Bình giảng khổ 5 và 6 trong bài thơ Sóng (dàn ý + bài mẫu) (hay nhất)

Tuyển chọn những bài văn hay Bình giảng khổ 5 và 6 trong bài thơ Sóng (dàn ý + bài mẫu). Với những bài văn mẫu ngắn gọn, cụ thể, hay nhất dưới đây, các em sẽ có thêm nhiều tài liệu hữu ích phục vụ cho việc học môn văn. Cùng tham khảo nhé! 

Dàn ý bình giảng khổ 5 và 6 trong bài thơ Sóng

a) Mở bài

– Giới thiệu sơ lược về tác giả Xuân Quỳnh – một gương mặt tiêu biểu của phong trào thơ trẻ chống Mĩ.

– Thơ Xuân Quỳnh là một hồn thơ rất đỗi trẻ trung, tươi mát, đầy nữ tính. Đặc điểm rực rỡ trong thơ tình yêu của Xuân Quỳnh là: Vừa khát khao một tình yêu lí tưởng, vừa hướng tới hạnh phúc thiết thực của đời thường. Tất cả những điều đó được trình bày trong một hồn thơ giản dị, tự nhiên và hồn nhiên. Có thể nói, cùng với “Thuyền và biển”, “Thơ tình cuối mùa thu”, bài thơ “Sóng” đã kết tinh được tất cả những gì là sở trường nhất của hồn thơ Xuân Quỳnh.

b) Thân bài


– Hình tượng trung tâm và nổi trội trong bài thơ là hình tượng “Sóng”, bao trùm cả bài thơ là hình tượng: Sóng.

+ Sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của thi sĩ trẻ cũng như mọi thông minh nghệ thuật trong bài thơ đều gắn liền với hình tượng sóng. Cả bài thơ là những con sóng tâm tình của một người phụ nữ được khơi dậy lúc đứng trước đại dương.

+ “Sóng” là một trong những hình tượng ẩn dụ, nó là sự hóa thân của cái tôi trữ tình của Xuân Quỳnh. “Sóng” và “em”, vừa hòa hợp là một, lại vừa phân đôi để soi chiếu, cộng hưởng. Tâm hồn người phụ nữ đang yêu soi vào sóng để thấy rõ lòng mình, nhờ sóng để biểu thị những trạng thái của lòng mình.

-> Với hình tượng sóng, có thể nói Xuân Quỳnh đã tìm được một cách trình bày thật xác đáng tâm trạng của người phụ nữ trong tình yêu.

– Hình tượng sóng đã gợi ra trong cả bài thơ bằng âm điệu: Bài thơ có một âm hưởng dào dạt, nhịp nhàng, lúc sôi nổi trào dâng, lúc thì thầm sâu lắng, gợi âm hưởng của những đợt sóng triền miên, vô tận. Âm hưởng đó được tạo dựng nên bởi thể thơ năm chữ, với những câu thơ liền mạch, từng ko ngắt nhịp, các khổ thơ được gắn kết với nhau bằng cách nối vần (“Lúc nào ta yêu nhau”… “Con sóng dưới lòng sâu”).

-> Nhịp sóng đó cũng chính là nhịp lòng của tác giả, một tâm trạng đang xao động, trào dâng, triền miên và chất chứa những khát khao, rộn rực.

– Khổ 5: Tình yêu luôn đi liền với nỗi nhớ. Tâm hồn đang yêu ở đây luôn soi vào sóng để diễn tả cái thâm thúy, rộng lớn của nỗi nhớ trong lòng mình, nó choán đầy cả tầng sâu và bề rộng, nó chiếm lĩnh trọn cả thời kì, cả ngày lẫn đêm:

“Con sóng dưới…

… ko ngủ được”

– Sóng như nỗi lòng của người con gái vậy: “Lòng em nhớ tới anh – Cả trong mơ còn thức” -> Em “thức” cả trong mơ -> Nỗi nhớ ko chỉ chiếm lĩnh ý thức nhưng còn thấm sâu vào tiềm thức.

– Khổ 6: Tình yêu rất sôi nổi, nồng nhiệt của Xuân Quỳnh cũng lại là một tình yêu chân tình và trong sáng, một tình yêu yêu cầu sự gắn bó thủy chung. Như mọi con sóng dù “muôn vời cách trở” nhưng vẫn hướng vào bờ và nhất mực tới bờ, thì lòng em cũng thế:

“Dẫu xuôi về…

… một phương”

-> Đứng trước biển, cũng là đối diện với sự vô cùng vô tận của ko gian, sự vô thủy vô chung của thời kì và thấy đời người thật ngắn ngủi… Xuân Quỳnh muốn được có mặt mãi trên cõi đời này, để được sống, được bất tử trong tình yêu. Sống trong tình yêu là hạnh phúc, là khát vọng vĩnh hằng.

=> Bài thơ kết thúc, nhưng những con sóng trong trái tim say đắm của Xuân Quỳnh vẫn cồn cào trong ngực, trong lồng ngực của những lứa đôi yêu nhau… Con sóng tình yêu ko bao giờ ngừng nghỉ. Mãi mãi dào dạt, “bổi hổi trong ngực trẻ”.

c) Kết bài

– Khẳng định hình tượng sóng đã làm cho bài thơ thành công.

– Tình yêu xoành xoạch quan trọng với cuộc sống của mỗi con người, mỗi chúng ta người nào cũng có quyền yêu và được yêu. Và tình yêu của tuổi xanh là tình yêu mãnh liệt và xúc cảm trong sáng nhất.

Bình giảng khổ 5 và 6 trong bài thơ Sóng – Bài mẫu 1


      Đề tài tình yêu là một đề tài đã làm cho rất nhiều thế hệ nhà văn, thi sĩ tốn nhiều giấy mực. Viết về tình yêu, thì điều đặc thù là viết về nỗi nhớ, sự thủy chung trong tình yêu, nhưng có nhẽ một thi sĩ nữ viết về tình yêu của chính những người phụ nữ thì ít thấy. Nhưng Xuân Quỳnh đã làm được điều đó qua bài thơ Sóng – một bài thơ tình hay nhất trong sự nghiệp của chị.

      Lúc nhắc về tình yêu, người ta ko thể ko nhắc tới nỗi nhớ và sự thủy chung nên trong Sóng chị đã dành cho nỗi nhớ và sự thủy chung một phần khá quan trọng trong hai khổ thơ:

Con sóng dưới lòng sâu

….

Hướng về anh một phương

      Lúc nhắc tới Xuân Quỳnh, người đọc thường nhắc tới một giọng thơ , thiết tha lúc nào cũng khát khao và ngập tràn thương yêu. Tình yêu trong thơ chị lúc nào cũng cồn cào, thâm thúy và mạnh mẽ, nhưng cũng ko kém phần dịu dàng nữ tính. Sóng được chị viết vào năm 1967 lúc chị còn rất trẻ với một tâm hồn còn đầy rộn rực mến thương và tình yêu. Bài thơ được in trong tập thơ Hoa dọc hào chiến đấu. Hai khổ thơ nhưng ta bình giảng trên nằm ở phần giữa bài thơ, nó nói lên nỗi nhớ nhung của tình yêu và sự thủy chung. Hình tượng xuyên suốt bài thơ vẫn là hình tượng “Sóng” – sóng ở đây được Xuân Quỳnh gửi vào đó cả tâm hồn người con gái lúc đang yêu. Mượn sóng để nói tới người phụ nữ và tình yêu của phụ nữ, đây là việc Xuân Quỳnh đã từng làm trong Thuyền và biển. Nhưng ở trong hai khổ thơ này Sóng là sóng của nhớ nhung, chung tình.

      Ngay khổ thơ thứ nhất, Xuân Quỳnh với cách sử dụng điệp cấu trúc, điệp từ“con sóng” và cách sử dụng tương quan đối lập “dưới lòng sâu”, đối lập với “trên mặt nước” đã mô tả hai con sóng ở hai vị trí không giống nhau nhưng chúng cùng mang một nỗi “nhớ bờ”… Tương quan đối lập được nói ở trên khiến người đọc cảm nhận nỗi nhớ đó như mạnh mẽ, da diết hơn, nỗi nhớ đó ko chỉ hiện hữu trên mặt nước nhưng còn ở chiều sâu từng mét nước. Hình như con sóng mang nỗi nhớ tràn trề trong suốt bản thân mình. Nỗi nhớ như thấm đẫm trên từng ngọn sóng tới chân sóng. Bởi vì sóng là hiện thân của người con gái, là hiện thân của tình yêu mãnh liệt của người con gái nên ở đây ta có thể hiểu nỗi nhớ cũng đang tràn trề trong lòng người con gái, nó hiện hữu qua khuôn mặt buồn nhớ qua tâm trạng sầu nhớ.

      Câu thơ thứ ba cất lên như một tiếng thốt của tâm trạng: “Ôi con sóng nhớ bờ”. Phải thương nhớ nhiều lắm, nỗi nhớ phải da diết, nồng nàn lắm thì mới có thể thốt lên, mới có thể gọi thành tên tương tự. Từ “Ôi” là từ cảm thán được thi sĩ đưa lên đầu câu thơ càng khiến tứ thơ thêm mềm mại như tâm hồn người con gái:

Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

       Xuân Quỳnh đã nhân hóa hình ảnh sóng khiến sóng như một con người cụ thể với những diễn biến tâm trạng sinh động. Chính vì vậy, nỗi nhớ của người phụ nữ qua hình ảnh “sóng nhớ bờ” càng đậm nét. Vẫn với cách nhân hóa hình tượng “sóng” ở câu thơ thứ tư, Xuân Quỳnh đã đem tới một ý thơ mới mẻ “Ngày đêm ko ngủ được”. Trạng từ chỉ thời kì “ngày đêm” cùng với đại từ phủ định “ko” đã góp phần mô tả một nỗi nhớ dằng dai, khôn nguôi xoành xoạch túc trực cả trong ngày và đêm. Có nhẽ lúc tình yêu tới, lúc nỗi nhớ trong tình yêu ngập tràn trong lòng, thì đó lại là điều ko khó hiểu.

     Nếu như ở khổ thơ này, nỗi nhớ của người phụ nữ trong tình yêu được gián tiếp gửi gắm qua hình tượng con sóng, thì ở hai câu cuối Xuân Quỳnh đã chính thức cất lên tiếng nói nhớ nhung: Lòng em nhớ tới anh / Cả trong mơ còn thức. Sóng “ko ngủ được” ở trên, tới đây hoàn toàn có thể hiểu là người con gái ko ngủ được. Nỗi nhớ ở đây một lần nữa được tràn trề trong lòng người con gái nó hiển hiện trong cả lúc có nhận thức và cả trong vô  thức “lúc mơ”. Khổ thơ nói tới nỗi nhớ, nhưng cũng góp phần mô tả một tình yêu thâm thúy mãnh liệt với nhớ nhung là biểu thị rõ nét nhất của tình yêu. Khổ thơ tiếp theo:

“Dẫu xuôi về phương Bắc

Dẫu ngược về phương Nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh một phương”.

      Một lần nữa giải pháp điệp cấu trúc, cách sử dụng tương quan đối lập được Xuân Quỳnh tận dụng để nói tới sự thủy chung trong tình yêu. “Dẫu” là một từ có tính chất phủ định dù có xa xôi cách trở, dù cách xa với những miền đất xa tắp “phương Bắc” hay “phương Nam” thì trong lòng con sóng chỉ có một phương là bến  bờ, còn trong lòng người phụ nữ thì chỉ có một phương hướng tới đó chính là tình yêu của mình, đó chính là người yêu. Thủy chung là một đặc tính đặc thù và hết sức cần thiết trong tình yêu, nó cũng là đặc điểm của những người phụ nữ Việt Nam. Lúc sử dụng cụm từ“nơi nào”, Xuân Quỳnh đã như cất lên lời nguyện suốt đời chung tình với người yêu, với anh. Nếu như xuôi về phương Bắc, ngược về phương Nam là tuyến đường thực tiễn nối những vùng đất thì “Hướng về anh một phương” là tuyến đường gắn kết nối hai trái tim con người đang tràn trề mến thương.

       Với hai khổ thơ, Xuân Quỳnh một lần nữa khắc họa tình yêu người phụ nữ. Cách sử dụng các giải pháp tu từ, đối lập, tương phản, điệp, cách sử dụng từ cảm thán và cách mượn hình tượng sóng đã góp phần tạo nên thành công cho tác phẩm. Với thành công của  mình, Sóng  luôn xứng đáng là bài thơ tình được mọi thế hệ thanh niên thích thú.

Bình giảng khổ 5 và 6 trong bài thơ Sóng – Bài mẫu 2

     “Sóng” của Xuân Quỳnh (1942-1988) là một bài thơ tình rất đẹp. Vẻ đẹp của một tâm hồn khát khao mến thương trong mối tình đầu rộn rực của thiếu nữ. Vẻ đẹp của nhạc; nhạc của lòng cũng là nhạc của thơ, nhạc của sóng reo, sóng vỗ. Vẻ đẹp của men say tình ái được cất lên thành lời ca ngọt ngào, tha thiết biết bao:

“Con sóng dưới lòng sâu

Hướng về anh một phương”.

    Hình tượng “sóng” đầy thi vị. Bất kỳ ở đâu, dù ở “dưới lòng sâu” hay ở “trên mặt nước”, thì sóng vẫn “nhớ bờ”. Dù cả trong ngày và trong đêm dài vắng vẻ, sóng vẫn “ko ngủ được”. Các động từ – vị ngữ: “nhớ bờ”, “ko ngủ được” đã được nữ sĩ dùng rất đắt, tinh tế và biểu cảm, mang đến cho ta bao xúc cảm đẹp về tình yêu:

“Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm ko ngủ được”.

    Nỗi nhớ đó rất mãnh liệt. Dù ở ko gian nào “dưới lòng sâu hay “trên mặt nước”, dù ở thời kì nào “ngày” cũng như “đêm”, sóng vẫn “nhớ”, sóng vẫn phấp phỏng, thao thức “ko ngủ được”. Lấy ko gian và thời kì để “đo” nỗi nhớ của em, tác giả đã trình bày một cách thâm thúy một tâm hồn xoành xoạch trằn trọc, khát khao được mến thương. Sóng đã được nhân hóa mang hồn em và tình em. Từ cảm “ôi” xuất hiện trong đoạn thơ như một tiếng lòng chấn động rung lên: “Ôi con sóng nhớ bờ…”.

    Từ hiện tượng sóng vỗ xôn xao suốt sớm hôm trên đại dương, nữ sĩ liên tưởng tới tình cảm của thiếu nữ:

“Lòng em nhớ tới anh

Cả trong mơ còn thức”.

    “Cả trong mơ” và cả lúc “còn thức”, trong thực và trong mộng, em vẫn “nhớ tới anh”. Hình bóng chàng trai – người yêu đã choán ngợp tâm hồn cô gái. Yêu là sự hòa nhập hai tâm hồn. Sóng trên đại dương là biểu tượng cho sự sống muôn thuở, cũng như tình yêu của “em” đối với “anh” mãi mãi là nỗi khát khao thương nhớ, mong đợi, trong ko gian, trong thời kì, và “cả trong mơ còn thức”. Xuân Quỳnh đã có một cách nói mới mẻ, một cách diễn tả lạ mắt lúc trình bày nỗi nhớ trong tình yêu, của “em”. Ta hãy trở về với ca dao:

“Nhớ người nào em những khóc thầm

Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa”.

   hay:

“Nhớ người nào bổi hổi bổi hổi

Như đứng đống lửa, như ngồi đống than”.

    hay:

“Nhớ người nào nhớ mãi thế này?

Nhớ đêm quên ngủ, nhớ ngày quên ăn”.

    Qua đó, ta mới cảm thấy cái ý vị đặm đà của ngôn từ, cái xúc cảm nồng thắm của tâm hồn thiếu nữ: “Lòng em nhớ tới anh – Cả trong mơ còn thức”.

    Tình yêu xoành xoạch đối diện với bao thử thách, trong đó có sự cách trở về thời kì và ko gian. Sự cách trở đó đã làm cho tâm hồn thiếu nữ, tâm hồn “em” thêm đẹp, đinh ninh lời thề nguyền “trăm năm một chữ đồng tới xương” (Truyện Kiều). Lứa đôi ngày xưa, với sức mạnh của tình yêu, họ quyết tâm vượt qua mọi thử thách “tam tứ núi cũng trèo, ngũ lục sông cũng lội, thất bát đèo cũng qua” để được sống dưới một mái ấm hạnh phúc đời đời kiếp kiếp bên nhau. Với “em” thì dù đi đâu, dù có lên thác xuống ghềnh, “dẫu xuôi về phương Bắc – dẫu ngược về phương Nam” trong bom đạn thời chiến tranh chống Mĩ (1967), lòng em vẫn “hướng về anh một phương”, hướng về “anh”, người nhưng “em” thương nhớ, đợi chờ:

“Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh một phương”.

    Các điệp ngữ: “dẫu xuôi về”, “dẫu ngược về”, “phương” (phương Bắc, phương Nam, một phương) đã liên kết với các từ ngữ: “Em cũng nghĩ”, “hướng về anh” làm cho niềm tin đợi chờ trong tình yêu được khẳng định môt cách mạnh mẽ. Chữ “một” trong câu thơ “hướng về anh một phương” đã trình bày một tình yêu sắt son thủy chung.

    Có thể nói, đoạn thơ trên đây là một âm vang của tiếng sóng, là một khúc tâm tình của thiếu nữ trằn trọc, khát khao được mến thương gắn bó. Trái tim của thiếu nữ và đượm đà biết bao! Sóng nhớ bờ, em nhớ anh là quy luật muôn thuở của tự nhiên, của sự sống và tình yêu. Xuân Quỳnh đã viết nên những vần thơ ngũ ngôn có nhạc điệu ngân vang tha thiết, có hình tượng sóng và hình tượng em rất đẹp. Các ẩn dụ và liên tưởng đầy tính nhân văn. Cấu trúc song hành (câu 1 với 2, câu 3, 4 với câu 7, 8) và các điệp ngữ (sóng… dẫu… về, phương) đã tạo nên âm điệu triền miên, liên miên như tiếng sóng vỗ xôn xao, bổi hổi trong lòng “em”.

    “Yêu là chết ở trong lòng một ít”? – Ko! Với Xuân Quỳnh, thì tình yêu là “khát vọng, đã làm cho thiếu nữ hồn hậu hơn, cao quý hơn. Bởi lẽ:

“Tình yêu là thế,em ơi!

Hai người nhưng hóa một người trăm năm …”

Trên đây là một số bài văn mẫu Bình giảng khổ 5 và 6 trong bài thơ Sóng (dàn ý + bài mẫu) nhưng giainhat.vn đã biên soạn. Kỳ vọng sẽ giúp ích các em trong quá trình làm bài và ôn luyện cùng tác phẩm. Chúc các em có một bài văn thật tốt!

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

Hình Ảnh về: Bình giảng khổ 5 và 6 trong bài thơ Sóng (dàn ý + bài mẫu)

(hay nhất)

Video về: Bình giảng khổ 5 và 6 trong bài thơ Sóng (dàn ý + bài mẫu)

(hay nhất)

Wiki về Bình giảng khổ 5 và 6 trong bài thơ Sóng (dàn ý + bài mẫu)

(hay nhất)

Bình giảng khổ 5 và 6 trong bài thơ Sóng (dàn ý + bài mẫu)

(hay nhất) -

Tuyển chọn những bài văn hay Bình giảng khổ 5 và 6 trong bài thơ Sóng (dàn ý + bài mẫu). Với những bài văn mẫu ngắn gọn, cụ thể, hay nhất dưới đây, các em sẽ có thêm nhiều tài liệu hữu ích phục vụ cho việc học môn văn. Cùng tham khảo nhé! 

Dàn ý bình giảng khổ 5 và 6 trong bài thơ Sóng

a) Mở bài

– Giới thiệu sơ lược về tác giả Xuân Quỳnh – một gương mặt tiêu biểu của phong trào thơ trẻ chống Mĩ.

– Thơ Xuân Quỳnh là một hồn thơ rất đỗi trẻ trung, tươi mát, đầy nữ tính. Đặc điểm rực rỡ trong thơ tình yêu của Xuân Quỳnh là: Vừa khát khao một tình yêu lí tưởng, vừa hướng tới hạnh phúc thiết thực của đời thường. Tất cả những điều đó được trình bày trong một hồn thơ giản dị, tự nhiên và hồn nhiên. Có thể nói, cùng với “Thuyền và biển”, “Thơ tình cuối mùa thu”, bài thơ “Sóng” đã kết tinh được tất cả những gì là sở trường nhất của hồn thơ Xuân Quỳnh.

b) Thân bài


– Hình tượng trung tâm và nổi trội trong bài thơ là hình tượng “Sóng”, bao trùm cả bài thơ là hình tượng: Sóng.

+ Sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của thi sĩ trẻ cũng như mọi thông minh nghệ thuật trong bài thơ đều gắn liền với hình tượng sóng. Cả bài thơ là những con sóng tâm tình của một người phụ nữ được khơi dậy lúc đứng trước đại dương.

+ “Sóng” là một trong những hình tượng ẩn dụ, nó là sự hóa thân của cái tôi trữ tình của Xuân Quỳnh. “Sóng” và “em”, vừa hòa hợp là một, lại vừa phân đôi để soi chiếu, cộng hưởng. Tâm hồn người phụ nữ đang yêu soi vào sóng để thấy rõ lòng mình, nhờ sóng để biểu thị những trạng thái của lòng mình.

-> Với hình tượng sóng, có thể nói Xuân Quỳnh đã tìm được một cách trình bày thật xác đáng tâm trạng của người phụ nữ trong tình yêu.

– Hình tượng sóng đã gợi ra trong cả bài thơ bằng âm điệu: Bài thơ có một âm hưởng dào dạt, nhịp nhàng, lúc sôi nổi trào dâng, lúc thì thầm sâu lắng, gợi âm hưởng của những đợt sóng triền miên, vô tận. Âm hưởng đó được tạo dựng nên bởi thể thơ năm chữ, với những câu thơ liền mạch, từng ko ngắt nhịp, các khổ thơ được gắn kết với nhau bằng cách nối vần (“Lúc nào ta yêu nhau”… “Con sóng dưới lòng sâu”).

-> Nhịp sóng đó cũng chính là nhịp lòng của tác giả, một tâm trạng đang xao động, trào dâng, triền miên và chất chứa những khát khao, rộn rực.

– Khổ 5: Tình yêu luôn đi liền với nỗi nhớ. Tâm hồn đang yêu ở đây luôn soi vào sóng để diễn tả cái thâm thúy, rộng lớn của nỗi nhớ trong lòng mình, nó choán đầy cả tầng sâu và bề rộng, nó chiếm lĩnh trọn cả thời kì, cả ngày lẫn đêm:

“Con sóng dưới…

… ko ngủ được”

– Sóng như nỗi lòng của người con gái vậy: “Lòng em nhớ tới anh – Cả trong mơ còn thức” -> Em “thức” cả trong mơ -> Nỗi nhớ ko chỉ chiếm lĩnh ý thức nhưng còn thấm sâu vào tiềm thức.

– Khổ 6: Tình yêu rất sôi nổi, nồng nhiệt của Xuân Quỳnh cũng lại là một tình yêu chân tình và trong sáng, một tình yêu yêu cầu sự gắn bó thủy chung. Như mọi con sóng dù “muôn vời cách trở” nhưng vẫn hướng vào bờ và nhất mực tới bờ, thì lòng em cũng thế:

“Dẫu xuôi về…

… một phương”

-> Đứng trước biển, cũng là đối diện với sự vô cùng vô tận của ko gian, sự vô thủy vô chung của thời kì và thấy đời người thật ngắn ngủi… Xuân Quỳnh muốn được có mặt mãi trên cõi đời này, để được sống, được bất tử trong tình yêu. Sống trong tình yêu là hạnh phúc, là khát vọng vĩnh hằng.

=> Bài thơ kết thúc, nhưng những con sóng trong trái tim say đắm của Xuân Quỳnh vẫn cồn cào trong ngực, trong lồng ngực của những lứa đôi yêu nhau… Con sóng tình yêu ko bao giờ ngừng nghỉ. Mãi mãi dào dạt, “bổi hổi trong ngực trẻ”.

c) Kết bài

– Khẳng định hình tượng sóng đã làm cho bài thơ thành công.

– Tình yêu xoành xoạch quan trọng với cuộc sống của mỗi con người, mỗi chúng ta người nào cũng có quyền yêu và được yêu. Và tình yêu của tuổi xanh là tình yêu mãnh liệt và xúc cảm trong sáng nhất.

Bình giảng khổ 5 và 6 trong bài thơ Sóng – Bài mẫu 1


      Đề tài tình yêu là một đề tài đã làm cho rất nhiều thế hệ nhà văn, thi sĩ tốn nhiều giấy mực. Viết về tình yêu, thì điều đặc thù là viết về nỗi nhớ, sự thủy chung trong tình yêu, nhưng có nhẽ một thi sĩ nữ viết về tình yêu của chính những người phụ nữ thì ít thấy. Nhưng Xuân Quỳnh đã làm được điều đó qua bài thơ Sóng – một bài thơ tình hay nhất trong sự nghiệp của chị.

      Lúc nhắc về tình yêu, người ta ko thể ko nhắc tới nỗi nhớ và sự thủy chung nên trong Sóng chị đã dành cho nỗi nhớ và sự thủy chung một phần khá quan trọng trong hai khổ thơ:

Con sóng dưới lòng sâu

….

Hướng về anh một phương

      Lúc nhắc tới Xuân Quỳnh, người đọc thường nhắc tới một giọng thơ , thiết tha lúc nào cũng khát khao và ngập tràn thương yêu. Tình yêu trong thơ chị lúc nào cũng cồn cào, thâm thúy và mạnh mẽ, nhưng cũng ko kém phần dịu dàng nữ tính. Sóng được chị viết vào năm 1967 lúc chị còn rất trẻ với một tâm hồn còn đầy rộn rực mến thương và tình yêu. Bài thơ được in trong tập thơ Hoa dọc hào chiến đấu. Hai khổ thơ nhưng ta bình giảng trên nằm ở phần giữa bài thơ, nó nói lên nỗi nhớ nhung của tình yêu và sự thủy chung. Hình tượng xuyên suốt bài thơ vẫn là hình tượng “Sóng” – sóng ở đây được Xuân Quỳnh gửi vào đó cả tâm hồn người con gái lúc đang yêu. Mượn sóng để nói tới người phụ nữ và tình yêu của phụ nữ, đây là việc Xuân Quỳnh đã từng làm trong Thuyền và biển. Nhưng ở trong hai khổ thơ này Sóng là sóng của nhớ nhung, chung tình.

      Ngay khổ thơ thứ nhất, Xuân Quỳnh với cách sử dụng điệp cấu trúc, điệp từ“con sóng” và cách sử dụng tương quan đối lập “dưới lòng sâu”, đối lập với “trên mặt nước” đã mô tả hai con sóng ở hai vị trí không giống nhau nhưng chúng cùng mang một nỗi “nhớ bờ”… Tương quan đối lập được nói ở trên khiến người đọc cảm nhận nỗi nhớ đó như mạnh mẽ, da diết hơn, nỗi nhớ đó ko chỉ hiện hữu trên mặt nước nhưng còn ở chiều sâu từng mét nước. Hình như con sóng mang nỗi nhớ tràn trề trong suốt bản thân mình. Nỗi nhớ như thấm đẫm trên từng ngọn sóng tới chân sóng. Bởi vì sóng là hiện thân của người con gái, là hiện thân của tình yêu mãnh liệt của người con gái nên ở đây ta có thể hiểu nỗi nhớ cũng đang tràn trề trong lòng người con gái, nó hiện hữu qua khuôn mặt buồn nhớ qua tâm trạng sầu nhớ.

      Câu thơ thứ ba cất lên như một tiếng thốt của tâm trạng: “Ôi con sóng nhớ bờ”. Phải thương nhớ nhiều lắm, nỗi nhớ phải da diết, nồng nàn lắm thì mới có thể thốt lên, mới có thể gọi thành tên tương tự. Từ “Ôi” là từ cảm thán được thi sĩ đưa lên đầu câu thơ càng khiến tứ thơ thêm mềm mại như tâm hồn người con gái:

Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

       Xuân Quỳnh đã nhân hóa hình ảnh sóng khiến sóng như một con người cụ thể với những diễn biến tâm trạng sinh động. Chính vì vậy, nỗi nhớ của người phụ nữ qua hình ảnh “sóng nhớ bờ” càng đậm nét. Vẫn với cách nhân hóa hình tượng “sóng” ở câu thơ thứ tư, Xuân Quỳnh đã đem tới một ý thơ mới mẻ “Ngày đêm ko ngủ được”. Trạng từ chỉ thời kì “ngày đêm” cùng với đại từ phủ định “ko” đã góp phần mô tả một nỗi nhớ dằng dai, khôn nguôi xoành xoạch túc trực cả trong ngày và đêm. Có nhẽ lúc tình yêu tới, lúc nỗi nhớ trong tình yêu ngập tràn trong lòng, thì đó lại là điều ko khó hiểu.

     Nếu như ở khổ thơ này, nỗi nhớ của người phụ nữ trong tình yêu được gián tiếp gửi gắm qua hình tượng con sóng, thì ở hai câu cuối Xuân Quỳnh đã chính thức cất lên tiếng nói nhớ nhung: Lòng em nhớ tới anh / Cả trong mơ còn thức. Sóng “ko ngủ được” ở trên, tới đây hoàn toàn có thể hiểu là người con gái ko ngủ được. Nỗi nhớ ở đây một lần nữa được tràn trề trong lòng người con gái nó hiển hiện trong cả lúc có nhận thức và cả trong vô  thức “lúc mơ”. Khổ thơ nói tới nỗi nhớ, nhưng cũng góp phần mô tả một tình yêu thâm thúy mãnh liệt với nhớ nhung là biểu thị rõ nét nhất của tình yêu. Khổ thơ tiếp theo:

“Dẫu xuôi về phương Bắc

Dẫu ngược về phương Nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh một phương”.

      Một lần nữa giải pháp điệp cấu trúc, cách sử dụng tương quan đối lập được Xuân Quỳnh tận dụng để nói tới sự thủy chung trong tình yêu. “Dẫu” là một từ có tính chất phủ định dù có xa xôi cách trở, dù cách xa với những miền đất xa tắp “phương Bắc” hay “phương Nam” thì trong lòng con sóng chỉ có một phương là bến  bờ, còn trong lòng người phụ nữ thì chỉ có một phương hướng tới đó chính là tình yêu của mình, đó chính là người yêu. Thủy chung là một đặc tính đặc thù và hết sức cần thiết trong tình yêu, nó cũng là đặc điểm của những người phụ nữ Việt Nam. Lúc sử dụng cụm từ“nơi nào”, Xuân Quỳnh đã như cất lên lời nguyện suốt đời chung tình với người yêu, với anh. Nếu như xuôi về phương Bắc, ngược về phương Nam là tuyến đường thực tiễn nối những vùng đất thì “Hướng về anh một phương” là tuyến đường gắn kết nối hai trái tim con người đang tràn trề mến thương.

       Với hai khổ thơ, Xuân Quỳnh một lần nữa khắc họa tình yêu người phụ nữ. Cách sử dụng các giải pháp tu từ, đối lập, tương phản, điệp, cách sử dụng từ cảm thán và cách mượn hình tượng sóng đã góp phần tạo nên thành công cho tác phẩm. Với thành công của  mình, Sóng  luôn xứng đáng là bài thơ tình được mọi thế hệ thanh niên thích thú.

Bình giảng khổ 5 và 6 trong bài thơ Sóng – Bài mẫu 2

     “Sóng” của Xuân Quỳnh (1942-1988) là một bài thơ tình rất đẹp. Vẻ đẹp của một tâm hồn khát khao mến thương trong mối tình đầu rộn rực của thiếu nữ. Vẻ đẹp của nhạc; nhạc của lòng cũng là nhạc của thơ, nhạc của sóng reo, sóng vỗ. Vẻ đẹp của men say tình ái được cất lên thành lời ca ngọt ngào, tha thiết biết bao:

“Con sóng dưới lòng sâu

Hướng về anh một phương”.

    Hình tượng “sóng” đầy thi vị. Bất kỳ ở đâu, dù ở “dưới lòng sâu” hay ở “trên mặt nước”, thì sóng vẫn “nhớ bờ”. Dù cả trong ngày và trong đêm dài vắng vẻ, sóng vẫn “ko ngủ được”. Các động từ – vị ngữ: “nhớ bờ”, “ko ngủ được” đã được nữ sĩ dùng rất đắt, tinh tế và biểu cảm, mang đến cho ta bao xúc cảm đẹp về tình yêu:

“Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm ko ngủ được”.

    Nỗi nhớ đó rất mãnh liệt. Dù ở ko gian nào “dưới lòng sâu hay “trên mặt nước”, dù ở thời kì nào “ngày” cũng như “đêm”, sóng vẫn “nhớ”, sóng vẫn phấp phỏng, thao thức “ko ngủ được”. Lấy ko gian và thời kì để “đo” nỗi nhớ của em, tác giả đã trình bày một cách thâm thúy một tâm hồn xoành xoạch trằn trọc, khát khao được mến thương. Sóng đã được nhân hóa mang hồn em và tình em. Từ cảm “ôi” xuất hiện trong đoạn thơ như một tiếng lòng chấn động rung lên: “Ôi con sóng nhớ bờ…”.

    Từ hiện tượng sóng vỗ xôn xao suốt sớm hôm trên đại dương, nữ sĩ liên tưởng tới tình cảm của thiếu nữ:

“Lòng em nhớ tới anh

Cả trong mơ còn thức”.

    “Cả trong mơ” và cả lúc “còn thức”, trong thực và trong mộng, em vẫn “nhớ tới anh”. Hình bóng chàng trai – người yêu đã choán ngợp tâm hồn cô gái. Yêu là sự hòa nhập hai tâm hồn. Sóng trên đại dương là biểu tượng cho sự sống muôn thuở, cũng như tình yêu của “em” đối với “anh” mãi mãi là nỗi khát khao thương nhớ, mong đợi, trong ko gian, trong thời kì, và “cả trong mơ còn thức”. Xuân Quỳnh đã có một cách nói mới mẻ, một cách diễn tả lạ mắt lúc trình bày nỗi nhớ trong tình yêu, của “em”. Ta hãy trở về với ca dao:

“Nhớ người nào em những khóc thầm

Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa”.

   hay:

“Nhớ người nào bổi hổi bổi hổi

Như đứng đống lửa, như ngồi đống than”.

    hay:

“Nhớ người nào nhớ mãi thế này?

Nhớ đêm quên ngủ, nhớ ngày quên ăn”.

    Qua đó, ta mới cảm thấy cái ý vị đặm đà của ngôn từ, cái xúc cảm nồng thắm của tâm hồn thiếu nữ: “Lòng em nhớ tới anh – Cả trong mơ còn thức”.

    Tình yêu xoành xoạch đối diện với bao thử thách, trong đó có sự cách trở về thời kì và ko gian. Sự cách trở đó đã làm cho tâm hồn thiếu nữ, tâm hồn “em” thêm đẹp, đinh ninh lời thề nguyền “trăm năm một chữ đồng tới xương” (Truyện Kiều). Lứa đôi ngày xưa, với sức mạnh của tình yêu, họ quyết tâm vượt qua mọi thử thách “tam tứ núi cũng trèo, ngũ lục sông cũng lội, thất bát đèo cũng qua” để được sống dưới một mái ấm hạnh phúc đời đời kiếp kiếp bên nhau. Với “em” thì dù đi đâu, dù có lên thác xuống ghềnh, “dẫu xuôi về phương Bắc – dẫu ngược về phương Nam” trong bom đạn thời chiến tranh chống Mĩ (1967), lòng em vẫn “hướng về anh một phương”, hướng về “anh”, người nhưng “em” thương nhớ, đợi chờ:

“Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh một phương”.

    Các điệp ngữ: “dẫu xuôi về”, “dẫu ngược về”, “phương” (phương Bắc, phương Nam, một phương) đã liên kết với các từ ngữ: “Em cũng nghĩ”, “hướng về anh” làm cho niềm tin đợi chờ trong tình yêu được khẳng định môt cách mạnh mẽ. Chữ “một” trong câu thơ “hướng về anh một phương” đã trình bày một tình yêu sắt son thủy chung.

    Có thể nói, đoạn thơ trên đây là một âm vang của tiếng sóng, là một khúc tâm tình của thiếu nữ trằn trọc, khát khao được mến thương gắn bó. Trái tim của thiếu nữ và đượm đà biết bao! Sóng nhớ bờ, em nhớ anh là quy luật muôn thuở của tự nhiên, của sự sống và tình yêu. Xuân Quỳnh đã viết nên những vần thơ ngũ ngôn có nhạc điệu ngân vang tha thiết, có hình tượng sóng và hình tượng em rất đẹp. Các ẩn dụ và liên tưởng đầy tính nhân văn. Cấu trúc song hành (câu 1 với 2, câu 3, 4 với câu 7, 8) và các điệp ngữ (sóng… dẫu… về, phương) đã tạo nên âm điệu triền miên, liên miên như tiếng sóng vỗ xôn xao, bổi hổi trong lòng “em”.

    “Yêu là chết ở trong lòng một ít”? – Ko! Với Xuân Quỳnh, thì tình yêu là “khát vọng, đã làm cho thiếu nữ hồn hậu hơn, cao quý hơn. Bởi lẽ:

“Tình yêu là thế,em ơi!

Hai người nhưng hóa một người trăm năm …”

Trên đây là một số bài văn mẫu Bình giảng khổ 5 và 6 trong bài thơ Sóng (dàn ý + bài mẫu) nhưng giainhat.vn đã biên soạn. Kỳ vọng sẽ giúp ích các em trong quá trình làm bài và ôn luyện cùng tác phẩm. Chúc các em có một bài văn thật tốt!

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

[rule_{ruleNumber}]

Source: giainhat.vn
Categories: Giáo dục

Viết một bình luận