác, nơi đã tạo nên tuổi thơ, tạo nên hoài niệm trong bao lớp người xứ Thanh Hóa:

Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

níu váy bà đi chợ Bình Lâm

bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và thỉnh thoảng ăn trộm nhãn chùa Trần

   Tuổi thơ được tác giả gợi lên với hình ảnh của bà, với những trò chơi thuở nhỏ. Ở đó có cậu nhóc nào ham chơi mê mải câu cá, có cô nhỏ nào nũng nịu: níu váy bà ra chợ sắm quà. Cái cống Na và chợ Bình Lâm hẳn đã là cả một thiên đường của thi sĩ. Ông viết nó giản dị và chân thực như vừa đem từ cuộc sống vào chứ ko chỉ từ một nỗi nhớ thôi. Nào là đi bắt chim sẻ, rồi đi ăn trộm nhãn của chùa,… được lang thang trên đồng ruộng, trong những ngôi chùa, khu vườn rộn ràng tiếng chim kêu. Ko gian mở ra rộng lớn và mênh mông thỏa mãn tính hiếu động, say mê khám phá của tuổi nhỏ, đưa chúng hòa nhập vào tự nhiên, đất trời. Được chơi đùa, được tinh nghịch thoải mái mới thấy hết niềm thích thú vô tận. Đó thật sự là tuổi thơ đúng nghĩa, khác hẳn với ko gian nhỏ nhỏ xung quanh bởi 4 bức tường chật hẹp hiện giờ. Ta có thể tưởng tượng ra trước mắt là hình ảnh một cậu nhỏ tinh nghịch, lấm lem nhưng mắt sáng ngời. Ko có quần áo đẹp, ko có búp bê, siêu nhân, những tuổi thơ như thế hôm nay chỉ còn phảng phất trong nỗi nhớ người trưởng thành, trong ánh mắt xa lạ hào hứng của trẻ em lúc xem phim, đọc truyện ngày trước – cái thời của ba, của ông mình. Đoạn thơ như một cuốn phim quay chậm triền miên, dằng dặc trôi đi:

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị

chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng

mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm

điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng

   Trở về tuổi thơ ta nhìn thấy niềm hạnh phúc thơ ngây, trong sáng với đôi chân nhỏ nhỏ thoăn thoắt khắp nơi, ru mình trong làn hương và điệu hát. Bàn “chân đất” đã trở thành hình ảnh ko thể nào quên đối với mỗi người, cái cảm giác được trực tiếp chạm chân vào đất mát lạnh tới vô cùng, nó ghi dấu hành trình những đêm lễ xa xôi. Và cũng như thế, mùi huệ trắng, làn khói trầm, điệu hát văn đã đi vào từ vô thức! Tất cả chúng góp phần tạo nên tuổi thơ đầy hồn nhiên, tinh nghịch trong tâm hồn mỗi người đã đi qua tuổi thơ, nhiều lúc phải xin “cho tôi một vé đi tuổi thơ”.

     Từ ngày đó tới hiện giờ là cả một quá trình con người lớn lên, tạo nên nhận thức. Ngày còn nhỏ vô tư, vô tư:

Tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thế

bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

bà đi gánh chè xanh Ba Trại

Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn

   Bà hiện lên trong cuộc sống của cháu lặng lẽ, lặng lẽ… Cái đầu non nớt và trái tim nhỏ dại đâu biết thế nào là nỗi khốn cùng, nhìn mọi việc rồi cũng sớm quên đi. Ko trách được bởi lẽ trẻ em đâu thể thâm thúy như người lớn nhưng hoặc giả có thâm thúy thì tâm hồn đã chai sạn đi rồi đâu còn là trẻ em với nét thơ dại – cái thơ dại được ấp ủ bằng mồ hôi và nước mắt bà. Mến thương cao thượng tạo điều kiện cho tâm hồn tránh những bão dông.

   Ngày còn nhỏ, yêu bà là yêu những câu chuyện cổ tích lung linh huyền ảo:

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư thực

giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần

    Bà thổi vào tâm hồn non nớt cái hồn dân tộc bao thế kỉ trong dân gian. Truyện bà kể lung linh sắc màu cổ tích, mang cháu tới với toàn cầu của những phép màu kì diệu: Cô Tấm chui ra từ quả thị, Lọ Lem sánh duyên cùng hoàng tử. Bà có mái tóc bạc phơ, có nụ cười hiền như bà tiên trong truyện kể. Bà dọa cháu rằng chằn tinh rất dữ, bảo cháu phải nghe lời,… Nhiều, và nhiều lắm… Chính những câu chuyện đã giúp cháu biết yêu cái thiện, ghét điều ác, có ước mơ và kỳ vọng. Thỉnh thoảng, tìm về tuổi thơ là tìm tới những điều tương tự, nghe lòng mình kể lại lời bà ấm áp. Tâm hồn sẽ được thanh lọc và trong sáng hơn. Cái ranh giới hư thực trong suốt như chính tuổi thơ con người vậy. Dễ tin, dễ nhớ và cũng dễ quên.

   Lớn lên một tẹo cũng là lúc phải đương đầu với hiện thực, cái đói trở thành nỗi ám ảnh triền miên:

cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng

cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm

    Đọc câu thơ ta bỗng nhớ về khoảng thời kì:

Năm đó là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy

Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

Nghĩ lại tới giờ sống mũi còn cay!

   Nạn đói những năm 45 như một nỗi kinh hoàng rải khắp non sông. Củ dong, củ riềng cũng thành bạn, sượng sùng nhưng đáng nhớ, đáng thương. Mùi huệ trắng hương trầm cũng phảng phất như cái thoáng trở về bình yên… Những đứa trẻ thơ ngây mơ về một mùi hương đã lắng sâu vào đất, tâm hồn, thân thuộc và rất đỗi bình dị. Đói kém ko làm mờ đục tấm lòng trong sáng của trẻ thơ nhưng trái lại nó còn gợi nên những ước mong, thiện cảm thầm kín nhưng đáng yêu.

    Còn lại gì giữa nỗi nhớ cái bình yên ngày trước? Nó có là hoài niệm thương đau, đau xót?

Bom Mỹ giội, nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

thánh với phật rủ nhau đi đâu hết

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn

    Quê hương ngày khốc liệt in sâu vào tiềm thức trong khi những hình ảnh sự vật thân thuộc bị tàn phá. Bom đạn ko chỉ phá nát đất quê hương nhưng còn xóa nhòa đi tuổi thơ tươi đẹp. Kế bên ko gian thiên đường thuở nào là đổ nát, hoang tàn. Nhà bà, đền, chùa, tất cả tan biến đi dường như quá nhanh đối với những đứa trẻ chưa kịp lớn hoàn toàn. “thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết ” lay dậy niềm xót xa, như khẽ chạm vào vết đau nhạy cảm. Cái băn khoăn hết sức trẻ em lại là niềm đau trong lòng người hiểu chuyện như bà. Ko còn quá thơ ngây, có nhẽ lũ trẻ hôm nào đã hiểu được cái nguyên nhân đằng sau nó. Nhưng như chưa tin vào chính mình nên mới thành nỗi băn khoăn chưa dám hỏi. Ko còn nữa thánh, Phật mơ hồ, huyền diệu, thực tiễn dữ dội đối lập lại hoàn toàn. Còn bà vẫn vậy, lam lũ tháng ngày: “Bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”.

    Lúc lớn lên, con người nhận thức được đầy đủ hơn, làm thành một hành trình trở về man mác:

Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại

dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi

lúc tôi biết thương bà thì đã muộn

bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi.

   Tình cảm tập trung hướng về bà, con người lam lũ ngập tràn mến thương. Bà nuôi lớn cháu để hôm nay cháu trở về đây chững chàng, tử tế. Cháu đã và đang là một người lính bảo vệ mảnh đất này, bảo vệ những tuổi thơ như cháu ngày xưa. Chút gì là hối tiếc, mến thương muộn màng. Đời người mấy người nào nhưng vẹn tròn tất cả ! Con sông kia cũng bên lở bên bồi như người vậy. Bảo rằng đã muộn nhưng chưa bao giờ là quá muộn cả. Mến thương đâu cần biểu lộ rõ, cháu lớn lên thành người đã là cách thương bà tuyệt diệu nhất. Giờ đây đứng trước mộ bà những vất vả hy sinh ngày xưa càng trở thành thấm thía. Bà đã đi mang theo tất cả những điều đẹp nhất của tuổi thơ cháu bình yên trong nặng nhọc. Mất đi ko phải là kết thúc. Bà ko còn – cháu lớn lên hiến dâng cho non sông, đó là cách tiếp nối sự sống đầy ý nghĩa. Nấm cỏ của bà chôn chặt mọi niềm đau, giữ lại miền ký ức trong sáng cho con người tìm về lúc mỏi mệt.

   Tổ quốc mình có biết bao người bà như thế! Bà là hiện thân cho phụ nữ Việt Nam hiền lành, tảo tần hôm sớm. Những ngày non sông chiến tranh, bà thay cha mẹ nuôi nấng con cháu, giữ cho cháu trọn vẹn một tuổi thơ. Đâu đâu ta cũng nghe nhắc về bà như một hình ảnh thiêng liêng nhất. Người bà đi vào trái tim mỗi người như một lẽ tự nhiên, là miền ký ức vĩnh hằng:

“Tiếng gà trưa

Mang bao nhiêu hạnh phúc

Đêm cháu về nằm mơ

Giấc ngủ hồng sắc trứng.”

   Bà, tuổi thơ và những hình ảnh thân thuộc bình dị trong cuộc sống tạo nên trị giá cao đẹp nhất. Đi tìm đâu cái xa xôi trong khi hạnh phúc luôn song hành trong cuộc đời mỗi người. Nó là tình mến thương vô điều kiện, là những tháng ngày vui chơi thỏa thích. Chúng như mảng màu rực rỡ chiếu sáng tâm hồn, hướng con người về chỗ cái đẹp, cái thiện căn: “Nhân chi sơ tính bổn thiện”.

   Cùng với bà, quê hương Đò Lèn hiện lên sống động giữa tuổi thơ chan hòa. Nó hiện diện trong cái tinh nghịch thiếu thời, trong từng giấc mơ trẻ thơ, là nơi con người vẫy vùng, ngụp lặn. Mảnh đất lúc yên bình, lúc đớn đau oằn mình vì đạn bom nhưng lúc nào cũng phảng phất hương huệ thơm ngần, cái thứ hương vị đã trở thành đặc trưng tồn tại giữa tiềm thức. Đò Lèn của cống Na, chùa Trần, con sông hai bờ bồi lở, cái tên mộc mạc nhưng chân tình thiết tha. Đò Lèn – nơi đó có bà, có cháu, có tất cả hoài niệm mến thương tồn tại vĩnh hằng cùng nỗi nhớ!

Trên đây là các bài văn mẫu Cảm nhận bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy do giainhat.vn sưu tầm được, mong rằng với nội dung tham khảo này thì các em sẽ có thể hoàn thiện bài văn của mình tốt nhất!

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

[rule_{ruleNumber}]

Source: giainhat.vn
Categories: Giáo dục

Viết một bình luận