Bình giảng bài thơ Đất nước của nguyễn Đình Thi (hay nhất)

Tuyển tập 900 bài văn mẫu 12 hay nhất với các chủ đề nhiều chủng loại như phân tích, cảm nhận, nghị luận. Cùng tham khảo bài Bình giảng bài thơ Non sông của nguyễn Đình Thi để hiểu hơn về nội dung tác phẩm.

Dàn ý Bình giảng bài thơ Non sông của nguyễn Đình Thi

– Thể loại

Kiểu bài chứng minh (một vấn đề trong tác phẩm văn học) qua phân tích một tác phẩm trữ tình.

– Nội dung

Cảm hứng về non sông (của thi sĩ Nguyễn Đình Thi trong bài thơ Non sông).


GỢI Ý

Cảm hứng về non sông trong bài thơ Non sông được triển khai theo hướng từ cụ thể tới nói chung, qua ko gian – thời kì mùa thu.

Có thể phân tích và chứng minh theo các đoạn chính sau đây.

A. ĐẤT NƯỚC VÀ NIỀM VUI LÀM CHỦ ĐẤT NƯỚC

1. Cảm nhận về non sông qua hình ảnh hai mùa thu

Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương còn mới

– Cảm nhận về non sông kể từ mùa thu. Hương cốm mới làm người đọc xao xuyến trước những gì thân thiện, thân thuộc của quê hương. Người ra đi, dù kiên quyết (đầu ko ngoảnh lại) nhưng lòng vẫn lưu luyến vương vấn:

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

– Mùa thu chiến khu hôm nay (mùa thu nay) đổi mới, xanh mướt (trời thu thay áo mới, rừng tre phất phới, trời xanh…). Cảnh sắc tự nhiên non sông thật tươi vui. Nếu mùa thu xưa xao xác gió heo may buồn thì mùa thu nay gió thổi rừng tre phất phới, năm xưa lá rơi đầy thềm nắng những con phố dài Hà Nội thì nay cả bầu trời thu Việt Bắc xanh lè tươi vui:

Trời thu thay áo mới

– Thú vui lan toả khắp đất trời, cây cối tràn trề lòng người. Thi sĩ lắng tâm hồn để cảm nhận thú vui từ làn gió thu trong mát, sắc trời thu xanh lè và nhất là từ giọng nói tiếng cười thiết tha của mọi người trong nỗi vui tươi quê hương vừa được giải phóng:

Trong biếc nói cười thiết tha

2. Niềm tự hào làm chủ non sông

– Thú vui được giải phóng gắn liền với niềm tự hào làm chủ non sông. Dưới cái nhìn say đắm của thi sĩ, non sông trái rộng, nơi nào cũng tươi đẹp, nơi nào cũng màu mờ, phì nhiêu:

Trời xanh đây là của chúng ta

…..

Những dòng sông đỏ nặng phù sa

– Câu khẳng định với những từ chỉ định (đây), liệt kê (trời xanh, núi rừng…), những tính từ gợi tả (thơm mát, mênh mông,,.) và điệp khúc của chúng ta vang vọng trong ko gian như trình bày thú vui làm chủ non sông. Tất cả những gì thân yêu thân thuộc trên non sông này là của chúng ta. Tư thế của nhân vật trữ tình trong những dòng thơ trên là thế đứng ngửng cao đầu của con người, sau bao nhiêu năm tranh đấu gieo neo, mới giành được quyền làm chủ non sông, trời thu xanh lè, núi rừng, những cánh đồng thơm mát, những ngả đường mênh mông, những dòng sông đỏ nặng phù sa trở thành xinh tươi, đáng yêu quý lạ thường, vì đã thuộc về ta.

3. Niềm tự hào về truyền thống quật cường

– Từ ko gian rộng lớn của non sông (trời xanh, núi rừng, những cánh đồng, những ngả đường, những dòng sông), mạch thơ chuyển sang chiều dài của thời kì. Cảm hứng của thi sĩ từ hiện nay trở về quá khứ, trình bày niềm tự hào về truyền thống quật cường của dân tộc:

Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất

– Lịch sử non sông với hàng nghìn năm kiên cường chống xâm lược luôn vang vọng hồn thiêng núi sông – tiếng vọng ko bao giờ dứt của nhiều thế hệ ông cha cho tới hôm nay:

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về

– Tương tự, bề dày của hàng nghìn năm lịch sử dân tộc ta đã được Nguyễn Đình Thi nhận thức và diễn tả thâm thúy qua đoạn thơ trên.

B. ĐẤT NƯỚC ĐAU THƯƠNG VÀ ANH DŨNG

1. Đau thương

Trong quá khứ:

Thằng giặc Tây, thằng chúa đất

Đứa đè cổ, đứa lột da

Trong hiện nay:

Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều

2. Quả cảm

Từ những năm đau thương tranh đấu

Đã ngời lên nét mặt quê hương

……….

Súng đạn chúng bay ko bắn được

Lòng dân ta yêu nước thương nhà

………..

Ôm non sông những người con áo vải

Đã đứng lên thành những người hùng

Trận đánh đấu đầy gieo neo (Ngày nắng đốt, đêm mưa dội) và nhiều hi sinh (Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh). Nhưng khối óc (trán) của họ xoành xoạch tin tưởng vào lương lai huy hoàng của đất nưức và con tim (lòng ta) của họ sáng ngời niềm sáng sủa thắng lợi: phép ẩn dụ ở đây thật điêu luyện qua những hình ảnh tượng trưng sắc sảo:

Trán cháy rực nghĩ trời đất mới

Lòng ta mênh mông ánh rạng đông

3. Một biểu tượng về non sông

Cảm hứng về non sông được nói chung cao độ qua khổ thơ cuối:

Súng nổ rung trời tức giận

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.

Đây là một khổ thơ có sức nén rất cao (mỗi dòng 6 chữ, hơi thơ cứng ngắc) mang ý nghĩa như một biểu tượng về vẻ đẹp và tầm cao của non sông.

Bình giảng bài thơ Non sông của nguyễn Đình Thi – Bài mẫu 1

    Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đa tài. ở lĩnh vực nào của nghệ thuật văn, thơ, nhạc ,kịch, ông cũng đều có những tác phẩm vẻ vang. Trong thi ca, bài ” Non sông” rất được độc giả mến mộ, đã từng được đưa vào giảng dạỵ trong nhà trường ngót nữa thế kỉ nay.

    Phần đầu là tâm trạng của thi nhân lúc đứng giữa chiến khu Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống pháp. Từ một buổi “sáng mắt trong”, tác giả thơ ” những ngày thu đã xa” ở thủ đô:

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

Những phố dài xao xác hơi may

Người ra tiên phong ko ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi dầy.

    Hà Nội hiện lên rất đẹp và cũng phảng phất buồn. Một thoảng” hơi may” lan tỏa nhưng mà đã thấm vào tận từng mái nhà, góc phố, từng hàng cây bờ hồ và cả trong hồn người. Nhạc điệu trầm lặng, lửng lơ cho thi phần càng thêm gợi cảm

Ở các câu thơ xuất thần:

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

Có hai cách ngắt nhịp khác hẳn nhau:

Sau lưng thềm/ nắng lá/ rơi đầy

Sau lưng/ thềm nắng/ lá rơi đầy

    Ngắt thơ theo cách thứ nhất thì tạo nên một vẽ đẹp kì lạ(nắng và lá cùng rơi); ngắt theo cách thư hai thì tạo nên một vẽ đẹp giản dị (chỉ có lá rơi đầy trên thềm nắng).

    Tùy thị hiếu nghệ thuật nhưng mà thích cách này hay cách kia. Những áng thơ hay thường gợi ra những cách hiểu không giống nhau nhưng mà vẫn hợp lí như thế.

    Cảnh thu ở đây là những ngày trước cách mệnh tháng tám. ” Người ra đi” là những chiến sĩ đang rời hà nội yêu giấu để lên chiến khu cách mệnh.

Mùa thu này ở việt bắc thì khác hẳn:

Gió thổi rừng tre phất phới

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha.

    Nhạc điệu thơ thay đổi: những câu thơ ngắn tạo nên một sự rộn ràng. Hình ảnh thơ trong trẻo, tươi sáng lạ thường. Có cảm tưởng như trời xanh hơn, cao hơn âm thanh như cũng vang xa hơn.

    Từ mùa thu mới, thi sĩ mới nghĩ về non sông:

Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

    Điệp ngữ “của chúng ta” nói lên niềm tự hào của con người lúc được làm chủ non sông. Người nào đã sống những năm dài dưới thời nô lệ mới hiểu hết nỗi đau xót, nhục nhã của người dân mất nước:

Giặc cướp hết non cao, biển rộng

Cướp cả tên nòi giống, tổ tiên

                              Tố Hữu

    Mở rộng tầm mắt nhìn về tám hướng phương trời, thi sĩ sung sướng reo lên:

Những cánh đồng thơm mát

Những ngả đường mênh mông

Những dòng sông đỏ nặng phù sa

    Điệp ngữ “những” như muốn khẳng định rằng nói bao nhiêu, kể bao nhiêu cũng ko hết cái đẹp, cái giàu của non sông thân yêu, giang sơn gấm vóc nghìn đời do tổ tiên ông cha để lại.

Thi sĩ còn lắng tai cả tiếng dội của lịch sử:

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về

    “Đất” tượng trưng cho sự vững bền. “Rì rầm” là âm thanh ko vẻ vang nhưng kéo dài ko dứt. Đó chỉ có thể là tiếng của ông cha từ nghìn xưa nhắc nhở con cháu hãy sống người hùng, quật cường.

    Sang đoạn thơ thứ hai, tác giả cảm nhận về non sông từ trong đau thương đứng lên tranh đấu và thắng lợi.

Mở đầu là những câu thơ gây căm thù:

Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều.

    Cánh đồng quê là hoán dụ để chỉ Tổ quốc. Thân thể Tổ quốc đang chảy máu vì bom đạn quân thù. Câu thơ nói về nỗi đau vật chất. Câu tiếp theo nói về nỗi đau ý thức. Bầu trời chiều êm đềm gợi lên một cuộc sống yên bình. Vậy nhưng mà giặc tới, dây thép gai tua tủa nơi đồn bốt chúng đâm nát tất cả. Sự man rợ của quân thù đã tới tột đỉnh. Đọc câu thơ tưởng như được xem một đoạn phim quay chậm làm nổi rõ những đường nét màu sắc tương phản, gây ấn tượng nhức nhối trong lòng độc giả.

    Hai câu tiếp theo là tâm trạng người chiến sĩ:

Những đêm dài hành quân nung nấu

Bỗng canh cánh nhớ mắt người yêu

    Hình ảnh đôi mắt người yêu như ngôi sao sáng trong trời đêm soi tỏ tuyến đường cho anh đi tới. Tình cảm riêng chung đã hòa làm một trong anh. Trước đây, trong bài “Nhớ”, Nguyễn Đình Thi cũng đã gợi lên điều đó:

Anh yêu em như anh yêu non sông

Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần.

    Những khổ thơ tiếp theo ca tụng non sông đã đứng lên kháng chiến. Đoạn thơ có những yếu tố chính luận làm cho tiếng nói trở thành rắn chắc:

Xiềng xích chúng bay ko khóa được

Trời đầy chim và đất đầy hoa

Súng đạn chúng bay ko bắn được

Lòng dân ta yêu nước thương nhà

    Quân địch đang thất bại vì bị bủa vây trong đại dương chiến tranh nhân dân. Và điều quan trọng nhất là chúng ta có những người người hùng kiểu mới, “những người áo vải” đang gánh cả cuộc đời kháng chiến trên vai. Họ có ba phẩm chất cao cả: Một là quật cường (Đã đứng lên thành những người hùng), hai là có nhiều suy nghĩ thâm thúy (Trán cháy rực nghĩ trời đất mới) và ba là sáng sủa cách mệnh (Lòng ta mênh mông ánh rạng đông).

Mấy cấu kết rất xuất sắc:

Súng nổ rung trời tức giận

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.

    Theo lời tác giả thì đoạn này được viết dựa vào một cảnh thực nhưng mà anh đã thấy ở chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trong tiếng đại bác dồn dập vang rền, chiến sĩ ta từ các hào chiến đấu đầy bùn đỏ ồ ạt xông lên như thác lũ xâm lăng những cứ điểm cuối cùng của giặc.

    Nhịp độ thơ ngắn, dồn dập như bước chân của người người hùng xung kích. Câu thơ cuối cùng đã phác họa ba tư thế tuyệt đẹp của chiến sĩ và cũng là tượng trưng cho dân tộc Việt Nam:

Rũ bùn: Vất bỏ quá khứ đau thương,

Đứng dậy: Kiên quyết xoá sổ quân thù,

Sáng lòa: Thắng lợi huy hoàng.

    Bài thơ đã tạo tác thành công một tượng đài hùng vĩ về non sông ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thơ Nguyễn Đình Thi mang một phong cách hiện đại: Liên kết xúc cảm và chính luận, vận dụng cả những thủ pháp của điện ảnh để gây ấn tượng, nhịp thơ phóng khoáng, hình ảnh thơ gợi cảm.

    “Non sông” là thi phẩm mang dáng dấp của một bản hùng ca có sức lay động mạnh mẽ tâm hồn độc giả. Nó là bài thơ tuyệt tác của thi ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp viết về đề tài non sông quê hương.

Bình giảng bài thơ Non sông của nguyễn Đình Thi – Bài mẫu 2


    “Non sông” là một bài thơ góp phần làm nên tên tuổi Nguyễn Đình Thi trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Bài thơ là lời tự bạch của tác giả về cả cảnh thu xưa và nay có sự thay đổi như thế nào, hay đó cũng là sự thay đổi của non sông ta trước sự xâm lược của thực dân Pháp nhưng vẫn đứng dậy đấu tranh để bao vệ độc lập. Thông qua đó, thi sĩ bộc bạch tình yêu non sông, lòng căm thù giặc, niềm tự hào, niềm tin son sắt vào tương lai tươi sáng của dân tộc và non sông.

    Nguyễn Đình Thi sáng tác bài thơ Non sông kể từ năm 1948 và hoàn thành vào năm 1955, sau thắng lợi Điện Biên Phủ. Bài thơ gồm hai phần. Phần đầu được tạo nên trên cơ sở những đoạn trích từ hai bài “Sáng mát trong như sáng năm xưa” (1948) và “Đêm mít tinh” (1949). Phần sau được viết năm 1955. Non sông được nhìn qua một ko gian – thời kì lạ mắt: mùa thu với mốc son lịch sử là sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945. Tuy được viết trong những thời kì không giống nhau nhưng cảm hứng thơ vẫn liền mạch và bài thơ là một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh.

    Bài thơ chia làm hai đoạn: đoạn thứ nhất từ đầu tới “…vọng nói về”, đoạn thứ hai là phần còn lại. Mạch xúc cảm và suy tưởng cũng là kết cấu cơ bản của bài thơ. Khởi đầu là xúc cảm về một sớm mùa thu ở chiến khu Việt Bắc gợi nhớ về mùa thu đã xa của Hà Nội. Hình ảnh mùa thu đó ko thể nào quên được, xúc cảm mùa thu xưa khiến tác giả nhớ về mùa thu hiện nay. Xúc cảm tăng lên, mở rộng về non sông trong đau thương, căm hờn đã vùng lên tranh đấu quật cường và thắng lợi vẻ vang: “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.”

    Bài thơ mở ra mở đầu bằng một sáng mùa thu hiện nay ở chiến lúc Việt Bắc, đó là một sáng thu tiết mát lành trong trẻo và thoảng thương hương cốm:

“Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Tôi nhớ những ngày thu đã xa”

    Cách mở đẩu rất tự nhiên, giản dị như một lời kể chuyện, một lời tâm tình, bộc bạch. Tác giả thấy buồi sáng “ mát trong” giống như buổi sáng “năm xưa”. Từ cái xúc cảm yên bình và thân thuộc đó thì đã cho thi sĩ chất “xúc tác” để nhớ lại kỉ niệm đó. Chỉ bằng vài nét gợi tả nhưng mà tác giả đã trình bày được ko gian, thời kì, màu sắc, hương vị của mùa thu: ko khí mát trong, gió thổi phảng phất mùi hương cốm mới, kết tinh của hương vị đất trời, cây cối mùa thu cái đặc trưng riêng của mùa thu Hà Nội đặc trưng là hương cốm mới:

“Ra đi nhớ cốm làng Vòng

Nhớ cau Nam Phổ, nhớ trầu chợ Dinh”

    Cái xúc cảm của mùa thu đó nó cứ quanh quẩn trong đầu khiến Nguyễn Đình Thi ko thể nào quên nổi.Vậy là tính hiệu mùa thu ko còn những hình ảnh ước lệ tượng trưng nư ngô đồng rụng, sen tàn, giếng ngọc,…nhưng mà là một vị dân gian đã thân thuộc từ nghìn đời.Câu thơ giản dị làm tăng cái ý nghĩa của sự thanh bình bình thường ấy. Và sự bình dị của đoạn đầu sẽ làm tăng sức biểu cảm của những hình ảnh tiếp theo:

“ Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

Những phố dài xao xác hơi may”

    Mùa thu là mùa nhạy cảm với thi nhân, có ko ít thi sĩ viết về mùa thu:

“ Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu nhỏ tẻo teo”

               (Nguyễn Khuyến)

    Hay trong “Thơ duyên” của Xuân Diệu cũng có viết:

“ Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá,

Thu tới – nơi nơi động tiếng huyền.”

    Tới với khổ thơ tiếp theo này thì nhịp độ chậm rãi, tràn đầy nhung nhớ. Nguyễn Đình Thi lại nhắc lại hình ảnh “sáng”. Nhưng ánh thu Hà Nội của hiện nay đẹp nhưng mà buồn, gợi bao sự thương nhớ. Cái lạnh giá mỗi lúc thu về vào buổi sáng sớm, cái rực rỡ ở đây là “lòng Hà nội”. Đó chính là chỉ ko khí của mùa thu đã đi sâu và từng con phố dài của Hà nội và sự liên kết với đảo gữ “ xao xác heo mây” – âm thnah nhẹ nhõm và từ láy “xao xác” tạo nên nỗi tâm tình đong đầy. Hình ảnh gió xao xác với con phố dài nó cuốn, thu hút con ta vào tận sâu thẳm.Về mặt ngữ nghĩa, những hình ảnh trên ko chứa đựng vẻ đẹp của Hà Nội, nhưng lúc đọc hai câu thơ ta vẫn cảm nhận được vẻ đẹp đắm sâu của thủ đô, trái tim của cả nước. Phải yêu Hà Nội, hiểu Hà Nội mới có thể cảm nhận được cái xao xác hơi may, cái chớm lạnh giữa thành phố này, yên ắng, trong lành, phảng phất những mơ hồ. Hình ảnh người ra đi lặng ngắt, trĩu nặng tâm tư tình cảm nhưng đầy kiên quyết dứt khoát.

    Đoạn thơ là bức tranh thu đượm buồn, nổi lên trên cái nền đó là hình ảnh người ra đi lặng lẽ, trĩu nặng tâm tư. Nét tâm trạng này cũng đã được ngân lên trong ca khúc rất nổi tiếng của nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn đã viết về Hà Nội:

“Người Hà Nội hôm nay ra đi

Mang theo mình bao nhiêu nỗi nhớ

Những ánh đèn qua ô cửa sổ

Bầu trời đêm cháy bỏng tình yêu.”

           (Hà nội – trái tim hồng)

    Có người nói, hình ảnh của Hà Nội đã thu lại trong câu thơ cuối: “thềm nắng lá rơi đầy”. Câu thơ đẹp và giàu sắc thái thẩm mĩ. Bức tranh thu Hà Nội thấm đầy nắng, gợi nên sắc thái quyến rũ trong tâm trí người ra đi. Nhưng có lúc làm sao nhưng mà đi nổi lúc một Hà Nội đẹp thế, quyến rũ như thế cứ níu chân chẳng cho đi, làm sao ko khỏi mềm lòng.

    Mùa thu đẹp đấy nhưng vì sao lúc thu sang con người ta lại thấy buồn?Có lẽ người ta sẽ quay đầu lại luyến tiếc, buồn bã lúc phải bỏ lại mãi mãi một vật, một nơi, hay một con người thân thiết đối với mình, nhưng lúc con người đó tin rằng sự ra đi đó chỉ là nhất thời và dự cảm được ngày trở về sẽ rất gần thì hoàn toàn ko cần thiết phải ngoảnh lại, phải lưu luyến. Đó là tâm lý hết sức tự nhiên của con người. Lớp trí thức trẻ đã có một niềm tin mãnh liệt vào ngày toàn thắng, hơn nữa ngày đó chắc chắn sẽ đến rất nhanh và họ sẽ có cơ hội trở về quê hương. Sự ra đi đầu ko ngoảnh lại ko chứa đựng sự lẻ loi, tuyệt vọng của sự ra đi trong “Tống biệt hành” của Thâm Tâm:

“Đưa người, ta chỉ đưa người đó

Một giã gia đình, một hững hờ…

– Ly khách!Ly khách! Trục đường nhỏ

Chí lớn ko về bàn tay ko”

nhưng mà nó chứa chan niềm tin vào một ngày mai tươi sáng. Chỉ trong 1 hình ảnh ấy, Nguyễn Đình Thi đã tạo nên một nềm tin vững mạnh. Và niềm tin đó đã được chứng minh bằng hiện thực CM sống động. Hoà bình trở lại và những người con nay lại trở về. Cảnh sắc tự nhiên đất nước thật tươi vui, sáng mát, như trẻ lại, như hồi sinh. Nếu mùa thu hồi trước xao xác gió hơi may buồn thì mùa thu nay gió đã chuyển mình thành cơn gió thổi rừng tre phấp phới, một cơn gió thu phóng khoáng và mạnh mẽ tưởng như chưa từng có trong thơ ca Việt Nam trước đây. Nếu năm xưa lá rơi đầy thềm nắng phố Hà Nội thì nay cả bầu trời thu Việt Bắc xanh biếc tươi vui Nguyễn Đình Thi đã tạo ra 1 niềm tin thật mãnh liệt.

“ Mùa thu nay khác rồi

Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi

Gió thổi rừng tre phấp phơi

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha”

    Mùa thu nay con người đang lặng lẽ giã từ những con phố dài hiu quạnh của Hfa nội tạm chiếm bya lượn giữa một ko gian thoáng rộng của núi đồi, của trời xanh mênh mông. Nếu mùa thu xưa bao chùm lầ nỗi buồn thì mùa thu nay là thú vui, sự thay đổi đó được kết bằng hình ảnh “ mùa thu tháy áo mới”. Câu thơ như một tiếng reo vui. Mùa thu với ngọn gió tự do, phóng khoáng đnag ồ ạt thổi. Mùa thu với tấm áo mới tươi đẹp,với ngọn gió mát lành mạnh mẽ đnag nô nức say mê trong thú vui lớn của cả dân tộc, của cả non sông.

    Mùa thu như được nhân hóa. Và người đọc cảm thấy mùa thu như một thiếu nữ điệu đà, thướt tha đang khoác tấm áo mới rạng rỡ, tươi tỉnh và dịu dàng. Phải chăng tấm áo đó là của sự độc lập, tự do của dân tộc.Cuộc sống đã thay đổi hoàn toàn. Ko chỉ mùa thu trong biếc mà chính cái hiện thực ấy, chính cái cuộc sống mới ấy thật đẹp, thật trong suốt. Và con người trong cuộc sống ấy đang tự do nói cười thiết tha trong nỗi vui mừng quê hương vừa được giải phóng, mùa thu năm 1945 cùng với sự ra đời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa.

    Từ xúc cảm về mùa thu non sông dẫn tới tình cảm mến yêu tha thiết và lòng tự hào về non sông, thi sĩ ngắm nhìn cảnh vật với tâm hồn phơi phới sáng sủa, yêu đời. Thú vui tràn trề lòng người, tràn trề đất trời. Đoạn thơ với nhịp độ rộn ràng, hào hứng và những hình ảnh xinh tươi, tươi mát đã trình bày vẻ đẹp muôn màu muôn vẻ của non sông thân yêu. Thi sĩ như reo như hát lên niềm hạnh phúc vô tận đó:

“Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơm mát

Những ngả đường mênh mông

Những dòng sông đỏ nặng phù sa”

    Nhịp thơ cuồn cuộn mãnh liệt khác hẳn sự tinh tế ở những khổ đầu. Hình ảnh nối tiếp hình ảnh, nhạc điệu rộn ràng, âm hưởng khoáng đạt, lời thơ trải dài như vô tận. Non sông của chúng ta, non sông với chiều dài, chiều rộng, chiều sâu và màu sắc dễ cảm. Điệp khúc “là của chúng ta” cứ ngân nga, vang vọng giữa đất trời, núi sông. Tất cả những gì thân yêu, thân thuộc trên non sông này đều là của chúng ta. Niềm tự hào làm chủ trời xanh, cánh đồng, núi rừng, dòng sông, làm chủ non sông. Còn gì sung sướng hơn, tự hào hơn bốn tiếng đó sau hàng trăm năm nô lệ, dân tộc ta phải đổ bao xương máu mới giành được quyền làm chủ. Cũng nguồn cảm hứng say sưa, dạt dào như thế, thi sĩ Tố Hữu đã thốt lên:

“Của ta trời đất hôm sớm

Núi kia, đồi nọ, sống này của ta!”

(Tung hô chiến sĩ Điện Biên).

    Từ việc cảm nhận non sông theo chiều ko gian với niềm tự hào được làm chủ non sông, tác giả chuyển sang cảm nhận non sông theo chiều thời kì với niềm tự hào truyền thống người hùng quật cường.

“ Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về”

    Nhịp thơ bỗng thay đổi, mang xúc cảm trầm lắng, ẩn chứa thái độ thành kính thiêng liêng, hướng người đọc trở về quá khứ lịch sử của quê hương.

    Lúc con người ta vui tươi, hoan hỉ về một thắng lợi thì bao giờ, sau đó cũng sẽ là những khoảnh khắc trầm tư suy nghĩ về cái giá của thắng lợi đó. Suốt chiều dài lịch sử bốn nghìn năm, trải qua bao phen chống ngoại xâm, có thắng có bại nhưng non sông này, dân tộc này chưa bao giờ khuất phục trước bạo lực của quân thù. Truyền thống quật cường đó truyền từ đời này sang đời khác. Thi sĩ lắng tai tiếng nói quật cường vọng lên từ lòng đất. “Đất”, qua tâm hồn thi sĩ và tâm hồn chúng ta, ko chỉ xanh tốt những vạt rừng, thơm mát những cánh đồng, mênh mông những ngả đường, đỏ nặng phù sa của những dòng sông nhưng mà còn “rì rầm” tiếng nói đấu tranh bao đời ko bao giờ tắt “ vọng nói về”. Câu thơ trở thành trang trọng, trầm lắng lúc nói tới tiếng vọng thiêng liêng của nghìn xưa rì rầm trong tiếng đất.

    Cũng với cảm nhận về non sông theo chiều dài truyền thống lịch sử Chế Lan Viên từng viết:

“Lúc Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc

Nguyễn Du viết Kiều, non sông hoá thành văn

Lúc Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc

Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng…”

                              (Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng)

    Từ những vần thơ đó đã làm sáng bừng lên chân lí trong thơ của Nguyễn Đình Thi

“ Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất”

    Có thể nói ít có hình ảnh nào trình bày nỗi đau thương tang thương của dân tộc và non sông trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lại cô đọng, súc tích và gây ám ảnh thâm thúy như những hình ảnh trong hai câu thơ:

“ Ôi cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều”

    Đạn bom quân thù cày nát mặt đất, triệt phá sự sống. Ánh hoàng hôn đỏ hắt xuống khiến những cánh đồng quê như chảy máu. Hàng rào dây thép gai quanh đồn bốt giặc tua tủa chĩa lên như muốn đâm nát trời chiều vốn yên ắng, bình yên. Cả hai chiều ko gian đều in đậm bóng vía sự tàn phá, chết chóc của chiến tranh. Từng chữ, từng câu thơ oằn nặng bởi xúc cảm đau thương, căm giận. Đọc thơ, người đọc như thấy trước mắt mình là cả hiện thực khốc liệt của những năm tháng khổ đau một cách tường tận và cụ thể. Ngòi bút của Nguyễn Đình Thi như một máy quay phim tài giỏi và đặc trưng tạo điều kiện cho người đọc trông thấy một bức tranh ngập đầy máu của chiến tranh. Trên cái nền hiện thực đó thì người chiến sĩ:

“Những đêm dài hành quân nung nấu

Bỗng canh cánh nhớ mắt người yêu”

    Đó là tâm trạng cháy bỏng mến thương nhân dân và “nung nấu” căm hờn quân cướp nước. Mối căm thù sục sôi trong tim, thôi thúc những đêm dài hành quân ko nghỉ. Mối căm thù dồn lên mũi lê, đầu súng nhằm thẳng quân thù. Nhưng chính lúc đó cũng nhấp nhoáng hiện lên trong nỗi nhớ “đôi mắt” của “người yêu” hy vọng khiến tâm hồn chiến sĩ ta canh cánh, xao xuyến.

    Hay nhất trong phần sau của bài thơ có nhẽ là khổ thơ này. Phải là người từng trải, có vốn sống phong phú và trái tim dạt dào tình cảm nhân ái thì tác giả mới có cách diễn tả tự nhiên về sự hài hòa giữa tình cảm riêng chung, giữa tình yêu lứa đôi và tình yêu non sông của người chiến sĩ.

    Và ở khổ thơ tiếp, Nguyễn Đình Thi đã lí giải sâu xa về sức sống, ý thức ý chí tranh đấu của người dân:

“Từ những năm đau thương tranh đấu

Đã ngời nên nét mặt quê hương

Từ gốc lúa bờ tre phúc hậu

Đã bật lên những tiếng căm hờn”

    Câu thơ ngắt nhịp khỏe, rắn rỏi, trình bày thâm thúy niềm tự hào, tự hào của tác giả về sức sống và vẻ đẹp của cả dân tộc. Từ “ngời” và “bật” được dùng rất hay, sự trỗi dậy, hồi sinh kỳ diệu, sự tỏa sáng, sức sống của dân tộc. Nguyễn Đình Thi đã sáng tạo 1 bài thơ hết sức đặc biệt lúc cảm xúc trong bài thơ ko chảy theo 1 nhịp thống nhất mà liên tục biến đổi. Ta biết rằng: thơ 7 chữ thì biểu lộ cảm xúc cá nhân, thơ 5 chữ thì cảm xúc mỏng hơn và thiên về nhịp điệu, thơ 6 chữ thì được sử dụng nhẳm khẳng định 1 ý tưởng. Trong bài thơ này, thơ 6 chữ được tác giả sử dụng đạt hiệu quả rất cao.

“Bát cơm chan đầy nước mắt

Bay còn giằng khỏi mồm ta

Thằng giặc Tây thằng chúa đất

Đứa đè cổ đứa lột da”

    Nỗi đau xót như thấm sâu vào từng câu, từng chữ, từng hình ảnh tiêu biểu tạo nên ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc. Đặc trưng hình ảnh “Bát cơm chan đầy nước mắt”, “Bay còn giằng khỏi mồm ta” nói lên tột cùng tội ác của quân thù và tột cùng sự tủi cực của nhân dân ta trong vòng nô lệ. Cách xưng hô đối lập giữa một bên là chính nghĩa: ta, cùng với một bên là sự phi nghĩa: bọn thằng, đứa… như bao căm thù và uất hận được dồn lại. Ngôn ngữ giản dị như khẩu ngữ truyền tải nội dung căm hận sâu sắc, cực tả sự áp bức bóc lột dã man đến tận xương tuỷ của bọn giặc xâm lược cùng bọn địa chủ tay sai đang thống trị từng ngày trên nước mắt, mồ hôi của nhân dân. Cắt ngắt nhịp (2 câu đầu là 2/2/2, 2 câu sau là 3/3) thể hiện sự đau uất, căm hờn.

“Xiềng xích chúng bay ko khóa được

Trời đầy chim và đất đầy hoa

Súng đạn chúng bay ko bắn được

Lòng dân ta yêu nước thương nhà”

    Nhịp thơ mạnh mẽ, gang thép làm cho câu thơ trở thành giàu sức biểu tượng. Sự đối lập giữa hai hình ảnh thơ “xiềng xích” và “trời đầy chim, đất đầy hoa” đã trình bày ý thức sáng sủa của nhân dân, khí phách người hùng của dân tộc bất chấp sự tàn khốc của chiến tranh và quân thù. Trình bày sự tin tưởng vào thắng lợi sau này. Nỗi đau đớn xót xa hoà lẫn lòng căm thù ngùn ngụt khiến đoạn thơ có sức truyền tải và tố cáo mãnh liệt, lột tả rõ nét nguyên nhân cho sức mạnh vùng lên của dân tộc.

“Khói nhà máy cuộn trong sương núi

Kèn gọi quân vang vọng cánh đồng

Ôm non sông những người áo vải

Đã đứng lên thành những người hùng”

    Hình ảnh độc đáo, sáng tạo thể hiện ko lúć sôi động, sùng sục của nhân dân trong kháng chiến. Núi rừng trước kia chỉ có sương núi, nay đã thấy khói nhà máy cuộn ko gian, cánh đồng trước kia chỉ có tiếng mõ nay đã nghe văng vẳng những tiếng kèn gọi quân. Hai hình ảnh sóng đôi rất ý nghĩa: một xây dựng đất nước ở miền Bắc, một bảo vệ đất nước ở miền Nam. 2 miền đất nước dẫu bị ngăn cách nhưng dường như vẫn đang cùng 1 nhịp thở. Từ thực tiễn kháng chiến gian nan và hào hùng, Nguyễn Đình Thi đã viết nên những câu thơ nói chung về sự mất mát, hi sinh của non sông cùng quyết tâm giành lại chủ quyền độc lập tự do của dân tộc ta. cả dân tộc kết đoàn thành một khối thống nhất, trán đẫm mồ hôi và mắt ngời hi vọng, rắn rỏi mạnh mẽ bước tới tương lai:

“Ngày nắng đốt theo đêm mưa giội

Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh

Trán cháy rực nghĩ trời đất mới

Lòng ta mênh mông ánh rạng đông”

    Nơi vùng núi Thượng Lào với ban ngày nắng như thiêu đốt và đêm đến lại những cơn mưa ào ào như thác đổ, tự nhiên khắc nghiệt dễ sinh bệnh tật đau ốm, nhưng người lính đã vượt qua tất cả những gian khổ đó. “Cháy rực”, “bát ngát”, “trời đất mới”, “bình minh”… là những hình ảnh kỳ diệu mà quê hương họ sẽ đến và phải đến. Nơi ấy có tự do, có niềm vui, có những cánh đồng bát ngát, có những dòng sông đỏ nặng phù sa, nơi ấy là nơi con người tự do mến thương và sống bên nhau. Nhân dân ta đứng dậy giữ nước ko chỉ bằng sức mạnh tình cảm nhưng mà còn bằng sức mạnh lí trí, có ánh sáng cách mệnh soi dường và niềm tin vào tương lai tươi sáng.

“Súng nổ rung trời tức giận

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.”

    Âm hưởng hào hùng, sảng khoái của đoạn thơ được tạo nên từ thể thơ sáu chữ với tiết tấu nhanh, mạnh, dồn dập cùng với hàng loạt hình ảnh đậm chất người hùng ca lấy từ thực tiễn của chiến trường Điện Biên Phủ thảm khốc nhưng mà thi sĩ đã trực tiếp tham gia và được tận mắt chứng kiến: “Tổ trông thấy các anh – Nguyễn Đình Thi kể – mình mẩy đầy bùn, nhưng lúc nhảy lên trên mặt đất, các anh hiện lên chói lòa trong ánh nắng”. Tác giả đã tạo nên hình tượng thơ xinh tươi, hào hùng từ hình ảnh rất chân thực: trong máu lửa, bùn lầy, giữa tiếng đại bác rền vang rung trời chuyển đất, chiến sĩ ta từ các hào chiến đấu ồ ạt xông lên như nước vỡ bờ. Hình ảnh của họ nổi lên trên nền trời như một tượng đài kì vĩ của chủ nghĩa yêu nước và người hùng cách mệnh.

    Tới tận cuối bài thơ, tác giả mới gọi tên Việt Nam với sự tự do, tự chủ, sự tự hào. Ông cảm thu được hình ảnh non sông trong lòng.

    Từ máu lửa và bùn đen đã bật dậy và sáng lòa, rực rỡ huy hoàng. Câu thơ giàu trị giá biểu tượng và tính nói chung, cùng với tính nghệ thuật rất cao. Nhịp thơ 2/2/2. Vận động khỏe khoắn, sự vươn lên của dân tộc bởi một sức sống kì vĩ và bất tử.

    Bài thơ kết thúc bằng ánh sáng, trình bày niềm tin và khát vọng mạnh mẽ, vinh quang. Non sông đã ghi lại và vẽ nên một hình ảnh non sông Việt Nam với bao thăng trầm, khói lửa để tới được ngày độc lập. Non sông xứng đáng dược coi là cuốn biên niên sử nước ta bằng thơ. Đây là sự liên kết thuần thục giữa sử thi và thông minh nghệ thuật tài năng của Nguyễn Đình Thi.

Bình giảng bài thơ Non sông của nguyễn Đình Thi – Bài mẫu 3

    Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đa tài trên văn đàn Việt Nam. Ông ko chỉ đóng góp to lớn cho nền thơ ca Việt nhưng mà còn cho cả nền âm nhạc nước nhà với bài hát Người Hà Nội vô cùng nổi tiếng. Trong sự nghiệp thơ ca của mình, ông để lại tác phẩm nổi tiếng nhất là bài thơ Non sông. Bài thơ được viết trong tám năm ròng, đó là những cảm nhận về non sông Việt Nam tươi đẹp, giàu có, trải qua những năm tháng đau thương đã quật cường đứng lên tranh đấu với sức mạnh phi thường. Qua đó, cũng trình bày hi vọng về một tương lai tươi sáng, rạng rỡ của dân tộc Việt Nam – “những người áo vải”.

    Bài thơ Non sông được ra đời gắn liền với chiều dài lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai của quân và dân ta. Tuy bài thơ chỉ có bốn mươi chín dòng thơ ngắn ngủi nhưng trong đó là kết tinh của xúc cảm, trải nghiệm của tác giả trong tám năm dài. Chính vì thế, bài thơ hòa quyện bởi sư sâu lắng suy tư, nhưng cũng chứa chan niềm hoan hỉ tự hào về dân tộc ta, non sông ta.

Mở đầu bài thơ, Nguyễn Đình Thi viết:

“Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới”

    Non sông là tác phẩm được hòa quyện bởi hai tác phẩm khác của Nguyễn Đình Thi là “Sáng mát trong như sáng năm xưa” và tác phẩm “Đêm mít tinh” có nhẽ chính vì vậy, mở đầu bài thơ ông đã giới thiệu như thế. Ko khí mùa thu phảng phất ngây ngất ngay từ những dòng trước tiên, đây hẳn là mùa thu của Hà Nội trong tâm trí ông bởi lúc đó ông đang công việc trên chiến khu Việt Bắc. Là người con của Hà Nội, vậy nên ông nhớ nhất là những buổi sáng mùa thu trong mát, với gió hiu hắt thổi, ko khí se se lạnh. Ở đây, Nguyễn Đình Thi đã đặt một phép so sánh “sáng mát trong như sáng năm xưa”. “Năm xưa” là những năm Hà Nội trước thời chiến, hay là năm xưa của mùa thu lịch sử lúc Hồ Chủ tịch đứng trước quảng trường Ba Đình đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập? Dù là năm nào thì đó cũng là một mùa thu trong mát, thật êm dịu, mát lành trong tâm trí của thi sĩ. Và trong làn gió đó, phảng phất hương cốm thơm, mùi hương đặc trưng nhất của thu Hà Nội. Người nào cũng biết, Hà Nội vào thu nổi tiếng nhất là món cốm làng Vòng, xanh mát và thơm nồng. Cái hương cốm mới đó quyện lại làm nên hương vị đặc trưng rất riêng của mùa thu Hà Nội. Cũng cũng suy nghĩ như thế, nhưng Hữu Thỉnh lại nhớ mùa thu trong hương ổi nồng nàn:

“Bỗng trông thấy hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương dùng dắng qua ngõ

Hình như thu đã về”

    Mỗi người thi sĩ đều có cách cảm không giống nhau, nhưng Nguyễn Đình Thi thật đặc trưng, bởi ông cảm thấy nó, cảm thấy mùa thu đó, hương cốm đó trong tâm trí của mình. Có thể nói rằng chính tình yêu Hà Nội tha thiết đã khiến ông không thể nào quên được những đặc trưng riêng của quê hương mình, rộng hơn là non sông mình.

    Trong đoạn thơ này, ông cũng rất đặc trưng sử dụng nghệ thuật “đồng hiện”, tái tạo quá khứ và hiện nay trong cũng một đoạn thơ. Bên trên là hiện nay thì ngay ở bên dưới, quá khứ trong suy tưởng của ông đã xuất hiện:

“Tôi nhớ những ngày thu đã xa

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

Những con phố dài xao xác hơi may”

    Cả một bầu trời kỉ niệm cuộn trào trong tâm trí ông, tất thảy đều là hình ảnh của mùa thu Hà Nội. Ông nhớ những ngày đầu thu Hà Nội, trong cái ko khí se se lạnh, gió hiu hắt, bước chân trên những con phố dài, lòng người lộn lạo biết bao xúc cảm suy tư. Mùa thu Hà Nội thật đẹp và phải là người tinh tế mới trông thấy nét đẹp đó từ những con phố dài cổ truyền, dưới những tán lá cao, trong cái khí “chớm lạnh” se của đất trời. “Chớm lạnh” chứ chưa phải lạnh, nó là cái ko khí đặc trưng nhất của mùa thu. Nguyễn Đình Thi đã thật tinh tế lúc chọn từ này bởi cái lạnh mới chớm kia mới gợi ra cho lòng người biết bao nỗi nhớ, se sắt nhưng mà đầy hoài niệm. “Hơi may” là một từ Hán Việt, được Nguyễn Đình Thi khôn khéo đặt ở trong câu thơ và nghĩa của nó là gió lạnh. Nghe từ “gió lạnh”, người ta thấy cả mùa đông, nhưng “hơi may” lại khiến người ta trông thấy cái cảm giác bình yên, nhẹ nhõm của mùa thu trong mát. Và cái “hơi may” đó đang xao xác trên “những con phố dài”. “Xao xác” là từ tượng thanh, thường dùng để chỉ âm thanh của lá rơi. Nhưng ở đây, tác giả đã đặc cách sử dụng nó để tả “hơi may” của mùa thu, làm cho chúng ta phải ngỡ ngàng. Mùa thu ko chỉ xuất hiện hình khối, màu sắc, nhưng mà còn có cả âm thanh nữa.

    Nhớ mùa thu Hà Nội da diết là thế, nhưng việc ra đi là điều không thể tránh khỏi, vậy nên, kết lại khổ thơ thứ nhất, Nguyễn Đình Thi viết:

“Người ra tiên phong ko ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”.

    Đó là lòng quyết tâm của một người con Hà Nội, yêu quê hương tới cháy lòng. Yêu quê hương, yêu non sông nên mới quyết tâm ra đi “ko ngoảnh lại”. Biết là lưu luyến đấy, nhưng chí lớn của non sông vẫy gọi, sao có thể ko ra đi chứ? Đó là nỗi ngập ngừng giữa lý trí và tình cảm trong lòng những lứa trí thức ra đi vì non sông, lòng người ly biệt vẫn đầy những luyến lưu với quê hương, với cả mùa thu nữa. “Đầu ko ngoảnh lại” trình bày một quyết tâm kiên cường, để lại đằng sau lưng là những nỗi thương nhớ da diết, khôn nguôi. Nhịp thơ ở đây thật nhẹ nhõm, nhưng sau đó là biết bao xâu xé của nội tâm, để tới cuối cùng, họ vẫn quyết tâm bỏ lại cái tôi ở lại, ra đi vì non sông thân yêu của mình.

    Đoạn thơ trước tiên được viết trong nỗi nhớ Hà Nội, trong tâm tưởng của thi sĩ. Đó là sự hoài niệm về quá khứ với bao mến thương, say mê. Thế nhưng, ko đắm chìm mãi trong tưởng nhớ suy tư, Nguyễn Đình Thi trở lại với hiện nay với thú vui phơi phới, với mùa thu của chiến khu Việt Bắc:

“Mùa thu nay đã khác rồi

Tôi đứng nghe vui giữa núi đồi

Gió thổi rừng tre phất phới

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha”

    Vừa mới hoài niệm về một mùa thu Hà Nội với bao nỗi niềm thế nhưng mà ngay câu thơ thứ hai, Nguyễn Đình Thi đã khẳng định “mùa thu nay đã khác rồi”. Đó là một lời khẳng định cứng ngắc của thi sĩ về mùa thu của non sông đã thay đổi. Nhịp thơ ở đoạn này nhanh hơn, mạnh mẽ và rộn ràng hơn. Nó như một khúc ca tụng ca vậy bởi “khác” ở đây ko chỉ là mùa thu nhưng mà còn là tâm thế, vị thế của con người nữa. Chẳng thế nhưng mà ông đã ngân nga, vui sướng giữa đất trời:

“Tôi đứng nghe vui giữa đất trời”

    Ba động từ liên tục “đứng nghe vui” được đặt cạnh nhau trong một câu thơ, người ta mới thấy cái rộn ràng vui sướng của tác giả dường như đã lây sang cả người đọc chúng ta. Ba động từ liền sát, trình bày sự tập trung cao độ vào một hướng duy nhất “đất trời” – hay chính là non sông quê hương ta. Non sông hiện lên trong thú vui rộn ràng, thế nên không thể thiếu được hình ảnh của những cây tre thân thuộc – loài cây biểu tượng của non sông ta. Cây tre đó như Nguyễn Duy đã nói:

“Tre xanh

Xanh tự bao giờ

Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh”

    Phải, hình ảnh đó là vô cùng thân thuộc với mỗi con người Việt Nam. Bởi nó là biểu tượng cho ý chí kiên cường của con người, của dân tộc ta, luôn vươn dậy mạnh mẽ. Từ “phất phới” được đặt ở đây mang một ý nghĩa thật đặc trưng. Bởi nó thường để tả những vật có kích thước nhỏ, mỏng và dẹp, nhưng Nguyễn Đình Thi lại nói “gió thổi rừng tre phất phới”. Phải chăng sau rừng tre xanh đó là lá cờ Tổ quốc đang tung bay trong gió thu se lạnh?

    Và hơn thế nữa, trời thu ở đây chẳng còn xám xịt, mang vẻ rầu rĩ lặng lẽ như những ngày còn ở “những con phố dài” Hà Nội nữa. Mùa thu đã “thay áo mới”, khoác trên mình tấm áo”xanh lè” thiết tha. Bầu trời thu thay đổi hay là vì tâm thế con người thay đổi đã khiến mùa thu có thêm sắc màu rực rỡ? Những âm thanh “nói cười” cũng rộn ràng biết bao nhiêu. Ko khí thu chẳng còn “hơi may” se lạnh nữa, nó ấm áp hơn, trời thu trong xanh, cao rộng hơn, con người cũng hoan hỉ hơn. Bởi giờ đây chúng ta đã làm chủ non sông, đã được tự do rồi.

    Tiếp sau, Nguyễn Đình Thi trình bày sự tự hào của mình trong thú vui hoan hỉ, tự hào về một non sông giàu đẹp với “trời xanh”, “núi rừng”, “những cánh đồng thơm ngát”, “dòng sông đỏ nặng phù sa”. Tác giả đã liệt kê một loạt những hình ảnh giàu đẹp của quê hương để trình bày thú vui được làm chủ non sông, khẳng định ý thức về quyền làm chủ quê hương. Điệp từ “đây”, “của chúng ta” được lặp lại liên tục như một lời khẳng định vững chắc, non sông này là của chúng ta, của dân tộc ta.

“Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơm ngát

Những ngả đường mênh mông

Những dòng sông đỏ nặng phù sa”

    Đọc tới đây, chúng ta hẳn thấy được tính sử thi đậm nét trong đoạn thơ này. Tác giả đã mượn lời của nhân dân để khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc. Và giờ đây, với tâm thế của một kẻ tự do, nhân vật trữ tình đang ngửng cao đầu tuyên bố sự tự do dân chủ đó. Hình ảnh đó chúng ta cũng bắt gặp một vài lần trong thơ ca Việt, đặc trưng trong tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi. Ta ko thể quên những lời tuyên bố gang thép của ông:

“Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông lãnh thổ đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu Đinh Lý Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”

    Trong thú vui tự hào đó, tác giả đã trầm ngâm suy tư về truyền thống của dân tộc ta từ bao đời nay. Với bốn nghìn năm lịch sử dựng và giữ nước, dân tộc đã đã làm nên nhiều trang sử người hùng. Nhịp thơ ở đây cứ chậm rãi như suy tư suy tưởng:

“Nước chúng ta

Nước những con người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về”

    Chúng ta, một dân tộc chân lấm tay bùn, cuộc sống vất vả, lam lũ là thế nhưng chúng ta “chưa bao giờ khuất”. Sau lớp bùn nâu là một trái tim yêu nước nhiệt thành, sẵn sàng hi sinh vì non sông non sông. Lớp này ngã xuống, lớp khác sẽ đứng lên, chưa bao giờ chúng ta chịu khuất phục trước bất kì quân thù nào. Truyền thống đánh giặc của dân tộc ta được truyền qua bao thế hệ, từ những thời bà Trưng bà Triệu, tới buổi ba lần dẹp quân Mông – Nguyên, có hy sinh, gieo neo trong quá khứ mới có được ngày hôm nay. Những lời nói của ông cha dạy bảo “đêm đêm” cứ vang vọng lên “vọng nói về” từ trong “tiếng đất”, gợi nhắc chúng ta về truyền thống người hùng của dân tộc cũng như đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.

    Thế nhưng giờ đây, non sông chúng ta đang bước vào thời kỳ nguy nan, những “cánh đồng thơm ngát” đang bị quân thù giày xéo tới “chảy máu”. Những hình ảnh về chiến tranh thật đau thương biết mấy:

“Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều”

    Chẳng còn mùa thu yên bình dịu dàng như trước, non sông đang rơi vào khổ đau. Bức tranh buổi chiều của Nguyễn Đình Thi vẽ lên sao nhưng mà ám ảnh thế! “Những cánh đồng quê chảy máu” – ánh mặt trời rọi xuống ko gian một màu đỏ ối, nhuộm đỏ cả cánh đồng chiều hôm, Đây là một buổi chiều được vẽ lên trong buổi hành quân. Sự nhân hóa đó như muốn nói lên sự tang thương, sự đớn đau của mỗi miền quê Việt đang phải oằn mình trong chiến tranh. Biết bao máu xương sẽ phải đổ xuống để giành lại được độc lập đây? Rồi “Dây thép gai đâm nát trời chiều” – quả là một hình ảnh ám ảnh. “Dây thép gai” – thứ nhưng mà quân xâm lược dựng lên để chống lại quân và dân ta, đó là biểu tượng của chiến tranh, của khổ đau. Những sợi dây thép tua tủa đó đâm thẳng vào bầu trời chiều, “đâm nát” cả trời chiều êm đềm, nó gợi lên sự đau thương nhưng mà chiến tranh gây ra cho quê hương Việt Nam. “Đâm nát” là một động từ mạnh, trình bày sự tàn bạo, man di liên kết với nghệ thuật nhân hóa càng làm cho hình ảnh non sông thêm đau thương. Chúng ta cảm nhận thấy ở đây có một sự căm hờn tới nghẹn ngào.

    Thế nhưng, trong những buổi hành quân đó cũng có chút thi vị để át đi cái đau thương đang hiện hữu. Một tẹo bâng khuâng, nhớ nhung “mắt người yêu” làm cho lòng người chiến sĩ thêm dư vị ngọt ngào, để khiến anh thêm động lực lên đường tranh đấu. Nhắc tới người yêu, tưởng như là chuyện riêng tư đó, thế nhưng cái tình yêu lứa đôi đó đã hòa quyện trong tình yêu lớn của non sông, chuyển hóa thành hành động khiến chàng trai có thêm niềm tin yêu, động lực để tranh đấu vì mục tiêu chung của non sông.

“Những đêm dài hành quân nung nấu

Bỗng canh cánh nhớ mắt người yêu”

    Người ta cũng đã từng bắt gặp nỗi niềm tương tư đó trong một bài thơ khác cũng của một người con Hà Nội – đó là chàng trai Quang Dũng trong “Tây tiến”:

“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

    Đọc tới đây, người đọc chợt nhận thấy cái sức mạnh tranh đấu đang dần mạnh mẽ lên gấp bội bởi sự căm hờn lũ giặc ngoại xâm, tình yêu lứa đôi, tình yêu non sông đã quyện lại trở thành động lực xúc tiến người chiến sĩ:

“Từ những năm đau thương tranh đấu

Đã ngời lên nét mặt quê hương

Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu

Đã bật lên những tiếng căm hờn”.

    Lũ giặc cướp nước đã dày xéo quê hương ta, nhân dân đã đã trải qua bao năm tháng tranh đấu, chống lại quân thù. Những nỗi đau xót nhưng mà quân thù gây nên đã khiến những gì hiền hòa nhất, “hồn hậu” nhất cũng phải “bật lên nỗi căm hờn” khôn xiết. Ở đây, Nguyễn Đình Thi đã liệt kê một loạt những hành động tội ác của quân thù:

“Bát cơm chan đầy nước mắt

Bay còn giằng khỏi mồm ta

Thằng giặc Tây, thằng chúa đất

Đứa đè cổ, đứa lột da…”

    Những hình ảnh gợi tả đó thật khiến chúng ta day dứt. Cuộc sống của người nông dân dưới giai cấp thống trị tàn bạo của quân thù thật khiến người ta phải căm hờn. “Thằng giặc Tây, thằng chúa đất” – những kẻ tàn bạo xâm lược, lũ bán nước và lũ cướp nước đang dày xéo quê hương ta, làm khổ đau nhân dân ta.

    Vậy nên trong cái gieo neo, cái đau xót đó, dưới sự tàn bạo, độc ác đó của quân thù đã tôi rèn lên những người người hùng, tôi rèn lên lòng yêu nước mạnh mẽ:

“Xiềng xích chúng bay ko khóa được

Trời đầy chim và đất đầy hoa

Súng đạn chúng bay ko bắn được

Lòng dân ta yêu nước thương nhà

Khói nhà máy cuộn trong sương núi

Kèn gọi quân vang vọng cánh đồng

Ôm non sông những người áo vải

Đã đứng lên thành những anh hùng”.

    Lời khẳng định cứng ngắc của Nguyễn Đình Thi trước sự tàn bạo của quân thù. Chúng bay có thể cướp được đất, được ruộng, thóc lúa của chúng ta, nhưng chúng bay sẽ không thể khóa được cánh chim tự do của dân tộc ta, khóa được hoa thơm của dân tộc ta. Chúng ta có thể giết mổ được dân ta nhưng ko thể nào giết mổ được “lòng dân ta yêu nước thương nhà”. Chúng bay chỉ khiến dân tộc ta thêm căm hờn, thêm yêu nước, cho chúng ta thêm động lực để vươn dậy thành “những người hùng”. Nguyễn Đình Thi đã khắc họa hai bức tranh tương phản giữa tội ác man di của giặc và sức sống mãnh liệt của dân tộc ta, từ đó ông khắc họa rõ nét hơn phẩm chất người hùng của dân tộc, non sông ta. Qua đó, ông cũng muốn khẳng định chân lý rằng: Sự tàn bạo của quân thù ko thể xoá sổ được tình yêu, khát vọng sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam nhưng mà chỉ góp phần tôi rèn chúng ta trở thành những người người hùng.

    Tội ác của quân thù gây nên chỉ khiến chúng ta có thêm sức mạnh, động lực để gây dựng lên một tương lai tràn đầy tự do và hạnh phúc. Tương lai đó, ngày mai đó được dựng lên từ chính hôm nay, những gian lao sẽ được bù đắp:

“Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội

Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh

Trán cháy rực nghĩ trời đất mới

Lòng ta mênh mông ánh rạng đông”

Đọc bài thơ nhưng mà ta cảm thu được, những người người hùng đã làm nên độc lập chính là những người áo vải. Họ là những người vô danh, nhưng vì tình yêu Tổ quốc đã góp sức cả xương máu của mình cho độc lập tự do của non sông. Thi sĩ cũng khẳng định: “Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh”, phải hi sinh, phải mất mát thì mới có được tự do, mới trân trọng sự tự do đó. Tuy là mất mát đấy, đau thương hi sinh đấy, nhưng họ vẫn luôn hướng về một “trời đất mới”, nơi nhưng mà “mênh mông ánh rạng đông”. Đêm tối khổ đau sẽ lùi dần về phía sau, trước mắt chúng ta sẽ là một chân trời mới rực sáng màu “rạng đông”.

Kết lại bài thơ, chúng ta bắt gặp một hình ảnh vô cùng hoành tráng:

“Súng nổ rung trời tức giận

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”.

     Đây như lời mô tả cuộc tổng tiến công của quân đội nhân dân Việt Nam, nơi súng đạn và những người chiến sĩ đang tiến lên giành lấy tự do, nơi âm vang cuối cùng của trận chiến. Để tới cuối cùng kết lại là một hình ảnh tươi sáng, rực rỡ hơn bao giờ hết. Nước Việt Nam ta kết thúc chiến tranh, bước ra “từ máu lửa” đau thương nhưng sẽ “rũ bùn” để “đứng dậy sáng lòa”, trở thành một non sông độc lập tự do, giàu mạnh. Hai hình ảnh thơ đối lập “máu lửa – sáng lòa”, đó là lời kết đầy khẳng định về hình ảnh con người Việt Nam hiên ngang, quật cường.

     Bài thơ được viết trong suốt tám năm, suốt chặng đường quân và dân ta đang đứng lên chống thực dân Pháp trở lại, vậy nên nó có một sức nói chung vô cùng lớn. Nói chung hình ảnh con người dân tộc Việt Nam suốt cuộc kháng chiến, có đau thương, có mất mát, nhưng cũng có người hùng quật cường, hướng tới tương lai. Ngôn từ trong bài thơ cũng mang tình súc tích và giản dị. tác giả đã thổi vào mỗi từ ngữ trong bài thơ một nỗi lòng của mình, một tình yêu nước sâu nặng. Cũng phải kể tới sự linh hoạt trong ngôn từ, cách diễn tả, sự chuyển đổi tinh tế xúc cảm giữa các dòng thơ đã góp phần tạo nên thành công cho bài thơ này.

     Bằng nỗi lòng tràn đầy tình yêu và xúc cảm, với một hồn thơ tinh tế xúc cảm, Nguyễn Đình Thi đã vẽ lên hình tượng non sông từ những hình ảnh vô cùng thân thuộc. Đó là một non sông êm đềm, yên bình, chịu những đau thương của chiến tranh nhưng vẫn quyết tâm, kiên cường, quật cường giành lại tự do, hướng tới một tương lai tươi sáng. Hình ảnh non sông đó khiến chúng ta ko thể nào quên.

Trên đây là một số bài văn mẫu Bình giảng bài thơ Non sông của nguyễn Đình Thi nhưng mà giainhat.vn đã biên soạn. Kỳ vọng sẽ giúp ích các em trong quá trình làm bài và ôn luyện cùng tác phẩm. Chúc các em học tốt môn Văn!

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

Hình Ảnh về: Bình giảng bài thơ Non sông của nguyễn Đình Thi

(hay nhất)

Video về: Bình giảng bài thơ Non sông của nguyễn Đình Thi

(hay nhất)

Wiki về Bình giảng bài thơ Non sông của nguyễn Đình Thi

(hay nhất)

Bình giảng bài thơ Non sông của nguyễn Đình Thi

(hay nhất) -

Tuyển tập 900 bài văn mẫu 12 hay nhất với các chủ đề nhiều chủng loại như phân tích, cảm nhận, nghị luận. Cùng tham khảo bài Bình giảng bài thơ Non sông của nguyễn Đình Thi để hiểu hơn về nội dung tác phẩm.

Dàn ý Bình giảng bài thơ Non sông của nguyễn Đình Thi

– Thể loại

Kiểu bài chứng minh (một vấn đề trong tác phẩm văn học) qua phân tích một tác phẩm trữ tình.

– Nội dung

Cảm hứng về non sông (của thi sĩ Nguyễn Đình Thi trong bài thơ Non sông).


GỢI Ý

Cảm hứng về non sông trong bài thơ Non sông được triển khai theo hướng từ cụ thể tới nói chung, qua ko gian – thời kì mùa thu.

Có thể phân tích và chứng minh theo các đoạn chính sau đây.

A. ĐẤT NƯỚC VÀ NIỀM VUI LÀM CHỦ ĐẤT NƯỚC

1. Cảm nhận về non sông qua hình ảnh hai mùa thu

Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương còn mới

– Cảm nhận về non sông kể từ mùa thu. Hương cốm mới làm người đọc xao xuyến trước những gì thân thiện, thân thuộc của quê hương. Người ra đi, dù kiên quyết (đầu ko ngoảnh lại) nhưng lòng vẫn lưu luyến vương vấn:

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

– Mùa thu chiến khu hôm nay (mùa thu nay) đổi mới, xanh mướt (trời thu thay áo mới, rừng tre phất phới, trời xanh…). Cảnh sắc tự nhiên non sông thật tươi vui. Nếu mùa thu xưa xao xác gió heo may buồn thì mùa thu nay gió thổi rừng tre phất phới, năm xưa lá rơi đầy thềm nắng những con phố dài Hà Nội thì nay cả bầu trời thu Việt Bắc xanh lè tươi vui:

Trời thu thay áo mới

– Thú vui lan toả khắp đất trời, cây cối tràn trề lòng người. Thi sĩ lắng tâm hồn để cảm nhận thú vui từ làn gió thu trong mát, sắc trời thu xanh lè và nhất là từ giọng nói tiếng cười thiết tha của mọi người trong nỗi vui tươi quê hương vừa được giải phóng:

Trong biếc nói cười thiết tha

2. Niềm tự hào làm chủ non sông

– Thú vui được giải phóng gắn liền với niềm tự hào làm chủ non sông. Dưới cái nhìn say đắm của thi sĩ, non sông trái rộng, nơi nào cũng tươi đẹp, nơi nào cũng màu mờ, phì nhiêu:

Trời xanh đây là của chúng ta

…..

Những dòng sông đỏ nặng phù sa

– Câu khẳng định với những từ chỉ định (đây), liệt kê (trời xanh, núi rừng…), những tính từ gợi tả (thơm mát, mênh mông,,.) và điệp khúc của chúng ta vang vọng trong ko gian như trình bày thú vui làm chủ non sông. Tất cả những gì thân yêu thân thuộc trên non sông này là của chúng ta. Tư thế của nhân vật trữ tình trong những dòng thơ trên là thế đứng ngửng cao đầu của con người, sau bao nhiêu năm tranh đấu gieo neo, mới giành được quyền làm chủ non sông, trời thu xanh lè, núi rừng, những cánh đồng thơm mát, những ngả đường mênh mông, những dòng sông đỏ nặng phù sa trở thành xinh tươi, đáng yêu quý lạ thường, vì đã thuộc về ta.

3. Niềm tự hào về truyền thống quật cường

– Từ ko gian rộng lớn của non sông (trời xanh, núi rừng, những cánh đồng, những ngả đường, những dòng sông), mạch thơ chuyển sang chiều dài của thời kì. Cảm hứng của thi sĩ từ hiện nay trở về quá khứ, trình bày niềm tự hào về truyền thống quật cường của dân tộc:

Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất

– Lịch sử non sông với hàng nghìn năm kiên cường chống xâm lược luôn vang vọng hồn thiêng núi sông – tiếng vọng ko bao giờ dứt của nhiều thế hệ ông cha cho tới hôm nay:

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về

– Tương tự, bề dày của hàng nghìn năm lịch sử dân tộc ta đã được Nguyễn Đình Thi nhận thức và diễn tả thâm thúy qua đoạn thơ trên.

B. ĐẤT NƯỚC ĐAU THƯƠNG VÀ ANH DŨNG

1. Đau thương

Trong quá khứ:

Thằng giặc Tây, thằng chúa đất

Đứa đè cổ, đứa lột da

Trong hiện nay:

Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều

2. Quả cảm

Từ những năm đau thương tranh đấu

Đã ngời lên nét mặt quê hương

……….

Súng đạn chúng bay ko bắn được

Lòng dân ta yêu nước thương nhà

………..

Ôm non sông những người con áo vải

Đã đứng lên thành những người hùng

Trận đánh đấu đầy gieo neo (Ngày nắng đốt, đêm mưa dội) và nhiều hi sinh (Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh). Nhưng khối óc (trán) của họ xoành xoạch tin tưởng vào lương lai huy hoàng của đất nưức và con tim (lòng ta) của họ sáng ngời niềm sáng sủa thắng lợi: phép ẩn dụ ở đây thật điêu luyện qua những hình ảnh tượng trưng sắc sảo:

Trán cháy rực nghĩ trời đất mới

Lòng ta mênh mông ánh rạng đông

3. Một biểu tượng về non sông

Cảm hứng về non sông được nói chung cao độ qua khổ thơ cuối:

Súng nổ rung trời tức giận

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.

Đây là một khổ thơ có sức nén rất cao (mỗi dòng 6 chữ, hơi thơ cứng ngắc) mang ý nghĩa như một biểu tượng về vẻ đẹp và tầm cao của non sông.

Bình giảng bài thơ Non sông của nguyễn Đình Thi – Bài mẫu 1

    Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đa tài. ở lĩnh vực nào của nghệ thuật văn, thơ, nhạc ,kịch, ông cũng đều có những tác phẩm vẻ vang. Trong thi ca, bài ” Non sông” rất được độc giả mến mộ, đã từng được đưa vào giảng dạỵ trong nhà trường ngót nữa thế kỉ nay.

    Phần đầu là tâm trạng của thi nhân lúc đứng giữa chiến khu Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống pháp. Từ một buổi “sáng mắt trong”, tác giả thơ ” những ngày thu đã xa” ở thủ đô:

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

Những phố dài xao xác hơi may

Người ra tiên phong ko ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi dầy.

    Hà Nội hiện lên rất đẹp và cũng phảng phất buồn. Một thoảng” hơi may” lan tỏa nhưng mà đã thấm vào tận từng mái nhà, góc phố, từng hàng cây bờ hồ và cả trong hồn người. Nhạc điệu trầm lặng, lửng lơ cho thi phần càng thêm gợi cảm

Ở các câu thơ xuất thần:

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

Có hai cách ngắt nhịp khác hẳn nhau:

Sau lưng thềm/ nắng lá/ rơi đầy

Sau lưng/ thềm nắng/ lá rơi đầy

    Ngắt thơ theo cách thứ nhất thì tạo nên một vẽ đẹp kì lạ(nắng và lá cùng rơi); ngắt theo cách thư hai thì tạo nên một vẽ đẹp giản dị (chỉ có lá rơi đầy trên thềm nắng).

    Tùy thị hiếu nghệ thuật nhưng mà thích cách này hay cách kia. Những áng thơ hay thường gợi ra những cách hiểu không giống nhau nhưng mà vẫn hợp lí như thế.

    Cảnh thu ở đây là những ngày trước cách mệnh tháng tám. ” Người ra đi” là những chiến sĩ đang rời hà nội yêu giấu để lên chiến khu cách mệnh.

Mùa thu này ở việt bắc thì khác hẳn:

Gió thổi rừng tre phất phới

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha.

    Nhạc điệu thơ thay đổi: những câu thơ ngắn tạo nên một sự rộn ràng. Hình ảnh thơ trong trẻo, tươi sáng lạ thường. Có cảm tưởng như trời xanh hơn, cao hơn âm thanh như cũng vang xa hơn.

    Từ mùa thu mới, thi sĩ mới nghĩ về non sông:

Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

    Điệp ngữ “của chúng ta” nói lên niềm tự hào của con người lúc được làm chủ non sông. Người nào đã sống những năm dài dưới thời nô lệ mới hiểu hết nỗi đau xót, nhục nhã của người dân mất nước:

Giặc cướp hết non cao, biển rộng

Cướp cả tên nòi giống, tổ tiên

                              Tố Hữu

    Mở rộng tầm mắt nhìn về tám hướng phương trời, thi sĩ sung sướng reo lên:

Những cánh đồng thơm mát

Những ngả đường mênh mông

Những dòng sông đỏ nặng phù sa

    Điệp ngữ “những” như muốn khẳng định rằng nói bao nhiêu, kể bao nhiêu cũng ko hết cái đẹp, cái giàu của non sông thân yêu, giang sơn gấm vóc nghìn đời do tổ tiên ông cha để lại.

Thi sĩ còn lắng tai cả tiếng dội của lịch sử:

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về

    “Đất” tượng trưng cho sự vững bền. “Rì rầm” là âm thanh ko vẻ vang nhưng kéo dài ko dứt. Đó chỉ có thể là tiếng của ông cha từ nghìn xưa nhắc nhở con cháu hãy sống người hùng, quật cường.

    Sang đoạn thơ thứ hai, tác giả cảm nhận về non sông từ trong đau thương đứng lên tranh đấu và thắng lợi.

Mở đầu là những câu thơ gây căm thù:

Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều.

    Cánh đồng quê là hoán dụ để chỉ Tổ quốc. Thân thể Tổ quốc đang chảy máu vì bom đạn quân thù. Câu thơ nói về nỗi đau vật chất. Câu tiếp theo nói về nỗi đau ý thức. Bầu trời chiều êm đềm gợi lên một cuộc sống yên bình. Vậy nhưng mà giặc tới, dây thép gai tua tủa nơi đồn bốt chúng đâm nát tất cả. Sự man rợ của quân thù đã tới tột đỉnh. Đọc câu thơ tưởng như được xem một đoạn phim quay chậm làm nổi rõ những đường nét màu sắc tương phản, gây ấn tượng nhức nhối trong lòng độc giả.

    Hai câu tiếp theo là tâm trạng người chiến sĩ:

Những đêm dài hành quân nung nấu

Bỗng canh cánh nhớ mắt người yêu

    Hình ảnh đôi mắt người yêu như ngôi sao sáng trong trời đêm soi tỏ tuyến đường cho anh đi tới. Tình cảm riêng chung đã hòa làm một trong anh. Trước đây, trong bài “Nhớ”, Nguyễn Đình Thi cũng đã gợi lên điều đó:

Anh yêu em như anh yêu non sông

Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần.

    Những khổ thơ tiếp theo ca tụng non sông đã đứng lên kháng chiến. Đoạn thơ có những yếu tố chính luận làm cho tiếng nói trở thành rắn chắc:

Xiềng xích chúng bay ko khóa được

Trời đầy chim và đất đầy hoa

Súng đạn chúng bay ko bắn được

Lòng dân ta yêu nước thương nhà

    Quân địch đang thất bại vì bị bủa vây trong đại dương chiến tranh nhân dân. Và điều quan trọng nhất là chúng ta có những người người hùng kiểu mới, “những người áo vải” đang gánh cả cuộc đời kháng chiến trên vai. Họ có ba phẩm chất cao cả: Một là quật cường (Đã đứng lên thành những người hùng), hai là có nhiều suy nghĩ thâm thúy (Trán cháy rực nghĩ trời đất mới) và ba là sáng sủa cách mệnh (Lòng ta mênh mông ánh rạng đông).

Mấy cấu kết rất xuất sắc:

Súng nổ rung trời tức giận

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.

    Theo lời tác giả thì đoạn này được viết dựa vào một cảnh thực nhưng mà anh đã thấy ở chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trong tiếng đại bác dồn dập vang rền, chiến sĩ ta từ các hào chiến đấu đầy bùn đỏ ồ ạt xông lên như thác lũ xâm lăng những cứ điểm cuối cùng của giặc.

    Nhịp độ thơ ngắn, dồn dập như bước chân của người người hùng xung kích. Câu thơ cuối cùng đã phác họa ba tư thế tuyệt đẹp của chiến sĩ và cũng là tượng trưng cho dân tộc Việt Nam:

Rũ bùn: Vất bỏ quá khứ đau thương,

Đứng dậy: Kiên quyết xoá sổ quân thù,

Sáng lòa: Thắng lợi huy hoàng.

    Bài thơ đã tạo tác thành công một tượng đài hùng vĩ về non sông ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thơ Nguyễn Đình Thi mang một phong cách hiện đại: Liên kết xúc cảm và chính luận, vận dụng cả những thủ pháp của điện ảnh để gây ấn tượng, nhịp thơ phóng khoáng, hình ảnh thơ gợi cảm.

    “Non sông” là thi phẩm mang dáng dấp của một bản hùng ca có sức lay động mạnh mẽ tâm hồn độc giả. Nó là bài thơ tuyệt tác của thi ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp viết về đề tài non sông quê hương.

Bình giảng bài thơ Non sông của nguyễn Đình Thi – Bài mẫu 2


    “Non sông” là một bài thơ góp phần làm nên tên tuổi Nguyễn Đình Thi trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Bài thơ là lời tự bạch của tác giả về cả cảnh thu xưa và nay có sự thay đổi như thế nào, hay đó cũng là sự thay đổi của non sông ta trước sự xâm lược của thực dân Pháp nhưng vẫn đứng dậy đấu tranh để bao vệ độc lập. Thông qua đó, thi sĩ bộc bạch tình yêu non sông, lòng căm thù giặc, niềm tự hào, niềm tin son sắt vào tương lai tươi sáng của dân tộc và non sông.

    Nguyễn Đình Thi sáng tác bài thơ Non sông kể từ năm 1948 và hoàn thành vào năm 1955, sau thắng lợi Điện Biên Phủ. Bài thơ gồm hai phần. Phần đầu được tạo nên trên cơ sở những đoạn trích từ hai bài “Sáng mát trong như sáng năm xưa” (1948) và “Đêm mít tinh” (1949). Phần sau được viết năm 1955. Non sông được nhìn qua một ko gian – thời kì lạ mắt: mùa thu với mốc son lịch sử là sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945. Tuy được viết trong những thời kì không giống nhau nhưng cảm hứng thơ vẫn liền mạch và bài thơ là một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh.

    Bài thơ chia làm hai đoạn: đoạn thứ nhất từ đầu tới “…vọng nói về”, đoạn thứ hai là phần còn lại. Mạch xúc cảm và suy tưởng cũng là kết cấu cơ bản của bài thơ. Khởi đầu là xúc cảm về một sớm mùa thu ở chiến khu Việt Bắc gợi nhớ về mùa thu đã xa của Hà Nội. Hình ảnh mùa thu đó ko thể nào quên được, xúc cảm mùa thu xưa khiến tác giả nhớ về mùa thu hiện nay. Xúc cảm tăng lên, mở rộng về non sông trong đau thương, căm hờn đã vùng lên tranh đấu quật cường và thắng lợi vẻ vang: “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.”

    Bài thơ mở ra mở đầu bằng một sáng mùa thu hiện nay ở chiến lúc Việt Bắc, đó là một sáng thu tiết mát lành trong trẻo và thoảng thương hương cốm:

“Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Tôi nhớ những ngày thu đã xa”

    Cách mở đẩu rất tự nhiên, giản dị như một lời kể chuyện, một lời tâm tình, bộc bạch. Tác giả thấy buồi sáng “ mát trong” giống như buổi sáng “năm xưa”. Từ cái xúc cảm yên bình và thân thuộc đó thì đã cho thi sĩ chất “xúc tác” để nhớ lại kỉ niệm đó. Chỉ bằng vài nét gợi tả nhưng mà tác giả đã trình bày được ko gian, thời kì, màu sắc, hương vị của mùa thu: ko khí mát trong, gió thổi phảng phất mùi hương cốm mới, kết tinh của hương vị đất trời, cây cối mùa thu cái đặc trưng riêng của mùa thu Hà Nội đặc trưng là hương cốm mới:

“Ra đi nhớ cốm làng Vòng

Nhớ cau Nam Phổ, nhớ trầu chợ Dinh”

    Cái xúc cảm của mùa thu đó nó cứ quanh quẩn trong đầu khiến Nguyễn Đình Thi ko thể nào quên nổi.Vậy là tính hiệu mùa thu ko còn những hình ảnh ước lệ tượng trưng nư ngô đồng rụng, sen tàn, giếng ngọc,…nhưng mà là một vị dân gian đã thân thuộc từ nghìn đời.Câu thơ giản dị làm tăng cái ý nghĩa của sự thanh bình bình thường ấy. Và sự bình dị của đoạn đầu sẽ làm tăng sức biểu cảm của những hình ảnh tiếp theo:

“ Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

Những phố dài xao xác hơi may”

    Mùa thu là mùa nhạy cảm với thi nhân, có ko ít thi sĩ viết về mùa thu:

“ Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu nhỏ tẻo teo”

               (Nguyễn Khuyến)

    Hay trong “Thơ duyên” của Xuân Diệu cũng có viết:

“ Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá,

Thu tới – nơi nơi động tiếng huyền.”

    Tới với khổ thơ tiếp theo này thì nhịp độ chậm rãi, tràn đầy nhung nhớ. Nguyễn Đình Thi lại nhắc lại hình ảnh “sáng”. Nhưng ánh thu Hà Nội của hiện nay đẹp nhưng mà buồn, gợi bao sự thương nhớ. Cái lạnh giá mỗi lúc thu về vào buổi sáng sớm, cái rực rỡ ở đây là “lòng Hà nội”. Đó chính là chỉ ko khí của mùa thu đã đi sâu và từng con phố dài của Hà nội và sự liên kết với đảo gữ “ xao xác heo mây” – âm thnah nhẹ nhõm và từ láy “xao xác” tạo nên nỗi tâm tình đong đầy. Hình ảnh gió xao xác với con phố dài nó cuốn, thu hút con ta vào tận sâu thẳm.Về mặt ngữ nghĩa, những hình ảnh trên ko chứa đựng vẻ đẹp của Hà Nội, nhưng lúc đọc hai câu thơ ta vẫn cảm nhận được vẻ đẹp đắm sâu của thủ đô, trái tim của cả nước. Phải yêu Hà Nội, hiểu Hà Nội mới có thể cảm nhận được cái xao xác hơi may, cái chớm lạnh giữa thành phố này, yên ắng, trong lành, phảng phất những mơ hồ. Hình ảnh người ra đi lặng ngắt, trĩu nặng tâm tư tình cảm nhưng đầy kiên quyết dứt khoát.

    Đoạn thơ là bức tranh thu đượm buồn, nổi lên trên cái nền đó là hình ảnh người ra đi lặng lẽ, trĩu nặng tâm tư. Nét tâm trạng này cũng đã được ngân lên trong ca khúc rất nổi tiếng của nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn đã viết về Hà Nội:

“Người Hà Nội hôm nay ra đi

Mang theo mình bao nhiêu nỗi nhớ

Những ánh đèn qua ô cửa sổ

Bầu trời đêm cháy bỏng tình yêu.”

           (Hà nội – trái tim hồng)

    Có người nói, hình ảnh của Hà Nội đã thu lại trong câu thơ cuối: “thềm nắng lá rơi đầy”. Câu thơ đẹp và giàu sắc thái thẩm mĩ. Bức tranh thu Hà Nội thấm đầy nắng, gợi nên sắc thái quyến rũ trong tâm trí người ra đi. Nhưng có lúc làm sao nhưng mà đi nổi lúc một Hà Nội đẹp thế, quyến rũ như thế cứ níu chân chẳng cho đi, làm sao ko khỏi mềm lòng.

    Mùa thu đẹp đấy nhưng vì sao lúc thu sang con người ta lại thấy buồn?Có lẽ người ta sẽ quay đầu lại luyến tiếc, buồn bã lúc phải bỏ lại mãi mãi một vật, một nơi, hay một con người thân thiết đối với mình, nhưng lúc con người đó tin rằng sự ra đi đó chỉ là nhất thời và dự cảm được ngày trở về sẽ rất gần thì hoàn toàn ko cần thiết phải ngoảnh lại, phải lưu luyến. Đó là tâm lý hết sức tự nhiên của con người. Lớp trí thức trẻ đã có một niềm tin mãnh liệt vào ngày toàn thắng, hơn nữa ngày đó chắc chắn sẽ đến rất nhanh và họ sẽ có cơ hội trở về quê hương. Sự ra đi đầu ko ngoảnh lại ko chứa đựng sự lẻ loi, tuyệt vọng của sự ra đi trong “Tống biệt hành” của Thâm Tâm:

“Đưa người, ta chỉ đưa người đó

Một giã gia đình, một hững hờ…

– Ly khách!Ly khách! Trục đường nhỏ

Chí lớn ko về bàn tay ko”

nhưng mà nó chứa chan niềm tin vào một ngày mai tươi sáng. Chỉ trong 1 hình ảnh ấy, Nguyễn Đình Thi đã tạo nên một nềm tin vững mạnh. Và niềm tin đó đã được chứng minh bằng hiện thực CM sống động. Hoà bình trở lại và những người con nay lại trở về. Cảnh sắc tự nhiên đất nước thật tươi vui, sáng mát, như trẻ lại, như hồi sinh. Nếu mùa thu hồi trước xao xác gió hơi may buồn thì mùa thu nay gió đã chuyển mình thành cơn gió thổi rừng tre phấp phới, một cơn gió thu phóng khoáng và mạnh mẽ tưởng như chưa từng có trong thơ ca Việt Nam trước đây. Nếu năm xưa lá rơi đầy thềm nắng phố Hà Nội thì nay cả bầu trời thu Việt Bắc xanh biếc tươi vui Nguyễn Đình Thi đã tạo ra 1 niềm tin thật mãnh liệt.

“ Mùa thu nay khác rồi

Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi

Gió thổi rừng tre phấp phơi

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha”

    Mùa thu nay con người đang lặng lẽ giã từ những con phố dài hiu quạnh của Hfa nội tạm chiếm bya lượn giữa một ko gian thoáng rộng của núi đồi, của trời xanh mênh mông. Nếu mùa thu xưa bao chùm lầ nỗi buồn thì mùa thu nay là thú vui, sự thay đổi đó được kết bằng hình ảnh “ mùa thu tháy áo mới”. Câu thơ như một tiếng reo vui. Mùa thu với ngọn gió tự do, phóng khoáng đnag ồ ạt thổi. Mùa thu với tấm áo mới tươi đẹp,với ngọn gió mát lành mạnh mẽ đnag nô nức say mê trong thú vui lớn của cả dân tộc, của cả non sông.

    Mùa thu như được nhân hóa. Và người đọc cảm thấy mùa thu như một thiếu nữ điệu đà, thướt tha đang khoác tấm áo mới rạng rỡ, tươi tỉnh và dịu dàng. Phải chăng tấm áo đó là của sự độc lập, tự do của dân tộc.Cuộc sống đã thay đổi hoàn toàn. Ko chỉ mùa thu trong biếc mà chính cái hiện thực ấy, chính cái cuộc sống mới ấy thật đẹp, thật trong suốt. Và con người trong cuộc sống ấy đang tự do nói cười thiết tha trong nỗi vui mừng quê hương vừa được giải phóng, mùa thu năm 1945 cùng với sự ra đời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa.

    Từ xúc cảm về mùa thu non sông dẫn tới tình cảm mến yêu tha thiết và lòng tự hào về non sông, thi sĩ ngắm nhìn cảnh vật với tâm hồn phơi phới sáng sủa, yêu đời. Thú vui tràn trề lòng người, tràn trề đất trời. Đoạn thơ với nhịp độ rộn ràng, hào hứng và những hình ảnh xinh tươi, tươi mát đã trình bày vẻ đẹp muôn màu muôn vẻ của non sông thân yêu. Thi sĩ như reo như hát lên niềm hạnh phúc vô tận đó:

“Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơm mát

Những ngả đường mênh mông

Những dòng sông đỏ nặng phù sa”

    Nhịp thơ cuồn cuộn mãnh liệt khác hẳn sự tinh tế ở những khổ đầu. Hình ảnh nối tiếp hình ảnh, nhạc điệu rộn ràng, âm hưởng khoáng đạt, lời thơ trải dài như vô tận. Non sông của chúng ta, non sông với chiều dài, chiều rộng, chiều sâu và màu sắc dễ cảm. Điệp khúc “là của chúng ta” cứ ngân nga, vang vọng giữa đất trời, núi sông. Tất cả những gì thân yêu, thân thuộc trên non sông này đều là của chúng ta. Niềm tự hào làm chủ trời xanh, cánh đồng, núi rừng, dòng sông, làm chủ non sông. Còn gì sung sướng hơn, tự hào hơn bốn tiếng đó sau hàng trăm năm nô lệ, dân tộc ta phải đổ bao xương máu mới giành được quyền làm chủ. Cũng nguồn cảm hứng say sưa, dạt dào như thế, thi sĩ Tố Hữu đã thốt lên:

“Của ta trời đất hôm sớm

Núi kia, đồi nọ, sống này của ta!”

(Tung hô chiến sĩ Điện Biên).

    Từ việc cảm nhận non sông theo chiều ko gian với niềm tự hào được làm chủ non sông, tác giả chuyển sang cảm nhận non sông theo chiều thời kì với niềm tự hào truyền thống người hùng quật cường.

“ Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về”

    Nhịp thơ bỗng thay đổi, mang xúc cảm trầm lắng, ẩn chứa thái độ thành kính thiêng liêng, hướng người đọc trở về quá khứ lịch sử của quê hương.

    Lúc con người ta vui tươi, hoan hỉ về một thắng lợi thì bao giờ, sau đó cũng sẽ là những khoảnh khắc trầm tư suy nghĩ về cái giá của thắng lợi đó. Suốt chiều dài lịch sử bốn nghìn năm, trải qua bao phen chống ngoại xâm, có thắng có bại nhưng non sông này, dân tộc này chưa bao giờ khuất phục trước bạo lực của quân thù. Truyền thống quật cường đó truyền từ đời này sang đời khác. Thi sĩ lắng tai tiếng nói quật cường vọng lên từ lòng đất. “Đất”, qua tâm hồn thi sĩ và tâm hồn chúng ta, ko chỉ xanh tốt những vạt rừng, thơm mát những cánh đồng, mênh mông những ngả đường, đỏ nặng phù sa của những dòng sông nhưng mà còn “rì rầm” tiếng nói đấu tranh bao đời ko bao giờ tắt “ vọng nói về”. Câu thơ trở thành trang trọng, trầm lắng lúc nói tới tiếng vọng thiêng liêng của nghìn xưa rì rầm trong tiếng đất.

    Cũng với cảm nhận về non sông theo chiều dài truyền thống lịch sử Chế Lan Viên từng viết:

“Lúc Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc

Nguyễn Du viết Kiều, non sông hoá thành văn

Lúc Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc

Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng…”

                              (Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng)

    Từ những vần thơ đó đã làm sáng bừng lên chân lí trong thơ của Nguyễn Đình Thi

“ Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất”

    Có thể nói ít có hình ảnh nào trình bày nỗi đau thương tang thương của dân tộc và non sông trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lại cô đọng, súc tích và gây ám ảnh thâm thúy như những hình ảnh trong hai câu thơ:

“ Ôi cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều”

    Đạn bom quân thù cày nát mặt đất, triệt phá sự sống. Ánh hoàng hôn đỏ hắt xuống khiến những cánh đồng quê như chảy máu. Hàng rào dây thép gai quanh đồn bốt giặc tua tủa chĩa lên như muốn đâm nát trời chiều vốn yên ắng, bình yên. Cả hai chiều ko gian đều in đậm bóng vía sự tàn phá, chết chóc của chiến tranh. Từng chữ, từng câu thơ oằn nặng bởi xúc cảm đau thương, căm giận. Đọc thơ, người đọc như thấy trước mắt mình là cả hiện thực khốc liệt của những năm tháng khổ đau một cách tường tận và cụ thể. Ngòi bút của Nguyễn Đình Thi như một máy quay phim tài giỏi và đặc trưng tạo điều kiện cho người đọc trông thấy một bức tranh ngập đầy máu của chiến tranh. Trên cái nền hiện thực đó thì người chiến sĩ:

“Những đêm dài hành quân nung nấu

Bỗng canh cánh nhớ mắt người yêu”

    Đó là tâm trạng cháy bỏng mến thương nhân dân và “nung nấu” căm hờn quân cướp nước. Mối căm thù sục sôi trong tim, thôi thúc những đêm dài hành quân ko nghỉ. Mối căm thù dồn lên mũi lê, đầu súng nhằm thẳng quân thù. Nhưng chính lúc đó cũng nhấp nhoáng hiện lên trong nỗi nhớ “đôi mắt” của “người yêu” hy vọng khiến tâm hồn chiến sĩ ta canh cánh, xao xuyến.

    Hay nhất trong phần sau của bài thơ có nhẽ là khổ thơ này. Phải là người từng trải, có vốn sống phong phú và trái tim dạt dào tình cảm nhân ái thì tác giả mới có cách diễn tả tự nhiên về sự hài hòa giữa tình cảm riêng chung, giữa tình yêu lứa đôi và tình yêu non sông của người chiến sĩ.

    Và ở khổ thơ tiếp, Nguyễn Đình Thi đã lí giải sâu xa về sức sống, ý thức ý chí tranh đấu của người dân:

“Từ những năm đau thương tranh đấu

Đã ngời nên nét mặt quê hương

Từ gốc lúa bờ tre phúc hậu

Đã bật lên những tiếng căm hờn”

    Câu thơ ngắt nhịp khỏe, rắn rỏi, trình bày thâm thúy niềm tự hào, tự hào của tác giả về sức sống và vẻ đẹp của cả dân tộc. Từ “ngời” và “bật” được dùng rất hay, sự trỗi dậy, hồi sinh kỳ diệu, sự tỏa sáng, sức sống của dân tộc. Nguyễn Đình Thi đã sáng tạo 1 bài thơ hết sức đặc biệt lúc cảm xúc trong bài thơ ko chảy theo 1 nhịp thống nhất mà liên tục biến đổi. Ta biết rằng: thơ 7 chữ thì biểu lộ cảm xúc cá nhân, thơ 5 chữ thì cảm xúc mỏng hơn và thiên về nhịp điệu, thơ 6 chữ thì được sử dụng nhẳm khẳng định 1 ý tưởng. Trong bài thơ này, thơ 6 chữ được tác giả sử dụng đạt hiệu quả rất cao.

“Bát cơm chan đầy nước mắt

Bay còn giằng khỏi mồm ta

Thằng giặc Tây thằng chúa đất

Đứa đè cổ đứa lột da”

    Nỗi đau xót như thấm sâu vào từng câu, từng chữ, từng hình ảnh tiêu biểu tạo nên ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc. Đặc trưng hình ảnh “Bát cơm chan đầy nước mắt”, “Bay còn giằng khỏi mồm ta” nói lên tột cùng tội ác của quân thù và tột cùng sự tủi cực của nhân dân ta trong vòng nô lệ. Cách xưng hô đối lập giữa một bên là chính nghĩa: ta, cùng với một bên là sự phi nghĩa: bọn thằng, đứa… như bao căm thù và uất hận được dồn lại. Ngôn ngữ giản dị như khẩu ngữ truyền tải nội dung căm hận sâu sắc, cực tả sự áp bức bóc lột dã man đến tận xương tuỷ của bọn giặc xâm lược cùng bọn địa chủ tay sai đang thống trị từng ngày trên nước mắt, mồ hôi của nhân dân. Cắt ngắt nhịp (2 câu đầu là 2/2/2, 2 câu sau là 3/3) thể hiện sự đau uất, căm hờn.

“Xiềng xích chúng bay ko khóa được

Trời đầy chim và đất đầy hoa

Súng đạn chúng bay ko bắn được

Lòng dân ta yêu nước thương nhà”

    Nhịp thơ mạnh mẽ, gang thép làm cho câu thơ trở thành giàu sức biểu tượng. Sự đối lập giữa hai hình ảnh thơ “xiềng xích” và “trời đầy chim, đất đầy hoa” đã trình bày ý thức sáng sủa của nhân dân, khí phách người hùng của dân tộc bất chấp sự tàn khốc của chiến tranh và quân thù. Trình bày sự tin tưởng vào thắng lợi sau này. Nỗi đau đớn xót xa hoà lẫn lòng căm thù ngùn ngụt khiến đoạn thơ có sức truyền tải và tố cáo mãnh liệt, lột tả rõ nét nguyên nhân cho sức mạnh vùng lên của dân tộc.

“Khói nhà máy cuộn trong sương núi

Kèn gọi quân vang vọng cánh đồng

Ôm non sông những người áo vải

Đã đứng lên thành những người hùng”

    Hình ảnh độc đáo, sáng tạo thể hiện ko lúć sôi động, sùng sục của nhân dân trong kháng chiến. Núi rừng trước kia chỉ có sương núi, nay đã thấy khói nhà máy cuộn ko gian, cánh đồng trước kia chỉ có tiếng mõ nay đã nghe văng vẳng những tiếng kèn gọi quân. Hai hình ảnh sóng đôi rất ý nghĩa: một xây dựng đất nước ở miền Bắc, một bảo vệ đất nước ở miền Nam. 2 miền đất nước dẫu bị ngăn cách nhưng dường như vẫn đang cùng 1 nhịp thở. Từ thực tiễn kháng chiến gian nan và hào hùng, Nguyễn Đình Thi đã viết nên những câu thơ nói chung về sự mất mát, hi sinh của non sông cùng quyết tâm giành lại chủ quyền độc lập tự do của dân tộc ta. cả dân tộc kết đoàn thành một khối thống nhất, trán đẫm mồ hôi và mắt ngời hi vọng, rắn rỏi mạnh mẽ bước tới tương lai:

“Ngày nắng đốt theo đêm mưa giội

Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh

Trán cháy rực nghĩ trời đất mới

Lòng ta mênh mông ánh rạng đông”

    Nơi vùng núi Thượng Lào với ban ngày nắng như thiêu đốt và đêm đến lại những cơn mưa ào ào như thác đổ, tự nhiên khắc nghiệt dễ sinh bệnh tật đau ốm, nhưng người lính đã vượt qua tất cả những gian khổ đó. “Cháy rực”, “bát ngát”, “trời đất mới”, “bình minh”… là những hình ảnh kỳ diệu mà quê hương họ sẽ đến và phải đến. Nơi ấy có tự do, có niềm vui, có những cánh đồng bát ngát, có những dòng sông đỏ nặng phù sa, nơi ấy là nơi con người tự do mến thương và sống bên nhau. Nhân dân ta đứng dậy giữ nước ko chỉ bằng sức mạnh tình cảm nhưng mà còn bằng sức mạnh lí trí, có ánh sáng cách mệnh soi dường và niềm tin vào tương lai tươi sáng.

“Súng nổ rung trời tức giận

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.”

    Âm hưởng hào hùng, sảng khoái của đoạn thơ được tạo nên từ thể thơ sáu chữ với tiết tấu nhanh, mạnh, dồn dập cùng với hàng loạt hình ảnh đậm chất người hùng ca lấy từ thực tiễn của chiến trường Điện Biên Phủ thảm khốc nhưng mà thi sĩ đã trực tiếp tham gia và được tận mắt chứng kiến: “Tổ trông thấy các anh – Nguyễn Đình Thi kể – mình mẩy đầy bùn, nhưng lúc nhảy lên trên mặt đất, các anh hiện lên chói lòa trong ánh nắng”. Tác giả đã tạo nên hình tượng thơ xinh tươi, hào hùng từ hình ảnh rất chân thực: trong máu lửa, bùn lầy, giữa tiếng đại bác rền vang rung trời chuyển đất, chiến sĩ ta từ các hào chiến đấu ồ ạt xông lên như nước vỡ bờ. Hình ảnh của họ nổi lên trên nền trời như một tượng đài kì vĩ của chủ nghĩa yêu nước và người hùng cách mệnh.

    Tới tận cuối bài thơ, tác giả mới gọi tên Việt Nam với sự tự do, tự chủ, sự tự hào. Ông cảm thu được hình ảnh non sông trong lòng.

    Từ máu lửa và bùn đen đã bật dậy và sáng lòa, rực rỡ huy hoàng. Câu thơ giàu trị giá biểu tượng và tính nói chung, cùng với tính nghệ thuật rất cao. Nhịp thơ 2/2/2. Vận động khỏe khoắn, sự vươn lên của dân tộc bởi một sức sống kì vĩ và bất tử.

    Bài thơ kết thúc bằng ánh sáng, trình bày niềm tin và khát vọng mạnh mẽ, vinh quang. Non sông đã ghi lại và vẽ nên một hình ảnh non sông Việt Nam với bao thăng trầm, khói lửa để tới được ngày độc lập. Non sông xứng đáng dược coi là cuốn biên niên sử nước ta bằng thơ. Đây là sự liên kết thuần thục giữa sử thi và thông minh nghệ thuật tài năng của Nguyễn Đình Thi.

Bình giảng bài thơ Non sông của nguyễn Đình Thi – Bài mẫu 3

    Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đa tài trên văn đàn Việt Nam. Ông ko chỉ đóng góp to lớn cho nền thơ ca Việt nhưng mà còn cho cả nền âm nhạc nước nhà với bài hát Người Hà Nội vô cùng nổi tiếng. Trong sự nghiệp thơ ca của mình, ông để lại tác phẩm nổi tiếng nhất là bài thơ Non sông. Bài thơ được viết trong tám năm ròng, đó là những cảm nhận về non sông Việt Nam tươi đẹp, giàu có, trải qua những năm tháng đau thương đã quật cường đứng lên tranh đấu với sức mạnh phi thường. Qua đó, cũng trình bày hi vọng về một tương lai tươi sáng, rạng rỡ của dân tộc Việt Nam – “những người áo vải”.

    Bài thơ Non sông được ra đời gắn liền với chiều dài lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai của quân và dân ta. Tuy bài thơ chỉ có bốn mươi chín dòng thơ ngắn ngủi nhưng trong đó là kết tinh của xúc cảm, trải nghiệm của tác giả trong tám năm dài. Chính vì thế, bài thơ hòa quyện bởi sư sâu lắng suy tư, nhưng cũng chứa chan niềm hoan hỉ tự hào về dân tộc ta, non sông ta.

Mở đầu bài thơ, Nguyễn Đình Thi viết:

“Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới”

    Non sông là tác phẩm được hòa quyện bởi hai tác phẩm khác của Nguyễn Đình Thi là “Sáng mát trong như sáng năm xưa” và tác phẩm “Đêm mít tinh” có nhẽ chính vì vậy, mở đầu bài thơ ông đã giới thiệu như thế. Ko khí mùa thu phảng phất ngây ngất ngay từ những dòng trước tiên, đây hẳn là mùa thu của Hà Nội trong tâm trí ông bởi lúc đó ông đang công việc trên chiến khu Việt Bắc. Là người con của Hà Nội, vậy nên ông nhớ nhất là những buổi sáng mùa thu trong mát, với gió hiu hắt thổi, ko khí se se lạnh. Ở đây, Nguyễn Đình Thi đã đặt một phép so sánh “sáng mát trong như sáng năm xưa”. “Năm xưa” là những năm Hà Nội trước thời chiến, hay là năm xưa của mùa thu lịch sử lúc Hồ Chủ tịch đứng trước quảng trường Ba Đình đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập? Dù là năm nào thì đó cũng là một mùa thu trong mát, thật êm dịu, mát lành trong tâm trí của thi sĩ. Và trong làn gió đó, phảng phất hương cốm thơm, mùi hương đặc trưng nhất của thu Hà Nội. Người nào cũng biết, Hà Nội vào thu nổi tiếng nhất là món cốm làng Vòng, xanh mát và thơm nồng. Cái hương cốm mới đó quyện lại làm nên hương vị đặc trưng rất riêng của mùa thu Hà Nội. Cũng cũng suy nghĩ như thế, nhưng Hữu Thỉnh lại nhớ mùa thu trong hương ổi nồng nàn:

“Bỗng trông thấy hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương dùng dắng qua ngõ

Hình như thu đã về”

    Mỗi người thi sĩ đều có cách cảm không giống nhau, nhưng Nguyễn Đình Thi thật đặc trưng, bởi ông cảm thấy nó, cảm thấy mùa thu đó, hương cốm đó trong tâm trí của mình. Có thể nói rằng chính tình yêu Hà Nội tha thiết đã khiến ông không thể nào quên được những đặc trưng riêng của quê hương mình, rộng hơn là non sông mình.

    Trong đoạn thơ này, ông cũng rất đặc trưng sử dụng nghệ thuật “đồng hiện”, tái tạo quá khứ và hiện nay trong cũng một đoạn thơ. Bên trên là hiện nay thì ngay ở bên dưới, quá khứ trong suy tưởng của ông đã xuất hiện:

“Tôi nhớ những ngày thu đã xa

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

Những con phố dài xao xác hơi may”

    Cả một bầu trời kỉ niệm cuộn trào trong tâm trí ông, tất thảy đều là hình ảnh của mùa thu Hà Nội. Ông nhớ những ngày đầu thu Hà Nội, trong cái ko khí se se lạnh, gió hiu hắt, bước chân trên những con phố dài, lòng người lộn lạo biết bao xúc cảm suy tư. Mùa thu Hà Nội thật đẹp và phải là người tinh tế mới trông thấy nét đẹp đó từ những con phố dài cổ truyền, dưới những tán lá cao, trong cái khí “chớm lạnh” se của đất trời. “Chớm lạnh” chứ chưa phải lạnh, nó là cái ko khí đặc trưng nhất của mùa thu. Nguyễn Đình Thi đã thật tinh tế lúc chọn từ này bởi cái lạnh mới chớm kia mới gợi ra cho lòng người biết bao nỗi nhớ, se sắt nhưng mà đầy hoài niệm. “Hơi may” là một từ Hán Việt, được Nguyễn Đình Thi khôn khéo đặt ở trong câu thơ và nghĩa của nó là gió lạnh. Nghe từ “gió lạnh”, người ta thấy cả mùa đông, nhưng “hơi may” lại khiến người ta trông thấy cái cảm giác bình yên, nhẹ nhõm của mùa thu trong mát. Và cái “hơi may” đó đang xao xác trên “những con phố dài”. “Xao xác” là từ tượng thanh, thường dùng để chỉ âm thanh của lá rơi. Nhưng ở đây, tác giả đã đặc cách sử dụng nó để tả “hơi may” của mùa thu, làm cho chúng ta phải ngỡ ngàng. Mùa thu ko chỉ xuất hiện hình khối, màu sắc, nhưng mà còn có cả âm thanh nữa.

    Nhớ mùa thu Hà Nội da diết là thế, nhưng việc ra đi là điều không thể tránh khỏi, vậy nên, kết lại khổ thơ thứ nhất, Nguyễn Đình Thi viết:

“Người ra tiên phong ko ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”.

    Đó là lòng quyết tâm của một người con Hà Nội, yêu quê hương tới cháy lòng. Yêu quê hương, yêu non sông nên mới quyết tâm ra đi “ko ngoảnh lại”. Biết là lưu luyến đấy, nhưng chí lớn của non sông vẫy gọi, sao có thể ko ra đi chứ? Đó là nỗi ngập ngừng giữa lý trí và tình cảm trong lòng những lứa trí thức ra đi vì non sông, lòng người ly biệt vẫn đầy những luyến lưu với quê hương, với cả mùa thu nữa. “Đầu ko ngoảnh lại” trình bày một quyết tâm kiên cường, để lại đằng sau lưng là những nỗi thương nhớ da diết, khôn nguôi. Nhịp thơ ở đây thật nhẹ nhõm, nhưng sau đó là biết bao xâu xé của nội tâm, để tới cuối cùng, họ vẫn quyết tâm bỏ lại cái tôi ở lại, ra đi vì non sông thân yêu của mình.

    Đoạn thơ trước tiên được viết trong nỗi nhớ Hà Nội, trong tâm tưởng của thi sĩ. Đó là sự hoài niệm về quá khứ với bao mến thương, say mê. Thế nhưng, ko đắm chìm mãi trong tưởng nhớ suy tư, Nguyễn Đình Thi trở lại với hiện nay với thú vui phơi phới, với mùa thu của chiến khu Việt Bắc:

“Mùa thu nay đã khác rồi

Tôi đứng nghe vui giữa núi đồi

Gió thổi rừng tre phất phới

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha”

    Vừa mới hoài niệm về một mùa thu Hà Nội với bao nỗi niềm thế nhưng mà ngay câu thơ thứ hai, Nguyễn Đình Thi đã khẳng định “mùa thu nay đã khác rồi”. Đó là một lời khẳng định cứng ngắc của thi sĩ về mùa thu của non sông đã thay đổi. Nhịp thơ ở đoạn này nhanh hơn, mạnh mẽ và rộn ràng hơn. Nó như một khúc ca tụng ca vậy bởi “khác” ở đây ko chỉ là mùa thu nhưng mà còn là tâm thế, vị thế của con người nữa. Chẳng thế nhưng mà ông đã ngân nga, vui sướng giữa đất trời:

“Tôi đứng nghe vui giữa đất trời”

    Ba động từ liên tục “đứng nghe vui” được đặt cạnh nhau trong một câu thơ, người ta mới thấy cái rộn ràng vui sướng của tác giả dường như đã lây sang cả người đọc chúng ta. Ba động từ liền sát, trình bày sự tập trung cao độ vào một hướng duy nhất “đất trời” – hay chính là non sông quê hương ta. Non sông hiện lên trong thú vui rộn ràng, thế nên không thể thiếu được hình ảnh của những cây tre thân thuộc – loài cây biểu tượng của non sông ta. Cây tre đó như Nguyễn Duy đã nói:

“Tre xanh

Xanh tự bao giờ

Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh”

    Phải, hình ảnh đó là vô cùng thân thuộc với mỗi con người Việt Nam. Bởi nó là biểu tượng cho ý chí kiên cường của con người, của dân tộc ta, luôn vươn dậy mạnh mẽ. Từ “phất phới” được đặt ở đây mang một ý nghĩa thật đặc trưng. Bởi nó thường để tả những vật có kích thước nhỏ, mỏng và dẹp, nhưng Nguyễn Đình Thi lại nói “gió thổi rừng tre phất phới”. Phải chăng sau rừng tre xanh đó là lá cờ Tổ quốc đang tung bay trong gió thu se lạnh?

    Và hơn thế nữa, trời thu ở đây chẳng còn xám xịt, mang vẻ rầu rĩ lặng lẽ như những ngày còn ở “những con phố dài” Hà Nội nữa. Mùa thu đã “thay áo mới”, khoác trên mình tấm áo”xanh lè” thiết tha. Bầu trời thu thay đổi hay là vì tâm thế con người thay đổi đã khiến mùa thu có thêm sắc màu rực rỡ? Những âm thanh “nói cười” cũng rộn ràng biết bao nhiêu. Ko khí thu chẳng còn “hơi may” se lạnh nữa, nó ấm áp hơn, trời thu trong xanh, cao rộng hơn, con người cũng hoan hỉ hơn. Bởi giờ đây chúng ta đã làm chủ non sông, đã được tự do rồi.

    Tiếp sau, Nguyễn Đình Thi trình bày sự tự hào của mình trong thú vui hoan hỉ, tự hào về một non sông giàu đẹp với “trời xanh”, “núi rừng”, “những cánh đồng thơm ngát”, “dòng sông đỏ nặng phù sa”. Tác giả đã liệt kê một loạt những hình ảnh giàu đẹp của quê hương để trình bày thú vui được làm chủ non sông, khẳng định ý thức về quyền làm chủ quê hương. Điệp từ “đây”, “của chúng ta” được lặp lại liên tục như một lời khẳng định vững chắc, non sông này là của chúng ta, của dân tộc ta.

“Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơm ngát

Những ngả đường mênh mông

Những dòng sông đỏ nặng phù sa”

    Đọc tới đây, chúng ta hẳn thấy được tính sử thi đậm nét trong đoạn thơ này. Tác giả đã mượn lời của nhân dân để khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc. Và giờ đây, với tâm thế của một kẻ tự do, nhân vật trữ tình đang ngửng cao đầu tuyên bố sự tự do dân chủ đó. Hình ảnh đó chúng ta cũng bắt gặp một vài lần trong thơ ca Việt, đặc trưng trong tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi. Ta ko thể quên những lời tuyên bố gang thép của ông:

“Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông lãnh thổ đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu Đinh Lý Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”

    Trong thú vui tự hào đó, tác giả đã trầm ngâm suy tư về truyền thống của dân tộc ta từ bao đời nay. Với bốn nghìn năm lịch sử dựng và giữ nước, dân tộc đã đã làm nên nhiều trang sử người hùng. Nhịp thơ ở đây cứ chậm rãi như suy tư suy tưởng:

“Nước chúng ta

Nước những con người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về”

    Chúng ta, một dân tộc chân lấm tay bùn, cuộc sống vất vả, lam lũ là thế nhưng chúng ta “chưa bao giờ khuất”. Sau lớp bùn nâu là một trái tim yêu nước nhiệt thành, sẵn sàng hi sinh vì non sông non sông. Lớp này ngã xuống, lớp khác sẽ đứng lên, chưa bao giờ chúng ta chịu khuất phục trước bất kì quân thù nào. Truyền thống đánh giặc của dân tộc ta được truyền qua bao thế hệ, từ những thời bà Trưng bà Triệu, tới buổi ba lần dẹp quân Mông – Nguyên, có hy sinh, gieo neo trong quá khứ mới có được ngày hôm nay. Những lời nói của ông cha dạy bảo “đêm đêm” cứ vang vọng lên “vọng nói về” từ trong “tiếng đất”, gợi nhắc chúng ta về truyền thống người hùng của dân tộc cũng như đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.

    Thế nhưng giờ đây, non sông chúng ta đang bước vào thời kỳ nguy nan, những “cánh đồng thơm ngát” đang bị quân thù giày xéo tới “chảy máu”. Những hình ảnh về chiến tranh thật đau thương biết mấy:

“Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều”

    Chẳng còn mùa thu yên bình dịu dàng như trước, non sông đang rơi vào khổ đau. Bức tranh buổi chiều của Nguyễn Đình Thi vẽ lên sao nhưng mà ám ảnh thế! “Những cánh đồng quê chảy máu” – ánh mặt trời rọi xuống ko gian một màu đỏ ối, nhuộm đỏ cả cánh đồng chiều hôm, Đây là một buổi chiều được vẽ lên trong buổi hành quân. Sự nhân hóa đó như muốn nói lên sự tang thương, sự đớn đau của mỗi miền quê Việt đang phải oằn mình trong chiến tranh. Biết bao máu xương sẽ phải đổ xuống để giành lại được độc lập đây? Rồi “Dây thép gai đâm nát trời chiều” – quả là một hình ảnh ám ảnh. “Dây thép gai” – thứ nhưng mà quân xâm lược dựng lên để chống lại quân và dân ta, đó là biểu tượng của chiến tranh, của khổ đau. Những sợi dây thép tua tủa đó đâm thẳng vào bầu trời chiều, “đâm nát” cả trời chiều êm đềm, nó gợi lên sự đau thương nhưng mà chiến tranh gây ra cho quê hương Việt Nam. “Đâm nát” là một động từ mạnh, trình bày sự tàn bạo, man di liên kết với nghệ thuật nhân hóa càng làm cho hình ảnh non sông thêm đau thương. Chúng ta cảm nhận thấy ở đây có một sự căm hờn tới nghẹn ngào.

    Thế nhưng, trong những buổi hành quân đó cũng có chút thi vị để át đi cái đau thương đang hiện hữu. Một tẹo bâng khuâng, nhớ nhung “mắt người yêu” làm cho lòng người chiến sĩ thêm dư vị ngọt ngào, để khiến anh thêm động lực lên đường tranh đấu. Nhắc tới người yêu, tưởng như là chuyện riêng tư đó, thế nhưng cái tình yêu lứa đôi đó đã hòa quyện trong tình yêu lớn của non sông, chuyển hóa thành hành động khiến chàng trai có thêm niềm tin yêu, động lực để tranh đấu vì mục tiêu chung của non sông.

“Những đêm dài hành quân nung nấu

Bỗng canh cánh nhớ mắt người yêu”

    Người ta cũng đã từng bắt gặp nỗi niềm tương tư đó trong một bài thơ khác cũng của một người con Hà Nội – đó là chàng trai Quang Dũng trong “Tây tiến”:

“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

    Đọc tới đây, người đọc chợt nhận thấy cái sức mạnh tranh đấu đang dần mạnh mẽ lên gấp bội bởi sự căm hờn lũ giặc ngoại xâm, tình yêu lứa đôi, tình yêu non sông đã quyện lại trở thành động lực xúc tiến người chiến sĩ:

“Từ những năm đau thương tranh đấu

Đã ngời lên nét mặt quê hương

Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu

Đã bật lên những tiếng căm hờn”.

    Lũ giặc cướp nước đã dày xéo quê hương ta, nhân dân đã đã trải qua bao năm tháng tranh đấu, chống lại quân thù. Những nỗi đau xót nhưng mà quân thù gây nên đã khiến những gì hiền hòa nhất, “hồn hậu” nhất cũng phải “bật lên nỗi căm hờn” khôn xiết. Ở đây, Nguyễn Đình Thi đã liệt kê một loạt những hành động tội ác của quân thù:

“Bát cơm chan đầy nước mắt

Bay còn giằng khỏi mồm ta

Thằng giặc Tây, thằng chúa đất

Đứa đè cổ, đứa lột da…”

    Những hình ảnh gợi tả đó thật khiến chúng ta day dứt. Cuộc sống của người nông dân dưới giai cấp thống trị tàn bạo của quân thù thật khiến người ta phải căm hờn. “Thằng giặc Tây, thằng chúa đất” – những kẻ tàn bạo xâm lược, lũ bán nước và lũ cướp nước đang dày xéo quê hương ta, làm khổ đau nhân dân ta.

    Vậy nên trong cái gieo neo, cái đau xót đó, dưới sự tàn bạo, độc ác đó của quân thù đã tôi rèn lên những người người hùng, tôi rèn lên lòng yêu nước mạnh mẽ:

“Xiềng xích chúng bay ko khóa được

Trời đầy chim và đất đầy hoa

Súng đạn chúng bay ko bắn được

Lòng dân ta yêu nước thương nhà

Khói nhà máy cuộn trong sương núi

Kèn gọi quân vang vọng cánh đồng

Ôm non sông những người áo vải

Đã đứng lên thành những anh hùng”.

    Lời khẳng định cứng ngắc của Nguyễn Đình Thi trước sự tàn bạo của quân thù. Chúng bay có thể cướp được đất, được ruộng, thóc lúa của chúng ta, nhưng chúng bay sẽ không thể khóa được cánh chim tự do của dân tộc ta, khóa được hoa thơm của dân tộc ta. Chúng ta có thể giết mổ được dân ta nhưng ko thể nào giết mổ được “lòng dân ta yêu nước thương nhà”. Chúng bay chỉ khiến dân tộc ta thêm căm hờn, thêm yêu nước, cho chúng ta thêm động lực để vươn dậy thành “những người hùng”. Nguyễn Đình Thi đã khắc họa hai bức tranh tương phản giữa tội ác man di của giặc và sức sống mãnh liệt của dân tộc ta, từ đó ông khắc họa rõ nét hơn phẩm chất người hùng của dân tộc, non sông ta. Qua đó, ông cũng muốn khẳng định chân lý rằng: Sự tàn bạo của quân thù ko thể xoá sổ được tình yêu, khát vọng sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam nhưng mà chỉ góp phần tôi rèn chúng ta trở thành những người người hùng.

    Tội ác của quân thù gây nên chỉ khiến chúng ta có thêm sức mạnh, động lực để gây dựng lên một tương lai tràn đầy tự do và hạnh phúc. Tương lai đó, ngày mai đó được dựng lên từ chính hôm nay, những gian lao sẽ được bù đắp:

“Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội

Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh

Trán cháy rực nghĩ trời đất mới

Lòng ta mênh mông ánh rạng đông”

Đọc bài thơ nhưng mà ta cảm thu được, những người người hùng đã làm nên độc lập chính là những người áo vải. Họ là những người vô danh, nhưng vì tình yêu Tổ quốc đã góp sức cả xương máu của mình cho độc lập tự do của non sông. Thi sĩ cũng khẳng định: “Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh”, phải hi sinh, phải mất mát thì mới có được tự do, mới trân trọng sự tự do đó. Tuy là mất mát đấy, đau thương hi sinh đấy, nhưng họ vẫn luôn hướng về một “trời đất mới”, nơi nhưng mà “mênh mông ánh rạng đông”. Đêm tối khổ đau sẽ lùi dần về phía sau, trước mắt chúng ta sẽ là một chân trời mới rực sáng màu “rạng đông”.

Kết lại bài thơ, chúng ta bắt gặp một hình ảnh vô cùng hoành tráng:

“Súng nổ rung trời tức giận

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”.

     Đây như lời mô tả cuộc tổng tiến công của quân đội nhân dân Việt Nam, nơi súng đạn và những người chiến sĩ đang tiến lên giành lấy tự do, nơi âm vang cuối cùng của trận chiến. Để tới cuối cùng kết lại là một hình ảnh tươi sáng, rực rỡ hơn bao giờ hết. Nước Việt Nam ta kết thúc chiến tranh, bước ra “từ máu lửa” đau thương nhưng sẽ “rũ bùn” để “đứng dậy sáng lòa”, trở thành một non sông độc lập tự do, giàu mạnh. Hai hình ảnh thơ đối lập “máu lửa – sáng lòa”, đó là lời kết đầy khẳng định về hình ảnh con người Việt Nam hiên ngang, quật cường.

     Bài thơ được viết trong suốt tám năm, suốt chặng đường quân và dân ta đang đứng lên chống thực dân Pháp trở lại, vậy nên nó có một sức nói chung vô cùng lớn. Nói chung hình ảnh con người dân tộc Việt Nam suốt cuộc kháng chiến, có đau thương, có mất mát, nhưng cũng có người hùng quật cường, hướng tới tương lai. Ngôn từ trong bài thơ cũng mang tình súc tích và giản dị. tác giả đã thổi vào mỗi từ ngữ trong bài thơ một nỗi lòng của mình, một tình yêu nước sâu nặng. Cũng phải kể tới sự linh hoạt trong ngôn từ, cách diễn tả, sự chuyển đổi tinh tế xúc cảm giữa các dòng thơ đã góp phần tạo nên thành công cho bài thơ này.

     Bằng nỗi lòng tràn đầy tình yêu và xúc cảm, với một hồn thơ tinh tế xúc cảm, Nguyễn Đình Thi đã vẽ lên hình tượng non sông từ những hình ảnh vô cùng thân thuộc. Đó là một non sông êm đềm, yên bình, chịu những đau thương của chiến tranh nhưng vẫn quyết tâm, kiên cường, quật cường giành lại tự do, hướng tới một tương lai tươi sáng. Hình ảnh non sông đó khiến chúng ta ko thể nào quên.

Trên đây là một số bài văn mẫu Bình giảng bài thơ Non sông của nguyễn Đình Thi nhưng mà giainhat.vn đã biên soạn. Kỳ vọng sẽ giúp ích các em trong quá trình làm bài và ôn luyện cùng tác phẩm. Chúc các em học tốt môn Văn!

Đăng bởi: giainhat.vn

Phân mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

[rule_{ruleNumber}]

Source: giainhat.vn
Categories: Giáo dục

Viết một bình luận